Đồng Công Cứu Chuộc
VietCatholic News (Thư Tư 07/05/2008 01:21)

Từ thập niên 50 của thế kỷ trước, người ta đã nghe nói tới tước hiệu đồng công cứu chuộc của Đức Mẹ. Và ở Việt-Nam, chúng ta đã thấy xuất hiện một dòng tu nổi tiếng mang danh hiệu này.

Công Đồng Vatican II, khi nói về Đức Mẹ, đã không dành trọn một sơ đồ, mà đặt Đức Mẹ vào chung một sơ đồ về Giáo Hội. Điều này khiến một số người đồ đoán là Công Đồng đã chính thức giảm nhẹ vị trí của Đức Mẹ trong lòng sùng kính chính thức của Giáo Hội. Nhưng dù sự giải thích đó có đúng đi chăng nữa, thì lòng sùng kính đối với Mẹ Thiên Chúa trong lòng tín hữu vẫn không có gì thay đổi. Luật cầu là luật tin vẫn là một chân lý không thay đổi trong truyền thống hai ngàn năm của Thánh Giáo Hội Công Giáo. Nên nếu luật cầu không thay đổi thì luật tin cũng không thay đổi.

Cuối thế kỷ 20, một số người Công Giáo đã khẩn khoản thỉnh cầu Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên bố một cách vô ngộ Đức Mẹ là Đấng Đồng Công Chuộc Tội. Năm 1985, trong một số diễn văn, Đức Giaon Phaolô II đã sử dụng tước hiệu này để nói về Đức Mẹ. Tại Guayaquil, Ecuador, Ngài nói: “Vì Người đặc biệt gần gũi thánh giá Con của Người, nên Người cũng có một cảm nghiệm đầy đặc ân về sự Phục Sinh của người Con ấy. Thực vậy, vai trò Đồng Công Cứu Chuộc của Người không chấm dứt với cuộc hiển vinh của Con mình”. Trước đó, ngày 8 tháng Chín năm 1982, khi chào đón các bệnh nhân trong một buổi triều yết chung, Ngài nói: “Mẹ Maria, dù được tượng thai và sinh ra không bị tì vết tội lỗi, nhưng đã dự phần cách kỳ diệu vào cuộc thống khổ của Con Trai thần thánh mình, ngõ hầu trở nên Đấng Đồng Công Cứu Chuộc của nhân loại”.

Đầu thập niên 1990, Giáo Sư Mark Miravalle của Trường Đại Học Phanxicô tại Steubenville ở Hoa Kỳ có phát động một chiến dịch xin chữ ký để thỉnh cầu Đức Gioan Phaolô II chính thức công bố tín điều Đồng Công Cứu Chuộc. Hơn sáu triệu chữ ký đã thu được từ 148 quốc gia, gồm cả chữ ký của Mẹ Têrêxa thành Calcutta, của Đức Hồng Y John O’Connor, Tổng Giám Mục New York, của 41 vị hồng y khác và của 550 vị giám mục khắp năm châu. Tuy nhiên, một tín điều như thế vẫn chưa được chính thức công bố.

Năm 2005, tại Fatima, 5 vị hồng y đã đồng bảo trợ một hội nghị quốc tế chuyên bàn về tước hiệu Đồng Công Cứu Chuộc này. Hội nghị sau đó đã đệ lên đức Bênêđíctô XVI một thỉnh nguyện thư, xin Đức Giáo Hoàng long trọng công bố Đức Mẹ là “Mẹ thiêng liêng của toàn thể nhân loại, đồng công với Chúa Giêsu Cứu Chuộc, đấng trung gian mọi ơn phúc với Chúa Giêsu là Đấng Trung Gian duy nhất, đấng bào chữa với Chúa Giêsu Kitô nhân danh nhân loại”. Trong số 5 vị hồng y này, có Đức Hồng Y Luis Aponte Martinez, tổng giám mục (hưu) của San Juan, Porto Rico và Đức Hồng Y Telesphore Toppo, tổng giám mục Ranchi, Ấn Độ.

Không Mới Lạ

Đức Mẹ Guadalupe
Trong cuộc phỏng vấn do Zenit thực hiện ngày 18 tháng Ba năm nay tại San Juan, Puerto Rico, Đức Hồng Y Martinez cho rằng công bố tước hiệu này, ta không nói gì mới thêm về Đức Mẹ mà chỉ là giải thích rõ vai trò của Người trong chương trình cứu rỗi mà thôi.

Đức Hồng Y cho hay năm 2002, tại Rome, ngài có trực tiếp trình bầy với Đức Gioan Phaolô II tầm quan trọng của tín điều trên trước mặt nhiều vị hồng y khác. Theo ngài, việc công bố này mật thiết liên hệ với việc tân phúc âm hóa của Giáo Hội, nhất là tại Châu Mỹ Latinh, nơi việc phúc âm hóa lần đầu vốn đã được Đức Mẹ Guadalupe hướng dẫn, thì lần này hẳn cũng sẽ thành công rực rỡ nếu được Mẹ Chúa Kitô lãnh đạo.

Việc long trọng định nghĩa các vai trò hiền mẫu của Đức Mẹ, như là đấng đồng công cứu chuộc, đấng trung gian, và đấng bào chữa càng làm Đức Mẹ thi hành nhiều hơn các chức năng hiền mẫu trên để cầu bầu cho thời đại ta đạt được hiệu năng tối đa trong việc tân phúc âm hóa.

Đức Hồng Y cũng cho hay: trọn bộ nội dung công bố này thực ra đã có từ ngàn xưa, và sẵn có ngay trong học thuyết chính thức của Giáo Hội rồi, chỉ cần mở lại Hiến Chế Lumen Gentium, số 57, 58, 61 và 62. Ngoài ra, nó vốn là giáo huấn cố cựu của các vị giáo hoàng trong nhiều thế kỷ. Gần đây nhất, Đức Gioan Phaolô II đã xưng tụng Đức Maria là đấng đồng công cứu chuộc 6 lần trong suốt triều đại giáo hoàng của ngài. Tất nhiên, vai trò này lúc nào cũng được hiểu như là tùy thuộc hoàn toàn vào Chúa Giêsu, và chỉ như một con người nhân bản tham dự với Chúa Cứu Thế trong công trình cứu chuộc mà thôi.

Tuy không có gì mới lạ, nhưng theo Đức Hồng Y, một công bố có tính tín điều sẽ mang thêm ánh sáng và trân qúy hơn đối với học lý, khiến nó hoàn hảo hơn, như chính giải thích của Chân Phúc Giáo Hoàng Piô IX khi cho công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai năm 1854.

Người Bình Dân

Ngoài ra, các chức năng đồng công cứu chuộc, trung gian và bào chữa bên trong vai trò tổng quát làm mẹ thiêng liêng cũng không có gì khó hiểu đối với người bình dân. Theo Đức Hồng Y, người tín hữu ở Châu Mỹ La-tinh chẳng hạn, không những hiểu học lý này trong tâm hồn mà còn cảm nghiệm được các vai tuồng đó của Đức Mẹ trong chính cuộc sống họ. Một lần nữa, Đức Mẹ Guadalupe là hiện thân của các vai tuồng này một cách hết sức năng động trong vai trò một người mẹ từng chịu đau khổ với Chúa Giêsu cho chúng ta, một người mẹ đến để nuôi dưỡng chúng ta bằng ơn thánh của Chúa Giêsu, và một người mẹ luôn cầu bầu cho chúng ta khi khốn khó. Đó là đấng đồng công cứu chuộc, đấng trung gian và đấng bào chữa, chứ còn ai đây!

Đức Gioan Phaolô II đã nói một cách hết sức sáng sủa về việc Đức Mẹ làm trung gian nhân danh chức phận làm mẹ của mình bằng cách sử dụng thuật ngữ “Trung Gian Hiền Mẫu” (maternal mediation). Còn gì thông thường và dễ hiểu hơn một bà mẹ chịu đau khổ, nuôi dưỡng và khẩn cầu cho con cái mình? Mà đó lại chính là điều Đức Mẹ làm cho ta trong tư cách người mẹ thiêng liêng của ta. Đó quả là điều hết sức đơn giản và là một phần trong cảm nghiệm hàng ngày của các tín hữu Công Giáo. Điều đối với một số học giả xem ra khó chấp nhận thì lại đã được tỏ lộ cho những người chất phác nhỏ nhoi và đã được Giáo Hội tiếp nhận từ lâu.

Đại Kết

Mẹ Bồng Con
Nhưng đối với sứ mệnh đại kết hết sức tế nhị của Giáo Hội thì sao? Tín điều này có thể góp phần gây trở ngại gì chăng? Đức Hồng Y Martinez cho hay theo bản tính và ơn gọi, các bà mẹ luôn là người kết hiệp các gia đình. Mẹ Chúa Giêsu trong gia đình Chúa Giêsu cũng thế thôi. Sứ mệnh đại kết của Giáo Hội hết sức quan trọng, nhưng nếu loại Đức Mẹ ra ngoài, ta chỉ tổ làm chậm bước tiến của ta hướng tới hiệp nhất Kitô Giáo trong nhiệm thể Chúa Kitô.

Đức Gioan Phaolô II đã nói rõ trong thông điệp đại kết của ngài, tựa là “Ut Unum Sint”, rằng hoạt động đại kết đúng nghĩa của Công Giáo không bao giờ có nghĩa là ta phải thỏa hiệp học thuyết Công Giáo cũng như làm trở ngại việc phát triển học lý chân chính, trong đó có các học lý liên quan đến Đức Mẹ.

Việc long trọng xác định chức phận làm mẹ thiêng liêng của Đức Mẹ thực ra sẽ là bước nhẩy vọt trong phong trào đại kết, vì việc này sẽ minh nhiên phân biệt điều được Giáo Hội dứt khóat truyền dạy: tức việc Đức Maria không phải là một nữ thần, Giáo Hội Công Giáo không xếp Đức Mẹ lên bình diện ngang hàng với Chúa Giêsu, con thần thánh của Người, trái lại Người chỉ là một con người nhân bản tham dự vào hành động cứu chuộc có tính lịch sử một cách tuyệt đối và hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa Giêsu. Điều ấy sẽ khai quang được rất nhiều các hiểu lầm vốn có xưa nay nơi anh chị em Kitô hữu không phải là Công Giáo, dẫn đến một đối thoại và hiệp nhất lớn lao hơn liên quan tới mẹ Chúa Giêsu bên trong nhiệm thể của Người. Đấy mới là đại kết thực sự theo cái nhìn Công Giáo.

Trước ngày quyết định công bố tín điều Hồn Xác Lên Trời vào năm 1950, người ta cũng nêu cùng một phản chứng như thế liên quan đến đại kết với Đức Piô XII. Sau khi công bố tín điều ấy, Giáo Hội đã cảm nghiệm được một tiến bộ vĩ đại nhất cho tới lúc đó về đại kết, dẫn đến Công Đồng Vatican II.

Đức Maria là Mẹ phong trào đại kết, Mẹ của hiệp nhất, chứ không phải là một trở ngại. Ta hãy dành cho Người cơ hội để Người hiệp nhất chúng ta theo cách chỉ có một bà mẹ có thể làm được, bằng cách công khai và hãnh diện công bố các vai trò hiền mẫu của Người trong việc cầu bầu cho chúng ta. Nếu ta biết long trọng kêu mời Người cầu bầu cho, thì sứ mệnh hiệp nhất Kitô giáo sẽ được thăng tiến xiết bao.

Phản Ứng

Thông tấn xã Zenit, ngày 5 tháng Năm năm 2008, đã phỏng vấn Đức Hồng Y Telesphore Toppo về phản ứng trong Giáo Hội đối với cuộc vận động gần đây của ngài liên quan đến tín điều trên. Được biết, gần đây, Đức Hồng Y Toppo, cùng với 4 vị hồng y kia, có gửi cho các vị hồng y và giám mục khắp thế giới một lá thư, mời gọi các ngài tham gia vào thỉnh nguyện thư xin Đức Bênêđíctô tuyên bố tín điều Đồng Công Cứu Chuộc.

Ngài cho hay mặc dù đa số các vị hồng y và giám mục trực tiếp gửi thư cho Đức Thánh Cha để ủng hộ công bố này, nhưng ngài cũng nhận được khá nhiều thư trả lời rất khích lệ. Nhiều thư nói đến nhu cầu phải có tín điều này và sự cầu bầu lớn nhất của Đức Mẹ đối với hoàn cảnh nhiễu nhương hiện nay trên thế giới, kể cả chiến tranh và khủng bố, bách hại tôn giáo, sa đọa luân thường, gia đình tan vỡ và cả các thiên tai nữa.

Một cách tổng quát, các thư của các hồng y và giám mục khắp thế giới đều nhất trí rằng nay đã đến lúc cần một tín điều mới về Đức Mẹ làm liều thuốc chữa các khó khăn độc đáo đang đe dọa thế giới. Như Người từng làm ở Phòng Trên Lầu và trong Giáo Hội sơ khai xưa, Đức Mẹ có thể cầu bầu mà không một ai khác có thể cầu bầu được để Chúa Thánh Thần tuôn đổ ơn thánh, sự bình an và che chở mới mẻ cho Giáo Hội và thế giới.

Đức Hồng Y Toppo cũng cho hay ngày 3 tháng Sáu năm 2006, ngài có gặp Đức Bênêđíctô XVI trong một buổi yết kiến riêng, trong đó, ngài trình lên Đức Thánh Cha bản đúc kết các bài thuyết trình thần học của Hội Nghị Thánh Mẫu năm 2005 tại Fatima liên quan tới tước hiệu đồng công cứu chuộc của Đức Mẹ. Ngài cũng trình lên Đức Thánh Cha bản thỉnh nguyện thư xin Đức Thánh Cha long trọng lấy quyền giáo hoàng xác định Đức Mẹ là mẹ thiêng liêng của mọi người, là đấng đồng công cứu chuộc, đấng trung gian mọi ơn thánh và là đấng bào chữa. Bản thỉnh nguyện này đến lúc đó đã được chữ ký của rất nhiều hồng y và giám mục trên thế giới.

Trong buổi yết kiến kéo dài 15 phút ấy, Đức Thánh Cha tỏ ra hết sức quan tâm đến các tài liệu đệ trình. Đức Thánh Cha tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy số đông các hồng y và giám mục đã ký vào bản thỉnh nguyện. Trong ít tháng gần đây, Đức Thánh Cha còn nhận được thêm nhiều thư nữa của các hồng y và giám mục thế giới ủng hộ tín điều nói trên.

Á Châu

Đức Mẹ Ấn Độ
Nói đến phản ứng đại kết và liên tôn, cũng như Đức Hồng Y Martinez, Đức Hồng Y Toppo cho hay việc xác định này sẽ giúp các bên đối thoại hiểu đúng đắn các điều căn bản trong giáo huấn Công Giáo. Tước hiệu đồng công cứu chuộc là cơ hội để ta trình bầy học thuyết của chúng ta liên quan đến Đấng Cứu Chuộc và mầu nhiệm cứu chuộc, quyền tối thượng trong sáng kiến Thiên Chúa, và vai trò tuyệt đối không thể đua tranh được nơi tính duy nhất của Chúa Giêsu như là Đấng Cứu Chuộc Thần Linh.

Chân lý liên quan đến việc cứu chuộc này phải được bổ túc bằng nhu cầu không thể thiếu đòi phải có sự hợp tác của con người thụ hưởng. Con người tự mình phạm tội được, nhưng không tự cứu chuộc được mình. Nói cách khác, đòi phải có sự hợp tác, đối với mỗi người tùy theo kế hoạch đã được Thiên Chúa tự ý phác thảo và chọn lựa. Như thế, ta có thể giúp các bạn đối thoại của ta hiểu nhiều điều về Đức Maria: việc ngài hợp tác bằng một lòng suy phục kế hoạch của Thiên Chúa, dẫn ngài trở thành Mẹ Chúa Giêsu; sự gần gũi với Chúa Giêsu ở lúc chịu đóng đinh như đấng đồng công cứu chuộc; việc ngài bào chữa cầu bầu và gây ảnh hưởng với Chúa Giêsu cho ta; việc ngài là Mẹ Giáo Hội, Nữ Vương Thiên Đàng, và Đấng Trung Gian mọi ơn phúc.

Sự hợp tác của Đức Mẹ giúp mọi Kitô hữu và cả người không phải là Kitô hữu hiểu được sự hợp tác cần có nơi ta với Chúa Giêsu và với ơn thánh của Người để được cứu rỗi. Đức Hồng Y Toppo tin chắc các Kitô hữu không phải Công Giáo hiện đang đối thoại với chúng ta sẽ hoặc là thấy tín điều này có thể chấp nhận được hoặc là không có luận điểm nào có giá trị và có tính thuyết phục chống lại tín điều này.

Ngài kể lại năm 1890, một bé gái thuộc phái Luthêrô tại Ranchi, tên Ruth Kispotta, khi khám phá ra người Công Giáo không tôn thờ Đức Mẹ như một vị thần, dù họ có tôn kính ngài trong tư cách là mẹ Chúa Giêsu, nên đã trở lại Công Giáo và lập ra tu hội bản xứ đầu tiên gọi là Nữ Tử Thánh An-nê, ngay tại Ranchi.

Người không theo Kitô giáo cũng sẵn sàng hiểu quan điểm của chúng ta trong vấn đề này. Đó là lý do khiến rất nhiều người không phải là Kitô hữu đổ xô tới các đền kính Đức Mẹ khắp thế giới, kể cả lục địa bao la Á Châu. Họ cảm thấy được Đức Mẹ lôi kéo vì sự gần gũi của ngài với Chúa Giêsu.

Tại Ấn Độ, có một đền thờ dâng kính “Dhori Ma” tức Đức Bà Hầm Mỏ, căn cứ vào một bức tượng được các thợ mỏ than Ấn giáo ở Dhori khám phá ra. Ngày nay, bức tượng Đức Bà này được hàng chục ngàn người tôn kính: cả Kitô hữu lẫn người Ấn giáo và Hồi giáo. Tất cả đều trân qúy Bà Mẹ hết lòng chăm sóc con cái mình và hoàn toàn nhất mực phục vụ chúng.

Hồi Giáo

Theo Đức Hồng Y Toppo, việc trình bầy Đức Maria như đấng đồng công cứu chuộc sẽ rất được tán thưởng trong cuộc đối thoại với Hồi Giáo, vì một lý do giản dị là Đức Mẹ vốn được người Hồi Giáo biết rõ nhờ kinh Kô-răng. Người Hồi Giáo tôn kính Đức Maria như “người phụ nữ vĩ đại nhất” không hề có tội và mãi mãi đồng trinh. Đức Maria là người phụ nữ có phẩm giá cao cả và vai trò cũng như tầm quan trọng của ngài được nhìn nhận trong sách Kô-răng, trong sách Hadith và trong lòng sùng kính của cuộc sống Hồi Giáo hàng ngày.

Đức Hồng Y Toppo không ngần ngại nói rằng Đức Maria xưa nay vẫn là khuôn mẫu thực sự cho cả người Hồi giáo và Kitô giáo. Ngài phải là sự trợ giúp tuyệt diệu trong các cố gắng đối thoại liên tôn của chúng ta. Việc trình bầy chính xác Đức Maria như đấng đồng công cứu chuộc sẽ đem lại một ngả đường êm mát cho việc khám phá ra chân lý Công Giáo và khuyến khích mọi người thành tâm cộng tác với các sáng kiến của Thiên Chúa đầy yêu thương và đầy hấp lực mà lòng từ bi thì trải dài hết đời này qua đời nọ.

Đồng Công Cứu Chuộc (2)

Phần trước có nhắc đến việc làm của Giáo Sư Mark Miravalle và chiến dịch xin chữ ký của ông cho một thỉnh nguyện thư để Đức Giáo Hoàng công bố tín điều Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc. Không những thế, ông còn thành lập ra phong trào gọi là Vox Populi Mariae Mediatrici (Tiếng Dân Của Đức Maria Trung Gian) để cổ vũ cho công việc trên.

Năm 2001, ông cho công bố một tài liệu nhằm trả lời bẩy phản chứng người ta thường nêu ra để chống lại tín điều này. Các phản chứng này được tạp chí New York Times tổng hợp từ các báo chí khác, nhân dịp họ đề cập đến phong trào của Giáo Sư Mark Miravalle vào ngày 23 tháng Mười Hai năm 2000.

Ngang Hàng Với Chúa Giêsu

Phản chứng đầu tiên là nếu xưng tụng Đức Maria là đấng đồng công cứu chuộc, chả hóa ra người ngang hàng với Chúa Giêsu, đấng trung gian duy nhất hay sao?

Theo giáo sư Miravalle, suy nghĩ như trên không đúng. Chữ “đồng” trong “đồng công” không có nghĩa là “bằng nhau”, “ngang nhau”, “cùng một hàng” mà chỉ có nghĩa là “cùng với”, “với”. Thành ra, đấng đồng công cứu chuộc” chỉ có nghĩa là “đấng cùng cứu chuộc với”. Quả thật tiền từ “co” trong “co-redemptrix” là do tiếng Latinh “cum” có nghĩa là “cùng với”. Nên “co-redemptrix” khi áp dụng vào Đức Mẹ có ý chỉ sự cộng tác hết sức đặc biệt của Người với và dưới quyền Con thần thánh của Người là Chúa Giêsu Kitô, trong việc cứu chuộc gia đình nhân loại, như đã tỏ hiện trong Thánh Kinh Kitô Giáo.

Với lời “xin vâng” tự ý và tích cực của Đức Maria khi đáp lại lời của thiên thần Gabriel mời Người làm mẹ Chúa Giêsu (Lc 1:38), Người đã hợp tác một cách đặc biệt vào công trình cứu chuộc bằng việc mang lại cho Đấng Cứu Chuộc thần thánh thân xác phàm trần, vốn là dụng cụ để thực hiện công cuộc cứu chuộc loài người. Thánh Phaolô trong thư Do Thái từng khẳng nhận: “Ta đã được thánh hóa nhờ việc dâng hiến mình Chúa Giêsu Kitô một lần vĩnh viễn” (Dt 10:10). Nhưng thân xác ấy chỉ có là nhờ sự hợp tác tự ý, tích cực và độc đáo của Đức Maria. Nhờ việc trao ban xác phàm cho “Ngôi Lời thành xác phàm” (Ga 1:14), Đấng sau đó đã cứu chuộc nhân loại, nên Trinh Nữ Nadarét hết sức xứng đáng tước hiệu đồng công cứu chuộc. Đúng như lời Chân Phúc Têrêxa thành Calcutta từng nói: “Dĩ nhiên, Đức Maria là Đấng Đồng Công chuộc tội, vì Người trao ban thân xác cho Chúa Giêsu, và chính thân xác Chúa Giêsu đã cứu chuộc ta” (1).

Lời tiên tri trong Tân Ước của Simeon tại đền thờ cũng cho thấy sứ mệnh đầy đau khổ, có tính đồng cứu chuộc của Đức Maria trong sự hiệp nhất trực tiếp với người Con Cứu Chuộc để cứu chuộc nhân loại: “Simeon chúc phúc cho các ngài và nói với Đức Maria, Mẹ Người rằng: ‘Này đây, hài nhi này sẽ làm cớ cho nhiều người ở Israel ngã xuống và trỗi dậy, và sẽ trở nên dấu chỉ mâu thuẫn, và một lưỡi gươm sẽ đâm thâu qua lòng bà” (Lc 2:34-35).

Nhưng đỉnh cao vai trò đồng công cứu chuộc của Đức Maria dưới quyền Người Con Thần Thánh của mình diễn ra dưới chân Thánh Giá, nơi cuộc thống khổ toàn diện của trái tim người mẹ đang kết hiệp một cách đầy vâng phục với cuộc thống khổ của trái tim Chúa Con để làm trọn kế hoạch cứu chuộc của Chúa Cha (xem thư Gl 4:4). Như một quà phúc từ cuộc thống khổ đầy cứu chuộc này, Đấng Cứu Thế bị đóng đinh đã trao Đức Maria làm mẹ thiêng liêng của mọi người: “Này bà, đây là con bà!’ Rồi Người nói với môn đệ, ‘này con, đây là mẹ con!” (Ga 19:27). Như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II từng mô tả, Đức Maria đã chịu “đóng đinh một cách thiêng liêng với người Con chịu đóng đinh của mình” (2). Cả sau cuộc hoàn tất việc thủ đắc các ơn phúc cứu chuộc tại đồi Calvary, vai trò đồng công cứu chuộc của Đức Maria vẫn tiếp diễn trong việc phân phối các ơn cứu rỗi ấy cho tâm hồn nhân loại.

Các nhà trước tác Kitô giáo và các Giáo Phụ đầu hết của Giáo Hội từng giải thích việc đồng công cứu chuộc của Đức Maria một cách hết sức sâu sắc nhưng cũng rất đơn giản qua khuôn mẫu thần học đầu tiên dưới tước hiệu “Evà Mới”. Trong yếu tính, các vị muốn nói rằng như Evà, “bà mẹ mọi sinh linh” đầu tiên (St 3:20), từng trực tiếp hợp tác với Ađam, người cha nhân loại, tạo ra việc mất ơn sủng cho toàn thể nhân loại thế nào, thì Đức Maria, “Evà Mới”, cũng trực tiếp hợp tác với Chúa Giêsu Kitô, Đấng từng được Thánh Phaolô xưng là “Ađam Mới” (xem 1Cor 15:45-48), tái tạo lại ơn phúc cho toàn thể nhân loại như vậy. Như lời Thánh Irênê, một giáo phụ thuộc thế kỷ thứ hai, “y như Evà, vợ của Ađam, lúc ấy còn đồng trinh, đã vì bất tuân mà trở thành nguyên cớ gây chết chóc cho chính mình và toàn thể nhân loại thế nào, thì Đức Maria, tuy đã kết hôn mà vẫn còn đồng trinh, đã nhờ tuân phục mà trở thành nguyên cớ đem lại ơn cứu rỗi cho chính mình và cho toàn thể nhân loại như vậy” (3).

Dưới ánh sáng việc Người hợp tác một cách độc đáo và trực tiếp với Đấng Cứu Chuộc trong việc lập lại ơn thánh cho toàn bộ nhân loại (xem St 3:15), Đức Maria được toàn thể Giáo Hội sơ khai biết đến dưới danh hiệu “Mẹ Mới Của Mọi Sinh Linh” và việc đồng công cứu chuộc trong tư cách dụng cụ của Người đã được tóm tắt một cách tuyệt diệu trong biểu thức ngắn gọn của Thánh Giêrôm, một giáo phụ thuộc thế kỷ thứ tư: “Chết qua Evà, sống nhờ Maria” (4).

Nhiều trích dẫn minh nhiên khác trong suốt Truyền Thống Công Giáo cũng đã coi sự hợp tác độc đáo của Đức Maria trong việc cứu chuộc hay “mua lại” nhân loại khỏi ách nô lệ của Satan và tội lỗi cùng với và dưới quyền của Chúa Giêsu Kitô là đồng công cứu chuộc. Thí dụ, Modestus thành Giêrusalem, một văn sĩ của Giáo Hội thế kỷ thứ 7, viết rằng nhờ Đức Maria, ta “được cứu chuộc khỏi ách bạo quyền của ma qủy” (5). Thánh Gioan Đamátxênô, thế kỷ thứ 8, chào kính Người: “Kính chào Mẹ, nhờ Mẹ, chúng con được cứu chuộc khỏi cơn nguyền rủa” (6). Thánh Bernard thành Clairvaux, thế kỷ 12, dạy rằng: “nhờ Đức Mẹ, con người được cứu chuộc” (7). Vị Tiến sĩ vĩ đại của dòng Phanxicô, Thánh Bonaventura, thế kỷ 13, đã khéo léo tóm lược Truyền Thống Kitô Giáo trong giáo huấn sau đây: “Người phụ nữ kia (tức Evà) đã đưa chúng ta ra khỏi Địa Đàng và bán đứng chúng ta; nhưng người phụ nữ này (tức Maria) đã đưa chúng ta trở lại và đã mua lại chúng ta” (8).

Dù trong tâm trí các giáo phụ và các vị tiến sĩ của Giáo hội, không bao giờ có ý nghĩ là công trình và công phúc cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô lại hoàn toàn và trong căn để tùy thuộc sự hợp tác của Đức Maria, nhưng Truyền thống Kitô giáo tiên khởi không ngần ngại gì mà không giảng dạy rằng việc hợp tác thân mật vô tiền khoáng hậu của người phụ nữ này, tức Đức Maria, trong việc “mua lại” hay cứu chuộc toàn bộ nhân loại khỏi ách nô lệ của Satan. Như nhân loại đã bị một người đàn ông và một người đàn bà bán đứng thế nào, thì Ý Thiên Chúa cũng muốn cho nhân loại được một Người Đàn Ông và một người đàn bà mua lại thể ấy.

Chính vì dựa vào cái nền tảng Kitô giáo phong phú ấy, mà các vị giáo hoàng và các vị thánh của thế kỷ 20 đã dùng tước hiệu Đồng công cứu chuộc để chỉ vai trò độc đáo của Đức Maria trong công trình cứu chuộc con người, điển hình là việc Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã dùng tước hiệu đồng công cứu chuộc mà gọi Đức Maria đến năm lần trong triều giáo hoàng của ngài (9). Các đức giáo hoàng dùng tước hiệu “Đồng công cứu chuộc” không hề với nghĩa coi Đức Maria là một nữ thần ngang hàng với Chúa Giêsu Kitô cho bằng như cách Thánh Phaolô coi mọi Kitô hữu là “những người cùng làm việc với Thiên Chúa” (1Cor 3:9). Thánh nhân đâu có coi họ là những vị thần ngang hàng với Thiên Chúa duy nhất.

Mọi Kitô hữu đều được gọi cách thích đáng là cộng sự viên hay “đồng công cứu chuộc” với Chúa Giêsu Kitô (xem thư Cl 1:24) trong việc tiếp nhận và hợp tác với ơn thánh cần thiết cho sự cứu chuộc riêng của ta và sự cứu chuộc của người khác, một sự cứu chuộc bản thân có tính chủ quan được công trình cứu chuộc lịch sử có tính khách quan hay việc “mua lại”của Chúa Giêsu Kitô, “Ađam Mới”, Đấng Cứu Chuộc, và Đức Maria, “Evà Mới”, Đấng Đồng Công Cứu Chuộc mang lại.

Đại Kết Kitô Giáo

Phản chứng thứ hai cho rằng xưng tụng Đức Maria là đấng đồng công cứu chuộc là đi ngược lại phong trào Đại Kết, dẫn đến chia rẽ trầm trọng giữa Công Gaío và các hệ phái Kitô giáo khác.

Giáo sư Mark Miravalle cho rằng đây có lẽ là phản chứng thông thường nhất chống lại việc dùng tước hiệu đồng công cứu chuộc, chứ đừng nói đến việc công bố một tín điều về tước hiệu ấy. Tưởng nên sét xem thế nào là đại kết chân chính.

Trong thông điệp “Ut Unum Sint” (xin cho chúng nên một) (Ga 17:21), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã định nghĩa phong trào đại kết Kitô giáo đích thực bằng các hạn từ cầu nguyện như “là linh hồn” và đối thoại như là “thân xác” cùng làm việc hướng tới mục tiêu tối hậu là hiệp nhất Kitô giáo một cách chân thực và bền bỉ (10). Đồng thời, sự thúc bách Công Giáo đòi ta làm việc và cố gắng đạt hiệp nhất Kitô giáo không hề cho phép ta giảm thiểu hay phá hoại bất cứ giáo huấn học lý nào của Công Giáo, bởi những việc như thế vừa thiếu tính toàn vẹn Công Giáo mà đồng thời còn dẫn cuộc đối thoại với các Kitô hữu không Công Giáo ra ngoài các điều Giáo Hội Công Giáo thực sự tin.

Như Công Đồng Vatican II đã dạy một cách rõ rệt về cuộc đối thoại đại kết, “dĩ nhiên, điều thiết yếu là học lý phải được trình bày rõ ràng trong tính toàn bộ của nó. Không gì xa lạ với tinh thần đại kết bằng phương thức giảng hòa giả tạo, một phương thức phá hoại sự tinh ròng của học lý Công Giáo và che khuất ý nghĩa chân thực chắc chắn của nó” (11).

Đức Gioan Phaolô II còn giải thích thêm: “Nói về việc nghiên cứu các phạm vi bất đồng, Công Đồng đòi hỏi toàn bộ học lý phải được trình bày một cách rõ ràng. Đồng thời, Công Đồng cũng yêu cầu rằng cách thế và phương pháp trình bày đức tin Công Giáo không được cản trở cuộc đối thoại với các anh chị em của chúng ta… Dĩ nhiên, việc hiệp thông trọn vẹn phải xẩy ra qua sự chấp nhận toàn bộ chân lý qua đó Chúa Thánh Thần hướng dẫn các môn đệ của Chúa Kitô. Do đó, mọi hình thức của chủ nghĩa giảm thiểu hay ‘nhất trí’ giả tạo cần được tuyệt đối xa lánh” (12).

Như thế cái hiểu chính xác về đại kết theo quan điểm Công Giáo là lệnh truyền chủ yếu đòi Giáo Hội phải cầu nguyện, phải đối thoại, và cùng làm việc trong bác ái và trong chân lý để kiếm tìm sự hiệp nhất Kitô giáo đích thực giữa mọi anh chị em trong Chúa Kitô, mà không thỏa hiệp khi phải trình bày các giáo huấn học lý đầy đủ của Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người tha thiết với sự hiệp nhất Kitô giáo chân thực, cũng đã khẳng định rằng:

“Sự hiệp nhất được Thiên Chúa ước muốn chỉ có thể đạt được bằng cách gắn bó với mọi nội dung của đức tin mạc khải trong tính toàn vẹn của nó. Trong các vấn đề đức tin, thỏa hiệp là mâu thuẫn với Thiên Chúa, Đấng vốn là chân lý. Trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, đấng “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14:6), ai dám coi là hợp pháp việc hòa giải mà lại làm hại đến chân lý cho được?” (13).

Giờ đây, ta hãy áp dụng cái hiểu về đại kết nói trên vào vấn đề Đức Maria là đấng đồng công cứu chuộc. Tước hiệu đồng công cứu chuộc dành cho Đức Maria này đã được giáo huấn giáo hoàng nhiều lần nhắc đến, và học lý về việc đồng công cứu chuộc của Đức Maria hiểu như sự hợp tác độc đáo của Người với Chúa Giêsu Kitô và dưới quyền của Chúa Giêsu Kitô trong công trình cứu chuộc nhân loại đã góp phần tạo nên giáo huấn học lý được lặp đi lặp lại nhiều lần của Công Đồng Vatican II:

… Trong tư cách nữ tỳ Thiên Chúa, Người hoàn toàn hiến mình cho con người và công việc của Con mình, dưới quyền và cùng với người Con ấy, Người phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc, nhờ ơn thánh của Thiên Chúa Toàn Năng. Do đó, các giáo phụ đã chính xác coi Đức Mẹ không chỉ được Thiên Chúa đính kết cách thụ động, mà như người tự ý hợp tác vào công trình cứu chuộc con người bằng đức tin và đức vâng lời (14).

Xa hơn chút nữa, Công Đồng cho hay:

… Như thế, Đức Trinh Nữ Diễm Phúc tiến triển trên hành trình đức tin của Người, và trung thành kiên vững trong hiệp nhất với Con của Người cho đến tận thập giá, nơi, theo đúng kế hoạch của Thiên Chúa, Người đứng cùng chịu với người Con duy nhất do mình sinh ra cái cường độ trong cơn thống khổ của người Con, tự liên kết mình với hy lễ của người Con ấy bằng trái tim của một người mẹ, và âu yếm chấp nhận sự dâng hiến hy lễ vốn từ Người sinh ra” (15).

Công Đồng còn thêm:

“Người thụ thai, sinh hạ và dưỡng nuôi Chúa Kitô, Người dâng Con cho Chúa Cha trong đền thờ, cùng chia sẻ sự thống khổ của Con mình khi người Con ấy chết trên thập giá. Như thế, một cách hết sức độc đáo, bằng đức vâng lời, đức tin, đức cậy và đức mến bừng cháy, Người đã hợp tác vào công trình của Chúa Cứu Thế trong việc tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Vì lý do đó, Người là mẹ của chúng ta trong trật tự ơn thánh” (16).

Bởi thế, rõ ràng việc đồng công cứu chuộc của Đức Mẹ đã làm nên giáo huấn học lý của Giáo Hội Công Giáo và trong tư cách ấy đã được trình bày trong bất cứ tuyên bố chân thực nào về giáo huấn Công Giáo, kể cả trong lãnh vực đối thoại đại kết chân chính.

Cho nên, chủ trương rằng việc đồng công cứu chuộc của Đức Mẹ cả trong tước hiệu lẫn trong học lý đi ngược lại sứ mệnh đại kết của Giáo Hội, trong căn bản, quả đã hiểu lầm chính sứ mệnh đại kết ấy của Giáo Hội vậy. Trọn vẹn học lý Công Giáo, trong đó có học lý về sự đồng công cứu chuộc của Đức Maria, phải được lồng trong bất cứ cuộc đối thoại chân chính nào nhằm tìm kiếm hiệp nhất Kitô giáo. Mặt khác, việc cố ý vắng bóng Đức Maria đồng công cứu chuộc trong cuộc đối thoại đại kết trọn vẹn và trong sứ mệnh đại kết xét chung của Giáo Hội sẽ thiếu tính toàn vẹn và tính công bằng đối với các nhà chủ trương đại kết của Công Giáo so với các Kitô hữu không Công Giáo là những người được quyền mang tới bàn đối thoại trọn bộ học lý đặc thù của họ. Ở đây, ta nên nhớ lại câu hỏi của Đức Gioan Phaolô II đã trích trên kia: “Trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, đấng “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14:6), ai dám coi là hợp pháp việc hòa giải mà lại làm hại đến chân lý cho được?” (17).

Bởi thế, gọi Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Maria là đấng đồng công cứu chuộc dưới ánh sáng Thánh Kinh và Thánh Truyền Kitô giáo không hề đi ngược lại việc đại kết, mà đúng hơn, sẽ tạo nên một thành tố yếu tính cho tính toàn vẹn Kitô giáo do việc đại kết chân thực kia đòi hỏi, vì việc đồng công cứu chuộc của Đức Maria làm nên giáo huấn học lý của Giáo Hội Công Giáo.

Thực ra, nếu học lý đồng công cứu chuộc hiện đang làm một số Kitô hữu khó hiểu, vì đối với họ, nó phảng phất hình ảnh một nữ thần hay đưa ra những quan điểm thái quá về Đức Maria, thì xem ra lại càng thích hợp để phát biểu rõ ràng học lý Thánh Mẫu này cho các anh chị em Kitô hữu của chúng ta trong cuộc đối thoại đại kết. Cũng có thể có ích lợi nữa khi đức giáo hoàng chính thức xác định học lý này, như vậy sẽ cung cấp được sự soi sáng lớn lao nhất từ thẩm quyền cao nhất của Công Giáo. Như lời đức nguyên hồng y New York là John O’Connor từng nói: “Rõ ràng, một xác định chính thức của Đức Giáo Hoàng bằng một ngôn từ chính xác sẽ giúp các Kitô hữu khác hết lo lắng là chúng ta k hông chịu phân biệt một cách đầy đủ giữa việc Đức Maria liên kết độc đáo với Chúa Kitô và quyền lực cứu chuộc chỉ một mình Chúa Kitô có được” (18).

Một cái nhìn đại kết hợp lý khác về việc Đức Maria đồng công cứu chuộc và sau đó vai trò làm mẹ thiêng liêng của Người là trong tư cách mẹ thiêng liêng của mọi người, Đức Maria có thể là phương thế chính tạo sự hiệp nhất giữa anh chị em Kitô hữu đang phân rẽ nhau, chứ không hẳn là trở ngại cho việc hiệp nhất ấy. Mục sư Giáo hội Luthêrô là Tiến sĩ Charles Dickson từng kêu gọi các giáo hội Thệ phản hãy xét lại việc bênh vực tích cực Đức Maria có đầy đủ tài liệu và lòng sùng kính Người nơi nhiều vị sáng lập, như Martin Luther chẳng hạn, trong bài bình luận Kinh Magnificat của ông, đã viết: “Xin Mẹ dịu hiền của Thiên Chúa ban cho con tinh thần khôn ngoan hữu ích và trọn vẹn để con trình bầy bài ca này của Người…Xin Chúa Kitô ban cho chúng ta cái hiểu đúng đắn… nhờ lời cầu bầu và nhân danh Mẹ Maria yêu qúy của Người…” (19). Luther sau đó xưng tụng Đức Maria là “xưởng thợ của Thiên Chúa”, là “Nữ Vương thiên đàng” và tuyên bố: “Đức Nữ Trinh Maria muốn nói đơn giản rằng bài chúc tụng của Người sẽ được ca hát từ đời này qua đời nọ để không bao giờ có lúc nào Người lại không được ca ngợi” (20).

Về vai trò làm mẹ thiêng liêng phổ quát của Đức Maria như dụng cụ tạo hiệp nhất Kitô giáo, Tiến Sĩ Dickson viết tiếp:

“Thời ta, ta vẫn còn đương đầu với sự phân rẽ đáng buồn giữa các Kitô hữu hoàn cầu. Ấy thế nhưng, trước thềm một kỷ nguyên đại kết đầy sáng lạng, Đức Maria như mẫu mực cho công giáo tính, cho phổ quát tính, lại càng trở nên quan trọng. Trong suốt nhiều thế kỷ từ lúc khởi đầu Giáo Hội, chức phận làm mẹ Giáo Hội là một vấn đề. Chức phận làm mẹ này không thể biến mất dù cho có phân rẽ. Đức Maria, nhờ chức phận làm mẹ, đã duy trì được tính phổ quát cho đoàn chiên của Chúa Kitô. Nếu toàn bộ cộng đồng Kitô giáo hướng lên Người, thì khả thể một hạ sinh mới, một hoà giải, sẽ gia tăng. Như thế, Đức Maria, mẹ Giáo Hội, cũng là nguồn suối hòa giải giữa các con cái tan tác và đang phân rẽ của Người” (21)

Đồng Công Cứu Chuộc (3)

Chúa Giêsu, Đấng Trung Gian Duy Nhất

Thỉnh nguyện thư cũng xin Đức Thánh Cha long trọng công bố vai trò trung gian của Đức Mẹ trong nhiệm cục cứu rỗi. Phản chứng thứ ba cho rằng thư thứ nhất gửi Timôtê nói rất rõ: “có một Thiên Chúa duy nhất và một đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người, đó là Chúa Giêsu Kitô” (2:5). Thành thử nếu xưng tụng Đức Maria là đấng trung gian, chẳng hóa ra lại có một đấng trung gian khác, ngoài Chúa Giêsu Kitô hay sao!

Theo Giáo Sư Miravalle, đấng hay người trung gian chỉ là người đứng giữa hai người khác hay hai nhóm khác để kết hiệp hay giảng hòa họ. Áp dụng hạn từ này vào Chúa Giêsu Kitô, quả Thánh Phaolô có nói như trên. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua sự trung gian duy nhất và hoàn hảo của Chúa Giêsu Kitô.

Vấn đề là sự trung gian hoàn hảo của Chúa Giêsu Kitô có ngăn cản hay đúng hơn cho phép người khác tham dự một cách lệ thuộc vào sự trung gian duy nhất ấy hay không? Nói cách khác, sự trung gian duy nhất độc chiếm của Chúa Kitô có ngăn cản tạo vật nào bất cứ không được dự phần vào sự trung gian duy nhất có tính yếu tính ấy hay không? Hay sự hoàn hảo vừa thần linh vừa nhân bản kia có cho phép người khác tham dự vào sự trung gian duy nhất ấy một cách phụ thuộc, ở hàng thứ hai?

Thánh Kinh Kitô giáo cung cấp cho ta nhiều thí dụ điển hình tương tự như vấn đề trung gian ở đây, trong đó, các Kitô hữu có bổn phận phải tham dự vào một điều cũng ‘duy nhất”, độc chiếm và hoàn toàn tùy thuộc ngôi vị Chúa Giêsu Kitô như vậy.

Trước nhất là tư cách (Chúa) Con của Chúa Giêsu Kitô. Chỉ có một Con đích thực duy nhất của Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã được Chúa Cha sinh ra (1Ga 1:4). Nhưng mọi Kitô hữu đều được mời gọi tham dự vào tư cách Con thực sự duy nhất ấy của Chúa Giêsu Kitô bằng cách trở nên “dưỡng tử” trong Chúa Kitô (xem 2Cor 5:17; 1Ga 3:1; Gl 2:20), như một hành vi chia sẻ cùng một tư cách làm Con của Chúa Kitô nhờ phép rửa, là phép giúp các dưỡng tử cùng chia sẻ gia nghiệp với Chúa Con, tức sự sống đời đời.

Thứ đến là sống trong một Chúa Kitô duy nhất. Mọi Kitô hữu đều được kêu gọi chia sẻ “sự sống duy nhất” của Chúa Giêsu Kitô, vì ơn thánh chính là tham dự vào sự sống và tình yêu của Chúa Giêsu Kitô, và qua Người, vào sự sống và tình yêu của Chúa Ba Ngôi. Nên thánh Phaolô dạy rằng: “…không phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2:20). Còn thư thứ hai của Thánh Phêrô thì kêu gọi Kitô hữu trở nên “người chia sẻ thiên tính” để sống trong một Chúa Kitô duy nhất, và qua đó sống trong sự sống Ba Ngôi Thiên Chúa (1:4).

Sau nữa là chức linh mục duy nhất của Chúa Giêsu Kitô. Mọi Kitô hữu cũng được mời gọi chia sẻ, ở mức độ khác nhau, chức linh mục duy nhất của Chúa Giêsu Kitô. Thư Do Thái nhận dạng Chúa Giêsu Kitô như “linh mục thượng phẩm” duy nhất (xem Dt 3:1; 4:14; 5:10), Đấng dâng mình làm hy lễ tối cao trên đồi Calvary. Ấy thế nhưng Thánh Kinh vẫn kêu gọi mọi Kitô hữu tham dự vào chức linh mục duy nhất ấy của Chúa Giêsu Kitô, dĩ nhiên ở mức độ tham dự khác nhau, hoặc thừa tác viên (xem Cv 14:22) hoặc vương đế (xem 1Pr 2:9), bằng cách dâng lên “hy lễ thiêng liêng”. Mọi Kitô hữu đều được giáo huấn để “dâng lên các hy lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa” (1Pr 2:5, 9).

Trong tất cả các trường hợp trên, Tân Ước đều mời gọi Kitô hữu chia sẻ điều vốn duy nhất và độc hữu là của Chúa Giêsu Kitô, Đấng là Alpha và Omega, là Đầu Hết và là Tận Cùng, trong các mức độ tham dự tuy chân thực nhưng hoàn toàn lệ thuộc. Thành thử ra, trong trích dẫn Chúa Kitô như Đấng Trung Gian duy nhất (1Tm 2:5), ta thấy cùng một lệnh truyền của Kitô giáo đòi ta phải tham dự vào sự trung gian duy nhất của Chúa Giêsu Kitô, nhưng trong một trung gian đệ nhị đẳng hoàn toàn lệ thuộc sự trung gian hoàn hảo duy nhất của Chúa Giêsu Kitô.

Như thế câu hỏi Kitô học chủ yếu ta cần phải đặt ra là: Việc chia sẻ tùy thuộc ấy vào sự trung gian duy nhất của Chúa Kitô có che khuất mất sự trung gian duy nhất ấy không hay đúng hơn nó làm nổi bật vinh quang của sự trung gian duy nhất ấy? Câu hỏi này được trả lời dễ dàng khi ta tưởng tượng thế giới hiện đại ngày nay mà không có “các dưỡng tử trong Chúa Kitô”, không có những Kitô hữu ngày nay biết chia sẻ sự sống duy nhất của Chúa Giêsu Kitô trong ơn thánh hay không có các Kitô hữu biết dâng các hy lễ thiêng liêng trong cùng một chức linh mục duy nhất của Chúa Kitô. Không có sự tham dự nhân bản như thế mới đem đến sự che khuất tư cách làm Con duy nhất, chức Linh Mục Thượng Phẩm duy nhất, và chính sự Sống ơn thánh nơi Chúa Giêsu Kitô.

Nguyên tắc ấy cũng đúng đối với việc tham dự vào sự trung gian duy nhất của Chúa Giêsu Kitô một cách tùy thuộc và lệ thuộc: con người nhân bản càng tham dự vào sự trung gian duy nhất của Chúa Giêsu Kitô, thì sự hoàn hảo, uy lực và vinh quang của sự trung gian duy nhất và cần thiết của Chúa Giêsu Kitô càng được tỏ lộ cho thế gian.

Mặt khác, Thánh Kinh Kitô Giáo còn cung cấp cho ta một số điển hình các vị trung gian nhân bản được Thiên Chúa thiết lập để, theo sáng kiến của Người, hợp tác trong việc kết hiệp nhân loại với Thiên Chúa. Các tiên tri vĩ đại của Cựu Ước chính là các trung gian giữa Chúa Giavê và dân Người, do chính Người tấn phong, thường là để dẫn dân Do Thái quay về trung thành với Chúa Giavê (xem Is 1; Gr 1; Ed 2). Các tổ phụ của Cựu Ước như Abraham, Isaac, Giacóp và Môsen v.v… đều là các vị trung gian, do chính sáng kiến của Thiên Chúa, trong giao ước cứu rỗi giữa Chúa Giavê và dân tộc Israel (xem St 12:2; 15:18; Xh 17:11). Thánh Phaolô nhận diện sự trung gian lề luật của Môsen đối với dân Israel như sau: “Như vậy vì sao mà có Luật? Luật đã được Thiên Chúa truyền ban qua một trung gian” (Gl 3:19-20). Các thiên thần cũng thế, qua hàng trăm hành vi trung gian suốt thời Cựu Ước và Tân Ước, quả là các sứ giả của Thiên Chúa, sẵn sàng làm trung gian hoà giải giữa Thiên Chúa và gia đình nhân loại, cả trước và sau khi Chúa Kitô, đấng Trung Gian duy nhất, xuống thế (Xem St 3:24; Lc 1:26; Lc 1:19).

Về Đức Maria, Thánh Kinh Kitô giáo cũng rõ ràng mạc khải sự tham dự đệ nhị đẳng và lệ thuộc của Mẹ Chúa Giêsu vào sự trung gian duy nhất của Chúa Giêsu Kitô. Lúc Truyền Tin, lời thưa “vâng” đầy tự do và tác động đối với lời mời của thiên thần đã trung gian đưa đến cho thế gian Chúa Gisêu Kitô, Đấng Cứu Chuộc trần gian và là Tác Giả mọi ơn thánh (xem Lc 1:38). Vì sự tham dự độc đáo này qua việc trao ban cho Đấng Cứu Chuộc thân xác trần gian của Người và trung gian Nguồn Suối ơn thánh cho thế gian, nên Đức Maria xứng đáng được xưng tụng là đấng cứu chuộc và là đ1âng trung gian mọi ơn thánh, trong tư cách một người tham dự cách độc đáo vào sự trung gian duy nhất của Chúa Giêsu Kitô.

Việc tham dự độc đáo của Đức Maria vào sự trung gian của Chúa Kitô, nhất là vào việc Cứu Chuộc của Người, lên cao nhất trên đồi Calvary. Dưới chân thánh giá, sự thống khổ của Đức Mẹ hiệp làm một với hy lễ cứu chuộc của Con mình, như là Evà Mới và Ađam Mới, đã dẫn tới hoa trái thiêng liêng phổ quát của việc thủ đắc các ơn thánh cứu chuộc là điều ngược lại sẽ dẫn tới quà phúc tình mẫu tử thiêng liêng do chính trái tim Chúa Kitô Chịu Đóng Đinh ban tặng cho mọi trái tim nhân bản: “Này là mẹ con!” (Ga 19:27). Quà phúc của Đấng Cứu Chuộc là chính mẫu thân của Người làm mẹ thiêng liêng cho toàn thể nhân loại dẫn đến việc nuôi dưỡng thiêng liêng của Bà Mẹ dành cho con cái mình trong trật tự ơn thánh. Điều ấy tạo nên việc Đức Maria phân phối các ơn thánh trên đồi Calvary cho các con cái thiêng liêng của mình trong tư cách đấng trung gian mọi ơn thánh, một tư cách mãi mãi tiếp diễn việc Người tham dự cách độc đáo vào sự trung gian cứu rỗi duy nhất của Chúa Giêsu Kitô.

Đức Gioan Phaolô II giải thích cái hiểu của Công Giáo về sự tham dự độc đáo trên nơi Đức Maria vào sự trung gian duy nhất của Chúa Giêsu Kitô như sau:

Một cách hết sức độc đáo, Đức Maria bước vào sự trung gian duy nhất “giữa Thiên Chúa và con người” tức sự trung gian của con người mang tên Giêsu Kitô… Ta phải nói rằng nhờ sự sung mãn ơn thánh và sự sống siêu nhiên này, Người đặc biệt được sắp xếp từ trước cho việc hợp tác với Chúa Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất đem cứu rỗi đến cho con người. Sự hợp tác như thế chính là sự trung gian tùy thuộc sự trung gian của Chúa Kitô. Nơi Đức Maria, ta có sự trung gian đặc biệt và ngoại hạng.

Trong bài chú giải về câu 1Tm 2:5 và sự trung gian đầy mẫu tử của Mẹ Maria, Đức Gioan Paholô II nói thêm:

Ta nhớ rằng sự trung gian của Đức Maria chủ yếu được xác định nhờ chức làm mẹ Thiên Chúa của Người. Mặt khác, việc nhìn nhận vai trò làm đấng trung gian của Người vốn đã mặc nhiên ngay trong thuật ngữ “Mẹ chúng con”, một thuật ngữ trình bày cho ta học thuyết về sự trung gian của Đức Mẹ bằng cách nhấn mạnh đến tư cách làm mẹ của Ngài… Khi tuyên xưng Chúa Kitô là Đấng Trung Gian duy nhất (xem 1Tm 2:5-6), bản văn của Thư Thánh Phaolô gửi Timôtê quả có loại bỏ bất cứ sự trung gian song hành nào khác, nhưng đâu có loại bỏ sự trung gian lệ thuộc. Trên thực tế, trước khi nhấn mạnh tới sự trung gian độc hữu duy nhất của Chúa Kitô, tác giả bức thư thúc giục “ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người” (2:1). Há lời cầu nguyện không phải là hình thức trung gian đó ư? Quả thực, theo Thánh Phaolô, sự trung gian duy nhất của Chúa Kitô có mục đích khuyến khích các hình thức trung gian khác có tính tùy thuộc, thừa tác vụ… Đúng vậy, sự trung gian mẫu tử của Đức Maria là gì nếu không phải là quà phúc Chúa Cha ban cho nhân loại? (23)

Cho nên, ta có thể coi việc Đức Maria tham dự vào sự trung gian duy nhất của Chúa Giêsu Kitô là độc đáo và khôn sánh so với bất cứ sự tham dự nhân bản hay thiên thần nào, nhưng lại hoàn toàn lệ thuộc và tùy thuộc vào sự trung gian duy nhất của Chúa Giêsu Kitô. Hiểu như thế, sự trung gian mẫu tử của Đức Maria biểu lộ vinh quang và uy lực chân thực của Đấng Trung Gian duy nhất là Chúa Giêsu Kitô như không còn đấng nào khác. Các tước hiệu và vai trò đồng công cứu chuộc và trung gian mọi ơn thánh (và cả bào chữa nữa) không có cách chi vi phạm điều cấm kỵ trong đoạn 1Tm 2:5 vốn không cho phép bất cứ hình thức trung gian song hành, độc lập và đối thủ nào khác, nhưng chỉ nói lên sự tham dự hết sức độc đáo, ngoại hạng và đầy tình mẫu tử vào sự trung gian cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô.

Như lời nhà học giả Anh Giáo của Oxford, là Tiến sĩ John Macquarie, đã nói:

Không thể giải quyết vấn đề này [sự trung gian của Đức Maria] bằng cách nại tới cái nguy hiểm của việc nói quá hay lạm dụng, hoặc bằng cách trích dẫn những bản văn rời rạc của Thánh Kinh như là câu đã trích ở trên từ 1Tm 2:5 hoặc bằng ý muốn đừng nói bất cứ điều gì có thể phật lòng người đối tác với mình trong cuộc đối thoại đại kết. Những người háo hức thiếu suy nghĩ có thể nâng địa vị Đức Maria lên gần như ngang hàng với Chúa Kitô, nhưng sự sai lầm như thế không là hậu quả nhất thiết của việc nhìn nhận rằng có thể có sự thật trong khi người ta cố gắng đạt được các thuật ngữ như đấng nữ trung gian và đấng nữ đồng công cứu chuộc.

Mọi thần học gia có trách nhiệm hẳn sẽ nhất trí rằng vai trò đồng công cứu chuộc của Đức Maria tùy thuộc và trợ tá cho vai trò trung tâm của Chúa Kitô. Nhưng nếu Người có một vai trò như thế, thì càng hiểu biết nhiều hơn về nó bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Và cũng như các học lý khác liên quan đến Đức Maria, nó không chỉ đề cập đến điều gì đó liên quan đến Người mà thôi, nhưng còn nói đến một điều gì đó tổng quát hơn về Giáo Hội như một toàn bộ, và cả về thế giới như một toàn bộ nữa (24).

Hoạt Động Nhân Thần

Phản chứng thứ tư tương tự như phản chứng thứ ba trên đây, nhưng nhấn mạnh đến khía cạnh hoạt động nhân thần (theandric activity) nơi công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô.

Phần lớn câu trả lời cho phản chứng này đều đã được trình bầy ở phần trên, khi ta nhấn mạnh đến khía cạnh tùy thuộc và lệ thuộc trong sự đồng công cứu chuộc và trung gian của Đức Mẹ. Ở đây, Giáo Sư Mark Miravalle chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh Đức Maria tham dự tích cực vào hành vi cứu chuộc của Thiên Chúa.

Theo ông, sinh hoạt nhân thần có ý nói tới hoạt động của Chúa Giêsu Kitô được tiến hành nhờ cả hai bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại của Người. Theo phản chứng này, vì hành vi Chúa Giêsu Kitô cứu chuộc nhân thế là một sinh hoạt nhân thần, còn Đức Maria chỉ là một phàm nhân, các hoạt động của Ngài không có tính nhân thần và do đó, Ngài không thể tích cực dự phần vào việc cứu chuộc ấy được. Do đó, Đức Maria không thể nào chính xác gọi là đấng đồng công cứu chuộc được, vì từ ngữ này có nghĩa là Người cùng Chúa Cứu Chuộc “mua lại” nhân loại.

Theo giáo sư Miravalle, muốn trả lời phản chứng này, ta nên trở lui với nghĩa cốt yếu tầm nguyên của chữ “co-redemptrix” (nữ đồng công cứu chuộc). Trong La Ngữ, “cum” nghĩa là “với”, “re(d)emere” nghĩa là “mua lại” (chuộc) còn “trix” chỉ “người làm điều gì đó” ở giống cái. Như thế “co-redemptrix” có nghĩa là “người đàn bà với đấng cứu chuộc” hay “người đàn bà mua lại với đấng cứu chuộc”. Không hề có nghĩa ngang hàng với đấng cứu chuộc.

Theo nghĩa dùng trong Giáo Hội Công Giáo, hạn từ “nữ đồng công cứu chuộc” này diễn tả việc Đức Maria tham dự cách tích cực và độc đáo vào hành vi cứu chuộc có tính nhân thần của Chúa Giêsu Kitô. Sự tham dự này triệt để tùy thuộc và lệ thuộc hành vi cứu chuộc có tính nhân thần của Chúa Giêsu Kitô, vì chính sự hoàn hảo của hoạt động cứu chuộc nhân thần kia cho phép, chứ không ngăn cấm, các trình độ tham dự chân thực và tích cực của con người.

Mặc dù phân biệt hành vi nhân thần với hành vi nhân bản là điều chính đáng, nhưng sẽ đi ngược lại Thánh Kinh Kitô giáo và truyền Thống Kitô giáo, cả thời xưa lẫn ngày nay, khi bác khước sự tham dự tích cực của con người vào hoạt động nhân thần của Chúa Giêsu Kitô.

Tích cực tham dự vào hoạt động nhân trần không đòi hỏi người tham dự cũng phải có cả hai bản tính nhân thần. Hiểu như thế là hiểu sai sự phân biệt giữa “hữu thể” (người sở hữu yếu tính và thuộc tính đặc thù của chính con người mình) và “tham dự” (chia sẻ yếu tính và thuộc tính đặc thù của người khác). Như thế, Đức Maria, vì là một tạo vật nhân bản có thể tích cực tham dự vào hoạt động cứu chuộc có tính nhân thần của Chúa Giêsu Kitô dù chính Người không sở hữu yếu tính thần tính như một thuộc tính đặc thù. Cũng tương tự như thế, mọi Kitô hữu đều cùng chia sẻ bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô (xem 2Pr 1:4) tuy không phải là các thần minh; tham dự vào tư cách con của Chúa Giêsu Kitô (xem Gl 4:4) dù không được Chúa Cha sinh ra; chia sẻ sự trung gian của Chúa Kitô (xem Gl 3:19, 1Tm 2:1) dù không phải là Đấng Trung Gian nhân thần duy nhất (1Tm 2:5).

Trên đây đã nhắc đến các chứng cớ của Thánh Kinh và của Thánh Truyền cũng như của các vị Giáo Hoàng và của Công Đồng Vatican II về sự tham dự tích cực này của Đức Maria. Ở đây chỉ xin trích dẫn thêm một vài chứng cớ nữa.

Thánh Albertô Cả, cùng thế kỷ với Thánh Bonaventura, cho hay: “Chỉ có Ngài được đặc ân này là hiệp thông trong cuộc Khổ Nạn… Và để biến Ngài thành người chia sẻ ơn phúc Cứu Chuộc, Chúa muốn Ngài là người chia sẻ hình phạt Khổ Nạn, đến mức Ngài trở thành mẹ mọi người qua tạo dựng mới…” (33).

Qua thế kỷ 14, John Tauler viết: “Thiên Chúa chấp nhận sự dâng hiến của ngài như lễ hy sinh đẹp lòng cho sự hữu ích và cứu rỗi của toàn thể nhân loại…Người từng nói trước với Mẹ (Maria) mọi khổ nạn của Mẹ qua đó Người biến Mẹ thành người chia sẻ mọi huân nghiệp và mọi đau đớn của Người, và Mẹ sẽ cộng tác với Người trong việc tái lập loài người vào ơn cứu rỗi” (34)

Một thánh ca thời Trung cổ từng ngợi khen: “…như đấng cùng đau khổ với Chúa Cứu Chuộc, để cứu vớt kẻ tù ngục tội lỗi, Mẹ quả là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc” (35).

Giáo huấn Kitô giáo về Đấng Nữ Đồng Công Cứu Chuộc tiếp diễn liên tục từ thời Trung Cổ qua thời cận đại (36) như đã được chứng tỏ qua tuyển tập tiêu biểu các trích dẫn sau đây:

“Các thánh và các vị tiến sĩ hiệp nhất với nhau xưng tụng Đức Bà Diễm Phúc là đấng đồng công cứu chuộc thế gian. Không thể nghi ngờ sự bất chính trong việc sử dụng ngôn từ này, vì có cả một thẩm quyền trổi vượt bênh vực nó…” (Faber, thế kỷ 19) (37).

“Chúng ta nghĩ tới các công phúc ngoại thường khác qua đó, Người chia sẻ với Chúa Giêsu, Con Người, trong việc cứu chuộc nhân loại… Người không những chỉ hiện diện trong các mầu nhiệm Cứu Chuộc, nhưng còn can dự vào các mầu nhiệm ấy nữa…” (Đức Lêô XIII, thế kỷ 19) (38).

“Căn cứ vào mức độ Người đau đớn và hầu như chết đi cùng cới người Con đau đớn và đang hấp hối của mình; căn cứ vào mức độ Người hy sinh quyền làm mẹ đối với người Con của mình cho phần rỗi nhân loại, và hiến tế người Con ấy, để nguôi đức công bằng của Thiên Chúa, ta có quyền nói rằng Người quả đã cứu chuộc loài người chúng ta cùng với Chúa Kitô” (Đức Bênêđíctô XV, thế kỷ 20) (39).

“Căn cứ vào bản chất công việc của Người, Chúa Cứu Chuộc hẳn đã liên hợp Mẹ của Người vào công trình của mình. Vì lý do đó, chúng ta kêu cầu Đức Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc” (Đức Piô XI, thế kỷ 20) (40)

Trên kia, Giáo sư Miravalle đã trích dẫn Công Đồng Vatican II nhiều lần về vấn đề này. Cả Đức Gioan Phaolô II nữa. Tiếc rằng vì tài liệu này được soạn thảo dưới thời Đức Gioan Phaolô II, nên không có lời trích dẫn nào của Đức Đương Kim Giáo Hoàng.

Nhưng sự tham dự của Đức Maria trong tư cách đồng công cứu chuộc vào công trình cứu vớt nhân loại khác với ơn gọi tổng quát kêu mời mọi Kitô hữu tham dự vào việc cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô ra sao?

Thánh Kinh Kitô giáo quả có kêu gọi mọi Kitô hữu “bù đắp điều còn thiếu trong các thống khổ của Chúa Kitô vì lợi ích nhiệm thể Người là chính Giáo Hội” ( Cl 1:24). Giáo huấn này của Thánh Phaolô không có ý nói tới sự tham dự của mọi Kitô hữu vào việc cứu chuộc có tính lịch sử và phổ quát trên đồi Calvary nơi Chúa Giêsu thủ đắc các ơn Cứu Chuộc bằng cuộc khổ nạn và cái chết của Người (thần học thường gọi điều này là “sự cứu chuộc khách quan”). Và nếu thế, thì quả là không chính xác khi ám chỉ có điều “thiếu sót” trong các thống khổ cứu chuộc có tính lịch sử, cùng xẩy ra với huân nghiệp cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô, một huân nghiệp tự nó là vô biên và không thể nào múc cạn hết được.

Đúng hơn, giáo huấn của Thánh Phaolô muốn nói tới lệnh truyền buộc Kitô hữu qua cộng tác tự do, qua cầu nguyện và hy sinh, dự phần vào việc tuôn trào và phân phối các ơn thánh vô biên do Chúa Giêsu thủ đắc được trên đồi Calvay cho gia đình nhân loại (thần học thường gọi điều này là “sự cứu chuộc chủ quan”). Giống như mọi trái tim nhân bản phải tích cực đáp ứng trong tự do đối với ơn thánh cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô cho sự cứu chuộc bản thân, chủ quan của mình thế nào, thì Kitô hữu cũng được mời gọi tham dự tích cực vào việc tuôn trào và phân phối các ơn thánh cứu rỗi cho người khác như thế nữa, và, bằng cách này, “bù đắp” điều Thánh Phaolô gọi là “thiếu” trong các thống khổ của Chúa Kitô cho lợi ích của nhiệm thể Người. Về phương diện này, Kitô hữu quả có tham dự vào sự cứu chuộc chủ quan, tức việc phân phối các ơn cứu rỗi trong tư cách “cộng tác viên của Thiên Chúa” (1Cor 3:9) hay “đồng cứu chuộc” như cách nói của các vị giáo hoàng thời hiện đại (45).

Sự tham dự có tính cứu chuộc của Đức Maria khác với ơn gọi chung các Kitô hữu tham dự vào việc phân phối ơn thánh cứu rỗi trong việc cứu chuộc có tính cá thể, chủ quan bản thân, vì chỉ một mình Đức Maria là tham dự vào sự cứu chuộc khách quan, có tính lịch sử và phổ quát, dĩ nhiên một cách lệ thuộc và phụ thuộc hoàn toàn vào Đấng Cứu Chuộc, như Evà Mới cùng với Ađam Mới và dưới quyền Ađam này. Vì lý do này, tước hiệu đồng công cứu chuộc chỉ có thể dành cho Đức Maria mà thôi. Đây là giáo huấn của Đức Gioan Phaolô II, phát biểu năm 1997:

Sự cộng tác của Kitô hữu vào sự cứu rỗi xẩy ra sau biến cố Calvary, mà hoa trái được họ cố gắng phân phối qua cầu nguyện và hy sinh. Nhưng Đức Maria thì khác, Người cộng tác vào ngay biến cố đang xẩy ra ấy và cộng tác trong vai trò làm mẹ; như thế, sự cộng tác của Người bao trùm trọn bộ công trình cứu chuộc của Chúa Kitô. Chỉ một mình Người hiệp nhất cách đó với lễ hy sinh cứu chuộc đem lại sự cứu rỗi cho nhân loại (46).

Bởi thế, tước hiệu và chân lý về Đức Maria Đồng Công Cứu Chuộc theo cái nhìn của Thánh Kinh Kitô giáo và Truyền Thống Kitô Giáo đã tăng cường tính chính đáng và mang hoa trái thiêng liêng cho việc tham dự nhân bản tích cực vào hành động nhân thần cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô. Đối với Đức Maria Đồng Công Cứu Chuộc, việc tham dự vào cứu chuộc này cấu thành việc tham dự cả vào việc thủ đắc lẫn phân phối các ơn cứu chuộc; còn đối với mọi Kitô hữu khác, họ chỉ tham dự vào việc phân phối các ơn cứu chuộc trong tư cách cộng tác viên của Chúa Kitô. Như đã được nhà thần học của Vatican là Cha Jean Galot, S.J., tóm kết trên tờ L’Osservatore Romano, cơ quan ngôn luận bán chính thức của Tòa Thánh:

Tước hiệu Nữ Đồng Công Chuộc Tội bị chỉ trích vì nó có thể gợi ý một sự ngang hàng giữa Đức Maria và Chúa Kitô. Lời chỉ trích ấy không có nền tảng… Đồng công cứu chuộc bao hàm một lệ thuộc vào công trình cứu chuộc của Chúa Kitô, vì nó chỉ là một hợp tác chứ không phải là một công trình độc lập và song song. Bởi thế, ta phải loại bỏ ngay sự ngang hàng với Chúa Kitô…” (47).