Đối với thánh Augustinô Đông sứ mệnh loan báo Tin Mừng là một
nhiệm vụ cao cả nhất. đặc biệt cho những vùng truyền giáo xa
xôi. Sau khi học triết học và năm thứ nhất thần học, thày
Augustinô Đông cảm thấy Chúa kêu gọi mình đi truyền giáo nên xin
phép ba mẹ chuyển qua hội Thừa Sai Paris. Thời gian đó, những
tin tức về công cuộc truyền giáo ở Đông Nam Á gởi về không được
sáng sủa. Đi truyền giáo như đi vào cỏi chết. Do đó song thân
thày cố sức ngăn cản. Ông bà nói nhiều lời nặng nề khiển trách
con không vâng lời. Augustinô Đông đắn đo nhiều nhưng căn cứ vào
lời Chúa: “Ai yêu cha mẹ hơn thày thì không đáng làm môn đệ
thày.” (Mt.10,37). Augustinô Đông quyết định gia nhập hội Thừa
Sai Paris dù cha mẹ không đồng ý. Khi đó thày viết thư cho một
người bạn: “Than ôi, để theo chân Chúa Giêsu vất vả quá, vướng
đường nọ mắc đường kia”. Người bạn đó nhắn nhủ: “Việc giảng đạo
là việc quan trọng, nếu tự ý làm mà không được Chúa gọi thì nguy
cơ mất linh hồn đó”. Thày trả lời: “Xin đừng quên lời Kinh
Thánh: Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người ta.”
Gia nhập hội Thừa Sai ngày 09-10-1846 thì ngày 29-05-1847, thày
Augustinô Đông được thụ phong linh mục. Sau đó được gởi đến giáo
phận Tây Đàng Ngoài. Khi rời đất Pháp ngài đã nói: “Tôi không
biết điều gì sẽ xảy đến với tôi, nhưng điều tệ nhất có thể đến,
đó là phải chịu một nhát gươm... Nhưng tôi tin rằng người tội
lỗi như tôi sẽ chẳng đáng được ơn trọng ấy”.
Đức Cha Retordd Liêu, vui mừng đón tiếp giữ cha lại trụ sở học
tiếng và phong tục Việt Nam, rồi cho cha tháp tùng trong các
cuộc kinh lý để hiểu rõ tình hình hơn. Sau đó cử cha lên coi xứ
Đoài. Trong nhiệm sở mới cha Đông tích cực làm việc mục vụ và
truyền giáo, số người trở lại ngày càng nhiều. Khi vua Tự Đức ra
chiếu chỉ cấm đạo năm 1848, cha nói: “Kỳ này trong chúng tôi thế
nào cũng có kẻ bị chém, chớ gì người đó là tôi.” Thế nhưng cha
vẫn an toàn làm việc trong ba năm.
Ðức Cha Retord (Liêu) viết về cha như sau: "Tôi không được
biết thuở thiếu thời của Cha Schoffler, nhưng tôi xét cách ngài
sống các nhân đức thì quyết đoán rằng ở Pháp, cậu đã có đời sống
gương mẫu cũng như bây giờ là một tông đồ nhiệt thành ở Bắc
Việt. Ngài đến Bắc Việt năm 1848. Từ khi đó cho đến khi bị bắt,
có ba việc ngài chuyên cần thi hành là: học tiếng Việt, làm việc
mục vụ và chịu các bệnh tật. Ngài học tiếng Việt siêng năng đến
nỗi sau năm sáu tháng đã có thể giải tội và khuyên bảo giáo
dân.... Về việc tông đồ, tôi đã mang cha đi theo trong suốt một
năm kinh lý và ban bí tích cho các họ đạo. Một linh mục thừa sai
mới sang chưa có kinh nghiệm thì việc quan trọng nhất là phải
làm quen với lối giao dịch với các linh mục bản xứ và giáo dân,
đồng thời thích ứng với phương pháp truyền giáo và hòa hợp với
các vị đàn anh đi trước. Sau một năm theo tôi làm phúc tại Kẻ
Bàng 1849, khoảng tháng 10 tôi chỉ cho cha Schoeffler coi xứ
Ðoài. Xứ này gồm khoảng mười sáu ngàn giáo dân rải rác trong bốn
xứ đạo trên miền núi rừng."
Vẫn theo lời tường thuật của Ðức Cha Retord, Cha Schoeffler rất
nhiệt thành trong việc rửa tội, trong một năm ngài đã rửa tội
được 200 trẻ ngoại đạo, 41 trẻ con nhà có đạo và 23 người lớn,
không kể đến giải tội, xức dầu...
Trong năm 1850 cha Schoeffler bị sốt rét rừng. Năm ấy cha đến mở
tuần đại phúc cho xứ Bầu Nọ nơi ghi dấu cuộc xưng đạo của Thừa
Sai Cần và ba thầy giảng năm 1837. Năm 1851 Ðức Cha Retord công
bố năm thánh, Cha Schoeffler muốn sang xứ Yên Tập để mở năm
thánh cho giáo dân tại đây. Trong dịp này có một người ngoại đạo
tên là Khanh đi tố cáo với quan tổng là có cố đạo ở làng Bầu Nọ.
Quan cho quân mai phục các nẻo đường. Hôm ấy ngày 1-3-1851, thay
vì đi ban đêm, ngài nói Cha Phượng và hai chú học trò đi trước
nếu có chuyện gì thì báo động. Cha Phượng và hai chú đi vào buổi
chiều đến giữa rừng thì bị bắt. Cha Schoeffler và một thầy giáo
đi sau không thấy tin báo gì thì cứ vui vẻ đi về hướng Yên Tập.
Khi được tin có người rình để bắt thì cha và thầy giáo lẻn vào
bụi rậm nhưng ngay lúc ấy quan quân đến vây bắt cha và thầy
giáo. Quan bảo lính đánh cha song cha thưa lại: "Việc gì mà phải
đánh, đừng có lo, tôi không có trốn đâu".
Quan tổng không muốn giải nộp các ngài vội vì có ý đòi tiền giáo
dân, nếu có 100 nén bạc sẽ tha. Mặc dù ngài thưa rằng không thể
liệu được bằng ấy tiền nhưng vì quan thúc ép nên ngài nghĩ ra
được một mưu nói với quan: "Nếu ông nhất định muốn lấy tiền thì
hãy tha bấy nhiêu người giúp tôi đây đi vì chỉ có họ biết chỗ để
tiền bạc".
Thế là quan tha cho Cha Phượng, thầy giáo và hai chú học trò.
Sau đó ngài rất mừng rỡ vì không còn ai phải khốn vì ngài nữa,
bèn giục quan tổng hãy giải về tỉnh Sơn Tây cho mau. Cha Phượng
thành thật đi về làng kêu gọi giáo dân đóng góp, nhưng lúc ấy có
tin nhắn quan tổng muốn bắt cha lại nên cha lại phải trốn đi.
Như thế không có ai hay làng nào bị liên lụy.
Ngày hôm sau quan huyện Nho Lâm giải ngài về tỉnh, giam tạm tại
nhà cách dinh quan án. Ngày hôm sau ba quan lớn cho đem thừa sai
ra trước công đường để tra hỏi về quê quán và những việc đã làm,
về các đồ đạo đã bắt được, và có biết luật nước cấm đạo không.
Cha Schoeffler lần lượt trả lời các câu hỏi của quan như sau:
"Tôi tên là Augutinh, người Pháp, sinh tại tỉnh Nancy, là đạo
trưởng Công Giáo, 29 tuổi. Tôi đã đến đây để giảng đạo cứu rỗi
và từ khi đến nước này cho đến nay tôi chỉ chuyên tâm có một
việc là rao giảng đạo thật mà thôi. Trước kia ở Pháp, tôi đã
biết rõ đạo bị cấm tại nước này và các đạo trưởng phải xử tử.
Nhưng chính vì vậy mà tôi càng muốn đến nước này hơn là các nước
khác. Từ khi tôi tới đây tôi đã rảo đi nhiều tỉnh, đã ở trong
nhiều nhà mà bây giờ tôi không còn nhớ tên nữa, và nếu có nhớ
tôi cũng không khai ra với các quan".
Ngày hôm sau các quan lại cho điệu ngài ra hỏi han như hôm
trước, và cha trả lời cũng y hệt hôm trước. Hôm ấy là ngày 5-3,
quan tổng đốc Ngụy Khắc Trần viết bản án trình về triều đình,
bản án có phần chi tiết hoang đường.
Nội dung tờ trình như sau: "Sau khi tham khảo ý với hai quan
bộ và quan án sát, sau đây là lời xét đoán của chúng tôi: ‘Tên
Aodutinh là một người Tây đã cả gan đến trong nước mặc dù đã có
lệnh cấm, hắn rảo qua và dừng lại ở nhiều nơi trong nước để rao
giảng đạo, dụ dỗ và lừa dối dân chúng. Hắn đã công khai thú nhận
các việc làm. Cần phải áp dụng cho hắn các luật trong sắc lệnh
của hoàng thượng. Vậy tên Aodutinh phải xử chém và đầu ném xuống
biển hay sông để răn dậy dân chúng. Còn về những người đã theo
hắn và cho hắn trú ngụ, hắn thương họ đến nỗi nhất định không
bao giờ cung khai ra mặc dù chúng tôi đã tìm mọi cách hỏi han
nó. Người có công bắt được hắn cũng không cho biết thêm gì được
về vấn đề này. Nếu cứ thúc ép để điều tra cho biết thì có vô số
người phải khốn khổ. Vì thế chúng tôi xét theo lời chỉ dậy mật
không điều tra thêm nữa. Về phần lý trưởng và những người có
công bắt đạo trưởng, chúng tôi đã trọng thưởng để khuyến khích
là ba trăm lạng bạc theo như sắc lệnh của vua. Quan lãnh binh đã
đem quân đi bắt cũng đáng khen thưởng. Chúng tôi chờ mong lệnh
của hoàng thượng và hứa sẽ làm theo. Còn về các đồ đạo tịch thu
được chúng tôi xin được lệnh đốt đi. Trên đây là cuộc điều tra
chúng tôi đã làm về vụ này và bản án chúng tôi xét xử. Với lòng
khiêm phục chúng tôi xin tường trình lên hoàng thượng và cúi đầu
chờ thánh chỉ. Tự Ðức năm thứ tư, ngày 5 tháng Hai âm lịch’".
Sau khi các quan làm bản án rồi, Cha Schoeffler được giam vào
ngục thất với các tù nhân tội phạm khác và không còn bị tra tấn
nào khác, chỉ phải mang gông và cùm thôi. Tuy nhiên những lời
bẩn thỉu của những tên trộm cướp làm đau lòng vị thừa sai cùng
với trăm ngàn cái khổ hành hạ của lính canh. Ðức Cha Retord sai
một thầy mang tiền đút lót để lính không làm khổ ngài và kèm một
lá thư an ủi. Vì lính canh chừng nghiêm ngặt nên ngài chỉ đọc
thư mà không thể trả lời. Vì có lệnh quan lớn cấm không để một
thường dân nào được đến gần, nên có một người tân tòng lén nấu
cơm cho cha, và một thầy giảng trá hình làm lính đến thăm ngài
được hai ba lần, nhưng cũng chỉ có thể nhìn nhau mà thôi. Một
linh mục may mắn được đến gần giải tội cho ngài.
Trong tù Cha Schoeffler vẫn tìm cách giảng đạo cho các bạn tù.
Cha đã chinh phục được một người lính tên Chi. Cha nói: "Khi nào
tôi bị xử rồi, tôi sẽ nhớ đến anh, và nếu anh muốn hạnh phúc
thật thì tìm nơi có đạo mà tin theo đạo".
Người lính này còn thuật lại rằng cha có mấy bức ảnh và sách
nguyện trong tù và luôn tỏ ra vui vẻ. Người lính này cũng hứa
theo ngài dù ngài phải giải về Huế. Sau khi vị thừa sai bị xử
người lính lập gia đình và theo đạo Công Giáo.
Ngày 11-4 lời phê án của triều đình về tới tỉnh. Lời phê án viết
như sau: "Chúng tôi đọc tờ trình báo về việc bắt được đạo
trưởng Tây tại tỉnh Sơn Tây. Chúng tôi, các quan có nhiệm vụ xét
lại, gửi bản ý kiến của chúng tôi đến bản quan trên để cùng với
sự đồng ý của quan bộ và quan án sát thi hành lệnh của chúng
tôi. Luật của nhà nước được công bố để dậy dỗ dân chúng cho biết
úy sợ, đã nghiêm cấm đạo Gia Tô rất ngặt, dầu vậy tên Aodutinh,
đạo trưởng đạo này đã dám xâm nhập lén lút trong nước của chúng
ta để rao giảng đạo và dụ dỗ lường gạt dân chúng. Bị bắt rồi hắn
đã thú nhận tất cả. Vậy tên Aodutinh phải chém đầu ngoài bãi và
ném đầu xuống dòng sông để tận diệt những kẻ xấụ Những điều khác
hãy theo những điều chúng tôi đã định trước".
Lẽ
ra khi nhận được lệnh trung ương quan phải thi hành ngay, nhưng
quan lớn cho lệnh tháo gông và lấy xích cột vào chân và cho đem
ra ở nhà bên phủ đường. Trước đây quan có lấy một lạng bạc của
cha bây giờ được dùng để dọn một bữa cỗ cho cha. Quan đội thường
nói truyện hỏi han và rất kính trọng vị thừa sai.
Theo chứng từ của người có mặt và phúc trình của Cha Phượng, hôm
1-5, vào khoảng trưa, quan lớn Ngụy Khắc Tuần cho gọi hai đội
quân sửa soạn voi, ngựa và súng, các khí giới đủ loại để làm một
cuộc tảo thanh. Mọi người nghĩ là quan quân đi tấn công một nơi
nào, nhưng sau mới biết là để áp giải vị anh hùng tử đạo đến
pháp trường. Quan lớn làm vậy vì sợ giáo dân đông số có thể đánh
tháo cho vị linh mục. Khi đem Cha Ðông ra khỏi tù, nhiều người
hối tiếc một vị nhân đức dễ thương như vậy phải chết. Ðám lính
gồm 100 người chia thành hai hàng, Cha Schoeffler đi ở giữa có 8
tên lính cầm giáo hộ tống, đàng trước có một tên lính cầm thẻ
ghi bản án, đi sau là hai quan lớn cỡi voi. Vị anh hùng tử đạo
khi biết đã đến giờ ra pháp trường liền vất bỏ đôi dép để đi
chân không cho dễ dàng và mau chóng, biểu lộ nét mặt vui mừng
hớn hở. Cha ngẩng cao đầu, giơ cao xích và miệng đọc những lời
kinh thật sốt sắng. Một đám đông vô số theo sau đi ra pháp
trường ngoài thành quen gọi là Năm Mẫu, họ như bị thôi miên
trước sự anh hùng của đạo trưởng. Họ nói: "Thật là anh hùng,
người đi chịu chết dường như đi dự đại lễ. Can đảm chừng nào,
không có dấu sợ hãi. Ồ đẹp làm sao, hiền hậu làm sao! Tại sao
hoàng đế lại chém đầu những người như thế?" Trong đám đông cũng
có kẻ xấu miệng nói lời xúc phạm đến đạo.
Tới nơi xử, vị anh hùng xin mấy phút cầu nguyện, quì gối trên bờ
ruộng, tay cầm thánh giá nhỏ, hôn kính ba lần. Sau đó theo lời
lý hình, ngài cởi áo ra, để trần cổ sẵn sàng đón nhát gươm vinh
dự. Lý hình trong khi đó trói hai tay ngài ra sau lưng và buộc
vào cọc. Vị anh hùng giục lý hình làm phận sự trong khi mắt
ngước trông lên trời. Quan ra lệnh sau ba tiếng chiêng mới được
chém. Giây phút trở nên trịnh trọng, ba hàng lính đứng chung
quanh như triều thiên, hàng thứ nhất tay cầm gươm sáng, hàng hai
tay cầm súng trường và hàng thứ ba tay cầm giáo giơ lên cao.
Tiếng chiêng thứ ba vừa dứt, tay run rẩy người lý hình chém
không đứt được cổ, phải cứa thêm cho đứt hẳn. Những người chứng
kiến vụ hành quyết chỉ là những người không Công Giáo ở Sơn Tây,
còn giáo dân thì không được tin kịp.
Ðầu vừa rơi đám người lương ùa vào thấm máu, khác với thói quen
là chạy trốn khi một tử tù bị chém. Dân chúng tin rằng đây không
phải là một tên tội phạm nhưng là một vị anh hùng xuất chúng,
một thánh nhân đáng tôn kính, mang lại hạnh phúc cho người khác.
Họ chia nhau các di tích, giây xiềng và xích. Một viên sĩ quan
mang theo một tấm áo lụa mới để thấm máu vị anh hùng. Viên sĩ
quan này bị đánh mấy roi vì làm như thế. Các lý hình cầm đầu
ngài mang đi vất xuống sông nơi vừa rộng vừa sâu nhất. Giáo dân
nhiều đêm lặn tìm mà không thấy vì lương dân đã lấy trước để chờ
món tiền chuộc khổng lồ. Còn thân thể vị anh hùng tử đạo được
giáo dân bỏ vào trong quan tài chôn ngay tại chỗ theo như luật
đã định dưới sự canh gác của lính. Ðến đêm thứ hai rạng ngày thứ
ba, giáo dân đã lấy trộm xác về chôn trong nhà một lý trưởng
Công Giáo, tên là Lý Ngọc, tại Bạch Lộc.
(ST)
Trường thi tử đạo
Cậu Augutinô sống gương mẫu
Là thanh niên nung nấu thừa sai
Việt Nam truyền giáo lâu dài
Trào lưu gia nhập, sánh vai lên đường
Ði đường biển Ðông Dương Bắc Việt
Tới địa phương đặc biệt tên Ðông
Vườn hoa Giáo hội vun trồng
Nhiệt thành phuc vụ, cộng đồng giáo dân
Ngài học rất chuyên cần tiếng Việt
Sáu tháng sau đã biết nói ngay
Làm việc không kể đêm ngày
Còn mang bệnh tật nơi này nhiễm lây
Suốt một năm, đó đây thăm viếng
Ði tới đâu nổi tiếng giảng rao
Ngồi tòa giải tội ban trao
Giáo dân khuyên nhủ ngọt ngào Phúc âm
Ngài đổi trao sưu tầm kinh nghiệm
Cha Việt Nam trực diện giáo dân
Ðàn anh học hỏi việc cần
Xức dầu rửa tội, xa gần khắp nơi
Tại năm ấy Ngài thời sốt rét
Vẫn cố đi ban phép giải hòa
Mở tuần đại phúc hoan ca
Bầu Nọ giáo xứ, thiết tha chúc lành
Ðức Cha Retord, ngài ra công bố
Cha Ðông, ngài được bổ sai đi
Yên Tập giáo xứ thực thi
Mở màn năm thánh, tức thì tại đây
Người ngoại đạo nơi này tố cáo
Với quan tổng Cố Ðạo về đây
Lính vây thôn ấp tràn đầy
Cho hai chú nhỏ, nơi này dẫn đi
Trên rừng vắng lính thì đã bắt
Tưởng là êm Thầy dắt lên đường
Ðược tin mật báo nhiễu nhương
Thầy Cha lẩn trốn, vào mương bụi rừng
Quan chờ sẵn đã lùng vây bắt
Lính trói tay bẻ quặt ra sau
Ðòn roi tra tấn rất đau
Ðòi tiền để chuộc, ngõ hầu được tha
Trăm nén bạc đó là tiền chuộc
Giá định rồi bắt buộc phải đưa
Cha nói quan lớn xin thưa
Giáo dân tha hết, sẽ đưa đủ tiền
Họ biết trước trong miền có bạc
Quan thuận lòng thả các người ra
Sơn Tây dẫn giải mình Cha
Tiền chưa có chuộc, quan đà khả nghi
Cha Phượng sợ lại thì phải trốn
Ai đảm lo bạc tốn cả trăm
Huyện Nho Lâm tức giận căm
Liền giải về tỉnh, cho nằm nhà pha
Dinh quan án tra tấn xét hỏi
Thừa sai hành động nói ta nghe
Cha Ðông chẳng có dấu che
Tôi là đạo trưởng, nói nghe đạo trời
Lên đường đi khắp nơi rao giảng
Những điều lành quan cản cấm tôi
Luật vua nghiêm cấm lâu rồi
Nhưng tôi càng muốn, phục hồi giảng rao
Rời đất Pháp bước vào đất Việt
Ðã được nghe và biết vẫn đi
Cha Ðông gan dạ ngồi lỳ
Các nơi tôi đến, sẽ thì không khai
Một người lính theo Ngài về Huế
Lập gia đình giai tế tân tòng
Giatô đạo Chúa cầu mong
Cha Ðông gương mẫu, sáng trong rạng ngời
Ra pháp trường bỏ đôi dép ấy
Ði chân không cảm thấy nhẹ nhàng
Ngẩng đầu nét mặt hiên ngang
Cầm lòng sốt sắng nhẹ nhàng đọc kinh
Ngài ngước mắt như nhìn vũ trụ
Lý hình theo nhiệm vụ chém đầu
Ba hồi chiêng trống dài lâu
Xác thân ngã gục, còn đầu bay xa
Người chứng kiến gần xa lương giáo
Ðã ùa vào thấm ráo máu người
Ðầu Ngài máu đỏ thắm tươi
Lý hình đem vứt, chìm thời đáy sông
Giáo dân tới mà không tìm thấy
Xác thân Ngài khi ấy đã chôn
Mưu mô kẻ xấu đã đồn
Ðể đòi tiền chuộc, sức dồn ép cao
Giáo dân dù giá nào cũng nhận
Chỉ cần sao tiếp cận thấy đầu
Hồng ân tử đạo nhiệm mầu
Ngài làm phép lạ, ngõ hầu hiển nhiên
Ông Lý Ngọc gặp liền may mắn
Khỏi ốm đau vợ mắn sinh trai
Những người can dự bắt Ngài
Rừng sâu chết thảm không ai đoái nhìn
Người ngoại đạo đã tin trở lại
Xưng đạo trời loan tải Thánh Kinh
Rất nhiều phép lạ điển hình
Sử xanh Giáo hội tường trình Rôma
Augustinô Ðông tải ba linh mục
Sinh Nhâm Ngọ (1822) quê thực Paris
Viễn Ðông truyền giáo xin đi
Nhâm Tý (1852) tử đạo uy nghi danh Ngài
Khắp Giáo hội trần ai ghi nhớ
Các Thừa sai bắt bớ xem thường
Roma Toà Thánh mến thương
Suy tôn Canh Tý (1900) hành hương Nước Trời
Lời bất hủ: Khi bị bắt, dọc đường cha gặp một tín
hữu cha nói: "Hãy về nói với anh chị em, đừng lo sợ gì
hết, dù thế nào tôi cũng không khai một ai cả".
Quan tra hỏi cha đáp: "Tôi tên là Augustinô, quê ở nước
Pháp, tôi năm nay 29 tuổi, tôi đến đây chỉ để giảng đạo
Ðức Chúa Trời. Tôi đã biết An Nam cấm đạo ngặt, nhưng
tôi không sợ xử tử. Còn việc ở đâu, tôi sẽ không nói,
đừng hỏi làm gì".
|