CHỦ THUYẾT XÃ HỘI CÔNG GIÁO CỦA CHÂN PHÚC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
Năm 1978, khi Ðức Hồng Y Karol Wojtyla, người Ba Lan (Poland), một
quốc gia đang thuộc khối Cộng Sản ở Đông Âu Châu, đăng quang Giáo
Hoàng; cả thế giới nói chung và giáo hội Công Giáo nói riêng đã chờ
đợi những thay đổi đặc biệt nơi ngài.
Sau khi minh định đường lối thần học của ngài qua hai tông huấn
(encyclicals) “Ðấng Cứu Thế” (Redemptor Hominis, 1979) và “Giàu Lòng
Từ Tâm” (Dives in Misericordia, 1980), Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II đã thực sự cho thế giới biết chiều hướng xã hội của ngài
qua tông huấn “Lao Ðộng” (Laborem Exercens) vào năm 1981. Một chủ
thuyết xã hội Công Giáo mới đã được thành hình.
Năm 1971, nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày ban hành tông huấn về lao
động “Rerum Novarum” (Tân Vụ) của ÐGH Lêo XIII, 1891; ÐGH Phaolô VI
đã gửi đến Ðức Hồng Y Maurice Roy, Chủ Tịch Ủy Ban Giáo Hoàng (1) về
Công Lý và Hòa Bình (Justitia et Pax), tông thư (apostolic letter)
“Bát Thập Chu Niên” (Octogesima Adveniens). Trong đó, Ngài đã cảnh
cáo mọi người Công Giáo không được theo chủ nghĩa xã hội kiểu
Marxism (thuyết Mác-xít), nhưng vẫn mở cửa cho các mẫu chủ thuyết xã
hội khác còn dành chỗ đứng cho chiều hướng tôn giáo. Là người đến từ
Ba-Lan, lúc đó đang theo chủ nghĩa Cộng Sản (cho đến năm 1989), Đức
Thánh Cha (ÐTC) Gioan Phaolô II đã dựa theo tinh thần tông thư nói
trên của ÐGH Phaolô VI, để trình bày những nguyên tắc về công bằng
xã hội phù hợp cho cả thế giới trong thời đại hiện tại. Trọng tâm
của chủ thuyết này là: Lao Ðộng Thì Ưu Tiên Hơn Tư Bản.
Theo tông huấn Lao Ðộng, một nền “kinh tế tư bản” được định nghĩa là
nền kinh tế đã đặt “tư bản ưu tiên hơn lao động.” Vì vậy, ngay cả
những nền kinh tế tự cho là “xã hội” vẫn bị kết án là kinh tế tư
bản, nếu vi phạm điều nêu trên. (Định nghĩa tổng quát về kinh tế tư
bản là: “Một hệ thống kinh tế, theo đó các phương tiện sản xuất đều
thuộc quyền của tư nhân hay tổ hợp và tạo lợi nhuận.” Các “phương
tiện sản xuất” này, ngoài những dụng cụ, máy móc, còn bao gồm cả
công nhân, thợ thuyền, nhân viên hành chính… Họ chẳng bao giờ được
coi là “ưu tiên” hơn giới chủ nhân.) ÐTC đã nêu rõ rằng phong trào
lao động và quyền lực chính trị đã làm biến dạng chủ nghĩa tư bản
thành “Tân Tư Bản Chủ Nghĩa” (Neo-capitalism). Ðó là một hệ thống xã
hội chỉ nhằm đến những tiến bộ và phồn thịnh vật chất. Trong thế
giới ngày nay, với những tương giao quốc tế mở rộng đến tất cả các
quốc gia, không phân biệt lớn-nhỏ, giàu-nghèo; tân tư bản chủ nghĩa
đã tạo nên những mối áp bức mới, đè lên những nước nhược tiểu.
Hệ thống kinh tế đề nghị trong tông huấn Lao Ðộng đã hình thành một
chủ thuyết xã hội với những đặc tính như sau:
Chủ thuyết xã hội đạo đức
Chủ thuyết xã hội của ÐTC Gioan Phaolô II khác biệt hẳn với cái gọi
là khoa học xã hội chủ nghĩa của những người cộng sản. Theo họ, toàn
bộ ngôn ngữ của đạo đức và công lý đều thuộc về nền văn hóa địa chủ
và trưởng gỉa (Bourgeois), vì vậy chúng mang ý nghĩa phản động. Chủ
thuyết của ÐTC cũng ngược hẳn với chủ nghĩa tư bản đã đặt kỹ thuật,
xã hội lên trên hết, tạo nên những đau khổ cho con người và đưa một
phần lớn nhân loại đến chỗ khốn cùng. Là chủ thuyết xã hội đạo đức
vì phong trào nhân công thoát thai từ chủ thuyết này đã có căn bản
đạo đức. Nhân dân liên kết đấu tranh cho quyền lợi chung của họ với
chủ trương công lý cho tất cả. Phong trào đòi hỏi liên kết, trung
tín, hi sinh, lo lắng cho nhau (những gía trị đạo đức). Ngoài ra,
những Kitô hữu tham gia phong trào đã đặt căn bản trên đức tin, hợp
nhất với ước mong của giáo hội là trung thành với Ðức Giêsu Kitô.
Chủ Thuyết Giải Phóng
Chủ thuyết xã hội của ÐTC Gioan Phaolô II khác biệt hoàn toàn với
“Lý tưởng xã hội” của Karl Marx (Các-Mác) và Friedrick Engels
(Ăng-gen), hoặc xã hội kiểu Fabian đang ảnh hưởng đến đảng Lao Ðộng
ở Anh Quốc và Gia Nã Ðại (Canada.) Chủ thuyết của ÐTC kêu gọi công
nhân đoàn kết đấu tranh dành lại quyền ưu tiên cho lao động lên trên
tư bản. Tư tưởng xã hội đã nẩy sinh, đưa đến chiến thắng qua phong
trào nhân công.
Chủ thuyết hợp tác
Hợp tác trên hai lãnh vực: Thứ nhất, chủ thuyết xã hội của ÐTC biến
công nhân trở thành chủ nhân và cùng chịu trách nhiệm về những đường
lối của công ty, hãng, xưởng. Thứ hai, kế hoạch trung ương do chính
phủ hướng dẫn phải để cho các công ty, hãng, xưởng có tiếng nói và
tôn trọng quyền lợi địa phương.
Chủ thuyết có chiều hướng quốc tế
Vì tài nguyên thiên nhiên trên thế giới chỉ có giới hạn và không
đồng đều, do đó cần phải có sự hợp tác giữa các quốc gia giàu tài
nguyên và các nước nghèo, có ít hoặc không có tài nguyên gì cả. Chỉ
có hệ thống hợp tác thế giới này mới mang trọn vẹn ý nghĩa của xã
hội chủ nghĩa.
Chủ thuyết canh tân
Chủ thuyết xã hội của ÐTC Gioan Phaolô II không đặt đối tượng trực
tiếp vào những nước nghèo, nhưng chỉ chuyển ý nghĩa chung đến các
quốc gia này. Ðể đạt được công lý, cần phải có những canh tân trong
xã hội, và nếu cần, vấn đề một cuộc cách mạng cũng có thể đề cập
tới. Tuy nhiên, chủ thuyết đã nói nhiều tới các xã hội kỹ thuật của
các nước Ðông (Cộng Sản) và Tây (Tư Bản). Ðối với các quốc gia còn
theo cộng sản (năm 1981), tông huấn đã ngầm nhắc tới phong trào Công
Đoàn Đoàn Kết (Solidarnosc, Solidarity) ở Ba Lan. (Đến năm 1989,
Công Đoàn này đã trở thành khởi điểm của cuộc cách mạng đòi dân chủ,
“giải phóng” toàn cõi Đông Âu, Liên Bang Soviet (Soviet Union,
Nga-sô hay Liên-xô) và nhiều quốc gia khác khỏi những chính phủ Cộng
Sản.) Những luật lệ hiện hành cần phải cải đổi, đưa tinh thần dân
chủ vào các công ty, hãng, xưởng và mở rộng sự hợp tác cho công nhân
tại guồng máy trung ương. Ðối với các nước tư bản, các Kitô hữu đã
được kêu gọi ủng hộ các phong trào có chiều hướng cải tiến đời sống
chung trong xã hội. Tóm lại, giới công nhân phải đấu tranh để biến
cải các hệ thống hiện hữu, nhằm đưa tư bản phục vụ lao động.
Chủ thuyết hóa giải được Marxism (thuyết Mác-xít)
Một vài mẫu mực của Marxism đã được tông huấn xử dụng, đặc biêt
trong lãnh vực nhân bản vài cải cách. Quan niệm con người như một
“người làm việc tự tạo qua lao động,” đã là kết qủa của nhiều năm
đương đầu với Marxism. Ðây là đòn “dùng gậy ông đập lưng ông” mà ÐTC
đã xử dụng hết sức khéo léo và tinh tế để hóa giải toàn bộ lý thuyết
của Marx.
Chủ thuyết phi ý thức hệ
Chủ thuyết xã hội của ÐTC biệt lập hẳn với những xã hội chủ nghĩa
khác đã có liên hệ với triết thuyết của lịch sử. Ý thức hệ
(Ideology), theo sự định nghĩa của tông huấn, luôn luôn đến từ những
phân tách của các biến đổi lịch sử, để rồi bị trừu tượng hóa bởi
những hoàn cảnh lịch sử này và tạo nên một gía trị mông lung. Ý thức
hệ làm cho con người trở nên mù quáng, phân tích sai lạc, gây tổn
hại cho tất cả. Ý thức hệ không dám công nhận con người là chủ thể,
do đó lịch sử không thể phỏng đoán cách khoa học được. Ngoài ra, chủ
thuyết của ÐTC còn khuyến khích sự hợp tác với tất cả những phong
trào xã hội khác, miễn là họ có cùng một mục đích đấu tranh. Qua
tông huấn Lao Ðộng, người Kitô hữu chú trọng đến hai mục đích chính.
Ðưa tinh thần dân chủ vào các nơi làm việc và tạo một hệ thống chính
trị có thể gây dựng một kế hoạch kinh tế hợp lý.
ẢNH HƯỞNG CỦA TÔNG HUẤN LAO ÐỘNG
Tông huấn Lao động đã gây được ảnh hưởng sâu rộng đến cả hai thế
giới cộng sản và tư bản, đồng thời sửa sai một vài qúa lố hoặc sai
lầm ở đệ tam thế giới, đặc biệt là phong trào Thần Học Giải Phóng ở
châu Mỹ La Tinh (từ Mexico trở xuống Nam Mỹ Châu). Tại các nước cộng
sản, đặc biệt ở Ba Lan, tông huấn đã trở nên kim chỉ nam cho Công
Ðoàn Ðoàn Kết. Cuộc đấu tranh của công đoàn, ở thời điểm này (1981),
tuy đã bớt phần sôi động bề ngoài, nhưng cường độ của sự tranh đấu
vẫn không kém lúc trước. Công đoàn đã đạt được những thắng lợi đáng
kể làm gia tăng mức sống cho các nhân công.
Tại các nước tư bản, đặc biệt là Hoa Kỳ và Gia Nã Ðại (Canada), các
Hội Ðồng Giám Mục của hai nước này đã soạn thư mục vụ về công bằng
xã hội, gây sôi nổi không ít trong các từng lớp dân chúng. Các Ðức
Giám Mục Canada, trong ngày đầu năm 1983, đã công bố thư mục vụ tựa
đề “Những suy tư luân lý về cuộc khủng hoảng kinh tế” (Ethical
Reflections on the Economic Crisis). Các ngài đã mạnh dạn lên tiếng:
“Những thực tại kinh tế minh chứng rằng đã có những sai lầm luân lý
trong xã hội.” Các ngài đòi hỏi một sự thay đổi kinh tế nhằm đặt ưu
tiên trên sự cung cấp cho dân chúng những nhu cầu cần thiết, trên
giá trị của nhân công và trên sự phân phát tài nguyên và quyền lực
đồng đều cho dân chúng và các địa phương. Bức thư đã được giáo hội
Anh Giáo ở Canada nhiệt liệt ủng hộ. Ðồng thời tại các xứ đạo, dân
chúng đã hội họp, thảo luận nhằm hành động hóa giáo huấn của Ðức
Thánh Cha.
Tại Hoa Kỳ, đã hai lần Hội Ðồng Giám Mục soạn thư mục vụ về công
bằng xã hội. Bản thảo thứ nhất được công bố ngày 11/11/1984; (bản
thứ hai, ngày 7/10/1995.) Cũng theo tinh thần tông huấn Lao Ðộng của
ÐTC Gioan Phaolô II, các ÐGM Hoa Kỳ đã kêu gọi tinh thần hợp tác
giữa các nhân công và chủ nhân, giữa chính phủ và các xí nghiệp,
giữa các thành phần trong xã hội và chính phủ Liên Bang, cuối cùng
là giữa Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới, trong tinh thần cùng
chia sẻ trách nhiệm. Mục tiêu của hành động là xây dựng một nền kinh
tế phồn thịnh nhằm cung cấp cơ hội có công ăn, việc làm cho tất cả;
quyền bình đẳng về nghề nghiệp cho phụ nữ và các thành phần thiểu
số; cải tổ hệ thống thuế má để giảm bớt gánh nặng cho người nghèo;
tạo các chương trình và kế hoạch để giúp người nghèo có thể tự túc
được; phát triển chương trình giáo dục cho các trẻ em nghèo và tạo
các vườn trẻ để giúp các phụ huynh có thể tìm việc làm. Các ÐGM tin
rằng đã đến lúc phải kiểm chứng sự cần thiết của nền công lý trong
hệ thống kinh tế, để những người nghèo trong quốc gia này và trên
thế giới cũng được hưởng những tài nguyên Chúa ban.
MỘT NỀN THẦN HỌC GIẢI PHÓNG CHÂN CHÍNH
Tông huấn Lao Ðộng đã giải quyết những bế tắc, hay đúng hơn, những
sai lầm, của nền thần học giải phóng ở Châu Mỹ La Tinh. Ðầu tháng
Tư, 1986, với sự chấp thuận của ÐTC Gioan Phaolô II, thánh bộ Ðức
Tin và Tín Ðiều do Ðức Hồng Y Joseph Ratzingher (Đức đương kim Giáo
Hoàng Benedictô XVI) làm bộ trưởng, đã cho đăng bản công bố về thần
học giải phóng dài 18 ngàn chữ, mang tựa đề: “Hướng dẫn về tự do và
giải phóng của Kitô giáo” (Introduction on Christian Freedom and
Liberation). Nội dung bản công bố này đã không đi ra ngoài tinh thần
của tông huấn Lao Ðộng, đồng thời tái xác định bản công bố: “Hướng
dẫn về một vài phương diện của thần học giải phóng” (Introduction on
Certain Aspects of Theology of Liberation), năm 1984. Tuy nhiên lời
văn của bản công bố lần thứ hai có vẻ dịu dàng hơn, cùng lúc với
việc giải vạ “cấm khẩu” cho cựu linh mục Leonardo Boff (ông đã hồi
tục năm 1992), làm cho nhiều người lầm tưởng rằng Tòa Thánh đã chấp
nhận nền thần học giải phóng của cựu LM Leonardo Boff (thuộc dòng
Phanxicô, người nước Brazil, Ba-Tây) và LM Gustavo Gutierrez (dòng
Đa Minh, người nước Peru). Thực ra, Tòa Thánh vẫn dành quyền công bố
nền thần học giải phóng chân chính để phân biệt với những thần học
giải phóng “bất xứng” khác.
Ðiểm đặc biệt trong bản công bố tháng 4/86 là Tòa Thánh đã nhắc lại
tông huấn “Phát Tiển Các Dân Tộc” (Populorum Progressio, 1967, của
ÐGH Phaolô VI). Theo đó, đấu tranh bạo động có thể được chấp nhận
như một giải pháp cuối cùng, để kết thúc một bạo quyền đã chà đạp
những quyền căn bản của cá nhân và sự hữu ích chung. Ðiều này đặc
biệt ám chỉ chính phủ kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi và nhiều chính phủ
khác ở Châu Mỹ La Tinh, lúc bấy giờ. Các giới chức trong Tòa Thánh
cho biết cuộc đấu tranh lật đổ chính phủ của tổng thống Ferdinand
Marcos ở Phi Luật Tân (Philippines), năm 1986, do các Ðức Giám Mục
xứ này khuyến khích, đã không đi ngược lại với tinh thần bản công
bố. Tuy nhiên, ÐHY Sin, vị giáo chủ của giáo hội Phi Luật Tân, vẫn
bị gọi về Roma, dường như để phải nghe ÐTC Gioan Phaolô II khiển
trách vì ngài và các ÐGM đã đi qúa xa vào lãnh vực chính trị.
Bản công bố đã cảnh cáo hàng linh mục, tu sĩ không được trực tiếp
tham gia chính trị hoặc đưa chủ thuyết Marxism vào các sinh hoạt của
xứ đạo, nhân danh người nghèo. (Thuở ấy, 1986, đã có một vài LM tham
gia chính quyền cộng sản ở Nicaragua, như Miguel d’Essoto: Ngoại
Trưởng; Ernesto Cardenal: Bộ Trưởng Văn Hóa. Nhưng họ đã bị Tòa
Thánh Vatican bắt buộc phải hồi tục trước khi tiếp tục đảm trách
những chức vụ đó.) Các giới chức cũng cảnh cáo thêm rằng bản công bố
sẽ không làm kết thúc những lầm lẫn về thần học giải phóng, vì có
nhiều người đã lầm tưởng Tòa Thánh đã chấp nhận nền thần học giải
phóng ở Châu Mỹ La Tinh. Tòa Thánh vẫn không thay đổi việc cấm dùng
phương pháp đấu tranh giai cấp và dùng cách phân tích của Marxism để
hợp lệ hóa các hoạt động xã hội của một số linh mục, tu sĩ.
Tòa Thánh vẫn dành quyền công bố nền thần học giải phóng chân chính.
Nền thần học đó sẽ không có đấu tranh giai cấp, không theo Marxism,
và cũng không phải là thần học của LM Gutierrez và cựu LM Boff.
Một hệ thống xã hội tội lỗi, đã gây nên bởi những cá nhân tội lỗi.
Do đó, giải phóng xã hội phải được bắt đầu bằng sự hối cải của các
cá nhân. Giáo hội đã và đang có nhiều Kitô hữu tình nguyện làm việc
để biến đổi lương tâm con người và cải tiến xã hội. Ðể cùng thực
hiện điều đó, mọi Kitô hữu phải từ bỏ phương thức đấu tranh bạo động
và “huyền thoại cách mạng” của Marxism; đồng thời cũng từ bỏ vật
chất chủ nghĩa trong các xã hội tư bản, và một vài dạng xã hội khác,
tuy còn gọi là “xã hội chủ nghĩa”, nhưng thực chất đã là một xã hội
đang có nền kinh tế tư bản, vì họ vẫn đặt tư bản (chủ) ưu tiên hơn
lao động (thợ). Ðể cùng thực hiện điều đó, người Kitô hữu sẽ tuân
hành những giáo huấn của Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong
tông huấn Lao Ðộng; một nền thần học giải phóng chân chính, và một
gợi ý cách mạng, không phải chỉ để giải phóng “con người lao động”
(mục tiêu của Marxism), nhưng là giải phóng “con người toàn diện.”
LM. Phaolô Nguyễn Văn Tùng
(1): Lịch sử Hội Đồng Giáo Hoàng (hay HĐ Tòa Thánh) về Công Lý và
Hòa Bình được bắt đầu trong Công Đồng Vatican II, khi các nghị phụ
đề nghị Tòa Thánh thành lập một “cơ quan” mới cho giáo hội hoàn vũ.
Cơ quan đó sẽ đóng vai trò: “Khuyến khích cộng đồng Kitô giáo thúc
đẩy sự phát triển trong những vùng nghèo đói và công bằng xã hội
theo cảnh quan quốc tế.” (Hiến chế mục vụ “Gaudium et Spes” #90).
Đáp lại đề nghị này, ngày 6/1/1967, ĐGH Phaolô VI, bằng quyền bính
riêng của ngài (Motu proprio) đã cho thành lập Ủy Ban Giáo Hoàng
(Pontifical Commission) về Công Lý và Hòa Bình (Justitia et Pax).
Hai tháng sau, trong tông huấn “Phát Triển Các Dân Tộc” (Populorum
Progressio), ĐGH Phaolô VI đã xác định danh xưng và chương trình của
ủy ban đó là “Công Lý và Hòa Bình.”
Sau 10 năm thử nghiệm, ngày 10/12/1976, ĐGH Phaolô VI, cũng bằng
quyền bính riêng của ngài, đã tuyên bố chính thức thành lập Ủy Ban
Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình (Justitiam et Pacem).
Năm 1987, trong tông huấn “Quan Tâm Xã Hội” (Sollicitudo Rei
Sicialis), Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lại tái xác định
rằng Hiến Chế Mục Vụ của Công Đồng và tông huấn về xã hội của ĐHG
Phaolô VI nói trên “trong một cách chắc chắn… đã áp dụng giáo huấn
của Công Đồng” (#6).
Năm 1988, nhân dịp tái cơ cấu các thánh bộ (Roman Curia), Chân Phúc
Gioan Phaolô II đã đổi tên Ủy Ban nói trên thành Hội Đồng Giáo Hoàng
(Pontifical Council) về Công Lý và Hòa Bình.