Một thoáng suy tư: Thánh Thể nơi Hang Bêlem

Dẫn nhập

Phần lớn các nhà chú giải Kinh thánh khi nói đến biến cố Chúa Giêsu sinh ra tại hang Bêlem đều chú ư đến tính cao quư của mầu nhiệm Nhập thể. Theo đó, vị Vua của muôn vua được chiêm ngắm và suy niệm dưới khía cạnh thần học của việc khiêm nhu, từ bỏ ngai vàng, quyền lực, toàn năng, bất biến và trở nên phàm nhân của chính Thiên Chúa. Đó là vị Thiên Chúa đầy uy quyền trên vạn vật, hằng hữu, làm chủ thời gian và không gian đă trở nên một con người như thụ tạo ngoại trừ tội lỗi, đi vào trong không gian, thời gian và vào ḍng lịch sử của con người. Tuy nhiên, nh́n dưới góc độ của Mầu nhiệm Thánh Thể, chúng ta sẽ khám phá ra được nơi hang Bêlem xưa kia lại là tiền thân hay sự tiên trưng trước của Bí tích Thánh Thể sau này. Nơi hang Bêlem, chúng ta thấy được sự tiên báo về bàn tiệc thánh, sự quy tụ của cộng đoàn, của thiên nhiên và muôn loài thụ tạo, cũng như tương quan của Thánh Thể với Đức Maria.

Trong “Sắc Lệnh Về Tác Vụ Và Đời Sống Các Linh Mục”, Công Đồng Vatican II nhấn mạnh rằng: “Bí tích Thánh Thể chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội Thánh, đó chính là Chúa Kito..”[1]. Như thế, có Chúa Giêsu Kito ở đâu th́ cũng chính là Thánh Thể ở đó, bởi Chúa Giêsu Kito và Thánh Thể là một. Trong chiều kích đó, việc Ngôi Hai xuống thế làm người trong danh nghĩa Hài Nhi Giêsu nằm trong máng cỏ cũng chính là Thánh Thể đang hiện diện nơi đó. Theo suy tư của Đức Benedicto XVI trong cuốn “Đức Giêsu thành Nazareth”, hang đá đó là nơi chứa đựng Bánh Thánh đích thực từ trời xuống, đó chính là Thánh Thể-Hài Nhi Giêsu. Ngài viết:

Hang đá là vị trí nơi súc vật t́m lương thực cho ḿnh. Bây giờ nằm trong hang, chính là Bánh đích thực từ trời xuống, như là lương thực chân thật mà con người cần cho hiện sinh của ḿnh. Đó là lương thực ban cho con người đời sống thật, đời sống vĩnh cửu. Máng cỏ ư hướng đến bàn tiệc của Thiên Chúa, con người được mời vào để lănh nhận Bánh của Thiên Chúa.[2]

Như vậy, Đức Benedicto XVI đă khơi mở một hướng suy tư mới dựa trên chú giải của thánh Augustino về mầu nhiệm Giáng sinh. Một lối nh́n dưới nhăn quan của thần học Thánh Thể, từ nơi hang đá đến cuộc hiện sinh của con người nhân loại ngày nay. Dựa trên những suy tư của Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI, người viết xin nêu lên một vài suy tư về Thánh Thể trong mầu nhiệm Giáng sinh của Ngôi Lời hằng hữu.

1.               Hang Belem- Ngôi nhà nơi Chúa ngự,bàn thờ

Theo truyền thống của Giáo hội từ thời thánh Justin tử đạo và Origene, chúng ta gặp một lưu truyền, nơi Đức Giêsu sinh hạ là một hang đá, nơi đó đă được các Kito hữu ở Palestin chỉ cho chúng ta. Trong lịch sử, sau khi trục suốt người Do Thái ra khỏi Thánh Địa, người La Mă đă biến hang đá thành nơi thờ thần Tammuz-Adonis, v́ muốn loại bỏ kư ức của Kito giáo; lưu truyền xác nhận tính cổ xưa của vị trí này và cho thấy đối với người La Mă điều này thật quan trọng. Thường những lưu truyền về địa lư là một nguồn chắc chắn hơn những chỉ dẫn văn chương. Như thế, người ta có thể nhận thực giá trị đáng tin của lưu truyền địa lư về Bêlem, đại thánh đường Giáng Sinh cũng liên hệ với lưu truyền địa lư này. Xác tín được điều khả tín về hang Bêlem sẽ giúp chúng ta có những suy tư đúng đắn chứ không phải là tưởng tượng mơ hồ thiếu nền tảng truyền thống của Hội Thánh.[3]

a. Ngôi nhà nơi Thiên Chúa ngự

Trở về với lịch sử trong Cựu Ước, đền thờ hay lều tạm là nơi Thiên Chúa hiện diện cách đích thực. Nơi đó, con người gặp gỡ Thiên Chúa, như Mose ở trong lều tạm để đàm đạo và thỉnh ư của Thiên Chúa. Các vị tư tế th́ vào trong đền thờ Giêrusalem theo lịch lễ để cầu khẩn thay cho dân trước mặt Thiên Chúa. Hay ḥm bia Giao ước được coi như là sự hiện diện hữu h́nh của Thiên Chúa giữa ḷng dân, để ban cho dân sức mạnh chiến đấu với kẻ thù (1Sm 4,1-11). Điều này, cho thấy rằng, nơi nào Thiên Chúa hiện diện dù chỉ là h́nh bóng hay biểu tượng th́ dân Israel vẫn nh́n nhận đó như đền thờ nơi Thiên Chúa ngự vậy.

Sách Xuất hành miêu tả lại việc Môse đại diện cho dân kư kết với Thiên Chúa bằng một Giao ước, trong đó, h́nh ảnh ông tập trung dân, dựng 12 cột bia đá và lập một bàn thờ là một tiên trưng cho bí tích Thánh Thể (xc. Xh 24, 3-8). Ở đó, dân Israel dâng lễ vật hay rảy máu trên bàn thờ, như là biểu trưng cho sự hiện diện của Thiên Chúa; cũng ở đó họ cùng chiêm ngưỡng nhan Thiên Chúa (xc. Xh, 24, 10-11). Trong các hy tế h́nh bóng hay tiên trưng của Thánh Thể trong Cựu Ước, chúng ta thấy ư nghĩa chính yếu của chúng là sự tôn vinh, tôn thờ Thiên Chúa. Tất cả các lễ vật khi được dâng trên bàn thờ để hoả thiêu đều là để hương khói toả lên trước tôn nhan Thiên Chúa (xc. Lv 1,1-17). Như vậy, dù là ở việc kư kết một Giao ước hay dâng hy lễ lên Thiên Chúa, dân Israel đều ư thức sự hiện diện đích thực của Thiên Chúa ở nơi mà họ cử hành.

Hiểu theo những nghĩa trên về nhà của Thiên Chúa, hang Belem là nơi chính Chúa Giêsu Kito Hài Nhi đă sinh ra trong biến cố Giáng sinh, nơi đó, chính Thiên Chúa làm người đang hiện diện cách cụ thể và hữu h́nh giữa muôn dân, đó là đền thờ hay ngôi nhà của Thiên Chúa. Nơi đây, Thiên Chúa không c̣n hiện diện cách h́nh bóng, qua Ḥm Bia thánh, qua lều tạm như trong Cựu ước mà là Thiên Chúa hiện diện cách sống động, hữu h́nh. Ngài hiện diện cách trọn vẹn và toàn thể như Ngài hiện diện trong Thánh Thể ngày nay. Như thế, Hang Bêlem chính là nhà tạm, nhà của Thiên Chúa, nơi mà chính Đức Giêsu Kito hiện diện, nơi tiên trưng về nhà tạm của bí tích Thánh Thể mà Ngài sẽ lập sau này.

Sách Giáo lư Hội thánh Công giáo có viết “Nhà thờ, nhà của Thiên Chúa…Đây là nơi đặc biệt để thờ lạy Đức Kito đang hiện diện thật sự trong Bí tích cực thánh”.[4] Số giáo lư này nhấn mạnh đến vấn đề nhà thờ là nhà của Thiên Chúa, là nơi Đức Giêsu hiện diện thật sự. Nơi này là nơi để dân chúng tụ họp để cầu nguyện và thờ lạy Thiên Chúa. Trong chiều kích đó, nơi hang Bêlem- nhà thờ của Thiên Chúa, là nơi chính Chúa Giêsu đă hiện diện cách thể lư hữu h́nh và cũng là nơi để quy tụ các mục đồng, các tạo vật khác như chiên ḅ đến để thờ lạy. Như vậy, hang Bêlem chính là h́nh bóng hay sự tiên trưng về nhà tạm, nhà thờ, nhà của Thiên Chúa; là nơi để muôn dân đến tôn thờ Đức Giêsu Kito.

b. Bàn thờ-Hy lễ

Đức Bênedicto XVI viết:

Đức Maria quấn tă Hài Nhi mới sinh. Chúng ta có thể thấy được với t́nh yêu nào Đức Maria đối mặt với giờ phút này, khi chuẩn bị cho việc hạ sinh. Truyền thống tranh ảnh thánh dựa theo thần học của các giáo phụ, đă chú giải máng cỏ và các tấm tă. Hài Nhi bị quấn chặt trong các tấm tă như hướng ư đến giờ chết của ḿnh: ngay giây phút ban đầu, Em là vật hiến tế, như chúng ta suy nghĩ sâu xa hơn lời nói về Hài Nhi. Như thế, máng cỏ được tŕnh bày như một bàn thờ.[5]

Theo ḍng suy tư đó, chúng ta thấy được h́nh ảnh Hài Nhi Giêsu được đặt trên máng cỏ như là tiên trưng, h́nh bóng cho cuộc hy tế sau này của Ngài. Hy tế đó chính là hy tế tạ ơn, là hiến tế t́nh yêu, là bí tích Thánh Thể nhiệm mầu để nuôi sống muôn dân. Do đó, h́nh ảnh về Hài Nhi được cuốn các tấm tă đặt trên máng cỏ tiên trưng cho hy tế Thánh Thể, nơi máng cỏ là bàn thờ.

Quay ngược thời gian về các hy tế trong Cựu ước, các hy tế này được diễn ra trong các bối cảnh khác nhau nhưng có chung một ư nghĩa. Dĩ nhiên, vị trí th́ không cố định nhưng tất cả đều nhắm đến việc thể hiện tấm ḷng tri ân Thiên Chúa như các hy lễ tạ ơn (xc. St 8,20; 1Sm 6,15…); …. Hy tế mà dân Israel thực hiện nhằm vào các nghi thức tôn vinh Thiên Chúa, và thái độ thành kính của con người vâng phục, tin cậy tuyệt đối vào Thiên Chúa; “Này, vâng phục th́ tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe th́ tốt hơn là dâng mỡ cừu” (1Sm 15,22). Như thế, hy tế nơi bàn thờ của dân Israel mang ư nghĩa tôn thờ, vâng phục Thiên Chúa. C̣n nơi hang Bêlem, sự vâng phục tuyệt đối của Ngôi Lời Nhập thể đă giáng trần, sự vâng phục mà sự trọn vẹn của nó sẽ được diễn tả nơi biến cố Tử nạn và Phục sinh của Người. Cũng nơi đó, con người và thiên nhiên cùng nhau quy tụ về đề tôn thờ Thiên Chúa hằng hữu, bất biến, chủ thể vạn vật, không bị giới hạn vào không gian thời gian đi vào ḍng lịch sử, vào thời gian hữu hạn của nhân loại. Như vậy, ư nghĩa bàn thờ của máng cỏ đống nhất với ư nghĩa hy lễ bàn thờ của dân Israel, nơi đó chính Đức Giêsu Kito Hài Nhi đă dâng lên cho Chúa Cha bằng sự vâng phục Nhập thể và bắt đầu công tŕnh cứu chuộc nơi dương thế. Vậy nơi hang Bêlem, máng cỏ chính là tiên trưng, h́nh bóng về bàn thờ hy tế theo chuỗi lịch sử từ Cựu Ước.

Theo một nghĩa nào đó trong lịch sử dân Israel, bàn thờ là nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Ảnh hưởng của văn hoá Cận Đông thời đó, dân Israel cũng quan niệm làm bàn thờ trên cao để Thiên Chúa từ trên cao ngự xuống và hoà nhập với con người, c̣n con người phải leo lên cao để gặp được thần tính của Ngài. Điều đó được chứng minh rơ ràng trong các tŕnh thuật về hy tế của Noe, của Abraham khi hiến tế Isaac… Khi đă có đền thờ, dân Israel tin tưởng nơi cư ngụ của Thiên Chúa sẽ là trung tâm của đền thờ, chính là bàn thờ, nơi được đốt hương án suốt ngày đêm (xc. Lv 6,5. 24, 2; 2Mcb  1,6; Xh 27,20). Do đó, bàn thờ là nơi Thiên Chúa gặp gỡ con người và con người gặp gỡ Thiên Chúa. Trong ư nghĩa đó, máng cỏ Bêlem chính là nơi Thiên Chúa ngự trị, chính Ngài đă hiện diện và nằm ở trên đó, th́ máng cỏ đó cũng chính là bàn thờ nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa và Ngài gặp gỡ con người.

Với h́nh ảnh Hài Nhi Giêsu được cuốn các tấm tă và máng cỏ làm liên tưởng đến h́nh ảnh Chúa Giêsu hiến tế ḿnh trên Thập Giá. Mà hiến tế trên đồi Can-vê đó vẫn đang được tái diễn lại hàng ngày trên bàn thờ Thánh Thể. Máng cỏ hướng ư tới bàn tiệc của Thiên Chúa, con người được mời vào để đón nhận Bánh của Thiên Chúa.[6]Nơi bí tích Thánh Thể, chính Chúa Giêsu hiến dâng chính bản thân ḿnh để trở nên thần lương nuôi dưỡng con người. Trong hy lễ Thập Giá, Chúa Giêsu Kito vừa là Tư tế, vừa là bàn thờ, vừa là chiên hiến tế. Do đó, h́nh ảnh Hài Nhi Giêsu cũng mang trong ḿnh h́nh ảnh tiên trưng của Thánh Thể hy hiến, dâng hiến chính ḿnh để làm giá chuộc muôn dân, để mang lại ơn cứu độ cho nhân loại.

Bởi v́, nơi Hang Bêlem, chính Chúa Giêsu đă hiện diện cách thể lư, hữu h́nh, nên nơi đó cũng mang trọn vẹn nghĩa về nhà tạm, nơi Thiên Chúa ngự trị; là đền thờ, bàn thờ hy tế, nơi dâng hiến chính Con Một của Chúa Cha hằng hữu hầu để cứu vớt nhân loại. Đó là h́nh ảnh tiên trưng hay h́nh bóng về bí tích Thánh Thể.

2.               Sự quy tụ của cộng đoàn-Các mục đồng

a. Cộng đoàn hiệp thông

Tŕnh thuật Tin Mừng theo Thánh Luca miêu tả cảnh các mục đồng cùng đến thờ lạy Ngôi Hai Thiên Chúa (Lc 2,15-20). Như bản văn cho thấy, các mục đồng biểu trưng cho số nhiều, số của cộng đoàn của tập thể, một tập thể đại diện cho toàn thể nhân loại đến tôn thờ Thiên Chúa nơi hang Belem nghèo hèn. Họ là một cộng đoàn cùng nhau gắn kết để nghe theo dấu chỉ của sứ thần, cùng nhau nhận ra thông điệp mà sứ thần muốn loan báo về một tin vui, tin mừng trọng đại cho toàn dân. Hài Nhi Giêsu- Thánh Thể sẽ quy tụ mọi người trong cùng một ư hướng, một sự tôn thờ Thiên Chúa, như Ngài đă quy tụ các mục đồng đến chiêm ngắm và thờ lạy Ngôi Hai Thiên Chúa.

H́nh ảnh ba vua trong tŕnh thuật Tin Mừng của Thánh Mattheu cũng mang ư nghĩa tiên trưng về sự quy tụ của cộng đoàn trong bí tích Thánh Thể (Mt 2, 1-12). Theo đó, ba vua đại diện cho người ngoại bang đến để thờ lạy và tôn vinh Hài Nhi Giêsu, họ là h́nh bóng cho sự quy tụ của toàn thể nhân loại trong chiều kích cánh chung của Thánh Thể. Và ngay trong hiện tại, Thánh Thể có sức mạnh nền tảng cho mọi hoạt động sinh hoạt của người Kito hữu cũng như mời gọi những người ngoại đạo đến hiệp thông trong cộng đoàn. Với chiều kích cánh chung, Thánh Thể là h́nh bóng tiên trưng về vương quốc, nơi sẽ quy tụ mọi dân mọi nước dưới quyền một thủ lănh là Đức Giêsu Kito, để tôn thờ vinh quang Thiên Chúa.

Khi nh́n vào sự hiệp thông của các mục đồng như đại diện hay tiên trưng của cộng đoàn Kito hữu quy tụ về bên Thánh Thể, chúng ta cũng liên tưởng đến nền tảng Cựu ước của cộng đoàn hiệp thông này. Dân Israel thể hiện cộng đoàn hiệp thông bằng việc cùng nhau dâng lễ vật trong các hy tế tạ ơn, cộng đoàn đó được thể hiện trong bữa ăn hiệp thông(xc. 1Sm 9,12). Chính trong bữa ăn mà cộng đoàn hiệp thông với nhau trước nhan Thiên Chúa, cùng thờ lạy và tôn vinh Thiên Chúa.Do đó, sự hiện diện của Thiên Chúa mang một ư nghĩa trọn vẹn về sự hiệp thông của cộng đoàn với nhau và cộng đoàn với Thiên Chúa. Nhận thức về sự hiệp thông thể hiện qua bữa tiệc, dân Israel đă đề cao giá trị của bữa tiệc như một lễ tạ ơn của cộng đoàn, với niềm vui, hạnh phúc trước nhan thánh Thiên Chúa (Đnl 12,4-7; 14,22; 15,20). Trước nhan Hài Nhi Giêsu nơi hang Bêlem, con người cùng tham dự vào sự hiệp thông trọn vẹn giữa con người với Thiên Chúa và con người với con người. Nơi đó, các mục đồng cùng các vua đều tôn vinh Ngôi Lời Nhập thể, họ được gắn kết với nhau trong tinh thần nhờ cùng hiệp thông với Thiên Chúa nơi Hài Nhi Giêsu.

Trong Bữa tiệc ly, Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể trước mặt các Tông đồ, tính cách tập thể và cộng đoàn cùng quy tụ được thể hiện cách rơ ràng. Các Tông đồ cùng ăn uống, tham dự vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với anh em, để qua đó cùng nhau lănh nhận chính Ḿnh và Máu Đức Giêsu Kito. Thứ đến, xét theo chiều kích cứu độ, việc Đức Giêsu ban chính bản thân ḿnh Ngài là để cho toàn thể nhân loại, cho mọi dân mọi nước. Nhờ vào việc hiệp thông cách trực tiếp với Đức Giêsu trong bí thích Thánh Thể, con người hợp nên một cộng đoàn hiệp nhất trong Đức Giêsu Kito, trong Ngài mọi rào cản, mọi ngăn cách giữa người với người đều xoá hết. Người giàu cũng như nghèo, da đen cũng như da trắng, kẻ trí thức cũng như kẻ thất học, kẻ quyền lực cũng như người dân đen …tất cả đều lănh nhận chung một Đức Giêsu Kito, và trở nên một cộng đoàn hiệp thông trong Người. Nơi hang Bêlem, các mục đồng nghèo hèn cùng với các vua cao sang đều đến để tôn thờ Ngôi Hai Nhập thể làm người. Không có sự phân biệt đẳng cấp, không có kỳ thị quyền quư khi quy tụ bên cạnh Đức Giêsu Kito; trước mặt Người, mọi vua chúa và thứ dân đều như nhau, và chính bản thân họ khi đối diện với Người họ cũng sẽ bỏ hết những ǵ khiến họ xa ĺa, phân biệt nhau để cùng nhau hiệp thông trong một thân thể, một Bánh Thánh- Giêsu Kito. Do đó, hang Bêlem như một h́nh bóng cho một cộng đoàn hiệp thông của bí tích Thánh Thể sau này.

Theo các nhà chú giải Kinh thánh khi chú giải đoạn văn của Luca, chương 2, câu 15-20, h́nh ảnh các mục đồng mang một chiều kích ư nghĩa về việc những người đơn sơ nghèo hèn được Thiên Chúa mạc khải cho những mầu nhiệm cao siêu. Theo văn hoá Do-thái thời bấy giờ, những người chăn chiên là những người nghèo; các kinh sư rất nghiêm khắc với những người chăn chiên v́ do nghề này, họ xa cách với hội đường và không giữ Lề luật. Như thế, có thể thấy được, họ là những con người thuộc tầng lớp thấp kém trong xă hội, bị chính những nhà lănh đạo tôn giáo kỳ thị và coi thường. Thế nhưng, chính những con người bé mọn, bị ruồng bỏ đó lại được Thiên Chúa mạc khải mầu nhiệm của Ngài (Lc 10,21). Thiên Chúa đă mời gọi họ và cho họ đón nhận chính Ngôi Lời Nhập thể; không phải những kẻ cao sang quyền quư mà lại là những con người khiêm nhu, đơn sơ được lănh nhận chính Đức Giêsu Kito Hài Nhi. Như thế, con người đón nhận mầu nhiệm Thánh Thể cũng cần phải có sự khiêm nhu, đơn sơ như các mục đồng th́ mới có thể đi vào trong mối hiệp thông với Thiên Chúa, để qua đó chính Người sẽ mạc khải những điều huyền nhiệm cho họ.

3.               Đức Maria và Thánh Thể -Hài Nhi Giêsu

Việc suy niệm về Đức Maria với Thánh Thể là cả một chuỗi dài những sự kiện và suy tư, ở phần nhỏ này chỉ xin làm một chút suy tư về Đức Maria với Hài Nhi Giêsu-Thánh Thể nơi hang Bêlem.

Trước hết, theo Kinh thánh, Đức Maria được ví như ḥm bia thánh, nhà tạm nơi Chúa ngự. Theo Thánh sử Luca tŕnh bày về quang cảnh Đức Maria thăm viếng bà Êlisabet với những thuật ngữ và h́nh ảnh đă được Cựu ước sử dụng để mô tả việc rước ḥm bia thánh từ Quiriat Giêarim về Giêrusalem (2Sm 6,1-23). Cách đặc biệt qua bối cảnh Đức Maria thăm viếng bà Êlisabet: “bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến thăm viếng tôi” (Lc 1,43), tương tự như lời của Đavid: “làm thế nào ḥm bia Chúa đến nhà tôi được?” (2Sm 6,9); cũng như việc Gioan Tẩy giả nhảy mừng trong ḷng mẹ khi Đức Maria đến viếng thăm th́ Đavid cũng đă hớn hở và nhảy mừng khi ḥm bia được đưa về Giêrusalem (2Sm 6, 12.14.16.21). Như thế, cung ḷng của Đức Maria như là nhà tạm đầu tiên của Chúa Giêsu Thánh Thể.

Trở về với biến cố Giáng sinh, việc tin nhận Con Thiên Chúa đang hiện diện nơi hài nhi yếu ớt không phải là một chuyện dễ dàng. Tuy nhiên, Đức Maria đă tin nhận ngay từ khi thưa tiếng “Xin vâng”, và điều đó được thể hiện rơ ràng hơn khi Mẹ đáp lại lời ca ngợi của bà Êlisabet: “phúc cho kẻ tin rằng điều Thiên chúa loan báo sẽ được thực hiện” (Lc 1,45), bằng bài ca chúc tụng Thiên Chúa- Magnificat. Việc tin nhận đó đă dẫn đến thái độ chiêm ngắm, thờ lạy lâu dài trong suốt cuộc đời của Đức Maria (Lc 2,19.51). Nơi hang đá Bêlem, khi thấy những sự lạ mà các mục đồng thuật lại cho Đức Maria, người đă ghi nhớ và hằng suy đi nghĩ lại trong ḷng, đó là thái độ chiêm ngắm, suy tư liên lỉ về mầu nhiệm Ngôi Con Nhập thể. Đức Maria đă tôn thờ Chúa Giêsu Hài Nhi- Thánh Thể trong sự khiêm nhu, cung kính, với t́nh yêu sâu thẳm của người Mẹ, trong sự hiệp thông sâu sắc của Mẹ Thiên Chúa với Con của Người từ khi c̣n trong cung ḷng đến khi hạ sinh nơi hang Bêlem. Như thế, Mẹ Maria trở nên mô phạm, mô mẫu cho việc tôn kính và yêu mến Thánh Thể.

H́nh ảnh Đức Maria cuốn tă Hài Nhi Giêsu đặt nằm trên máng cỏ, ư hướng việc hiến tế của chính Đức Giêsu Kito trên Thập Giá, nói lên sự kết hiệp chặt chẽ và sự cộng tác của Đức Maria trong hiến lễ t́nh yêu, bí tích cực thánh. Hiến tế mà Đức Giêsu thực hiến trên Thập Giá đă được tiên trưng nơi hang Bêlem, Ngài được đặt lên máng cỏ như bàn thờ hy tế, để qua đó dâng lên chính bản thân Ngài lên Thiên Chúa Cha hầu đền bù tội lỗi của thế gian. Cũng như dưới chân Thập Giá, Đức Maria đứng vững để cùng Con yêu dấu của ḿnh dâng của lễ đền tội lên Chúa Cha; th́ nơi hang Bêlem, Mẹ Maria cũng dâng lên Chúa Cha chính Con yêu dấu của ḿnh; Mẹ đă kết hiệp chặt chẽ với hiến tế mà con của ḿnh đă dâng lên Thiên Chúa ngay từ khởi đầu của cuộc Nhập thể, đến khi hạ sinh và cuối cùng dưới chân Thập Giá. Hiến tế Thập Giá đó hàng ngày lại được tái diễn nơi bí tích Thánh Thể. Như thế, Đức Maria đă kết hợp chặt chẽ vào hy tế Thánh Thể của Con yêu dấu của ḿnh.

Cùng với sự kết hợp chặt chẽ vào hiến tế của Con Thiên Chúa, Mẹ Maria đă cộng tác cách chủ động và tích cực trong hiến tế đó. Ngay từ buổi sứ thần truyền tin cho Đức Maria, người đă lănh nhận và thưa lên tiếng Fiat cách tự do và chủ động để Ngôi Lời Thiên Chúa đi vào ḍng lịch sử nhân loại, để cứu độ con người khỏi gông cùm tội lỗi. Nơi hang Bêlem, Đức Maria cộng tác trong việc giới thiệu Đấng Cứu Thế- Ngôi Hai làm người cho đại diện của nhân loại là các mục đồng, là ba vua, là muôn loại thụ tạo khác như chiên ḅ…. Với sự khiêm nhu và t́nh yêu sâu thẳm, Đức Mẹ đă cộng tác cách ầm thầm và kín đáo vào công cuộc cứu chuộc của Ngôi Hai Thiên Chúa. Mẹ không phô trường hay hô hoán giữa đường, nhưng Mẹ đă suy niệm những mầu nhiệm ẩn kín, Mẹ đă giữ trong ḷng những lời nói, biến cố về Con yêu dấu của ḿnh để suy niệm, chiêm ngắm hầu tôn vinh Thiên Chúa.

Qua biến cố Giáng Sinh, nh́n dưới lăng kính mầu nhiệm Thánh Thể, chúng ta có thể thấy được sự tiếp nối những h́nh bóng tiên trưng của bí tích Thánh Thể từ trong Cựu Ước. H́nh bóng đó được thể hiện qua hang Bêlem như nhà tạm, nhà nơi Chúa ngự trị; nơi bàn hy tế đầu tiên của Ngôi Hai hạ phàm; nơi quy tụ cộng đoàn hiệp thông trong Hài Nhi Giêsu- Thánh Thể, nơi đó mọi con người đều b́nh đẳng, đều lănh nhận chung một Giêsu Thánh Thể-Hài Nhi, để thiết lập tương quan hiệp thông với nhau và với Thiên Chúa; cũng nơi đó, Đức Maria đóng vai tṛ trong việc trở nên mô mẫu, mô phạm trong sự kết hợp với Thiên Chúa và cộng tác với Ngôi Con trong công tŕnh cứu chuộc.

THƯ MỤC

1. Thánh Kinh

Kinh Thánh. Bản dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng vụ. Hà nội: Tôn giáo, 2011.

2. Tài liệu huấn quyền

Công đồng Vatican II. Bản dịch của UBGLĐT-HĐGMVN. Hà Nội: Tôn giáo, 2012.

Sách Giáo lư Hội Thánh Công giáo (1992). Bản dịch của UBGLĐT-HĐGMVN. Hà Nội: Tôn giáo, 2011.

Tài liệu của Uỷ ban thần học-lịch sử chuẩn bị cho năm thánh 2000: Thánh Thể trao ban sự sống Thiên Chúa (1999), dg. Nguyễn Đức Thông, Tp HCM, 2005.

3. Sách

Vũ Chí Hỷ. Giáo tŕnh Bí tích Thánh Thể. Tp HCM: Học viện ĐaMinh, 2017.

Joseph Ratzinger.Đức Giêsu thành Narazeth, phần II và III, dg. Nguyễn Văn Trinh. Hà Nội: Tôn giáo, 2013.

Joseph Martos.Cửa vào Thánh Thiêng, dg. Nguyễn Đức Thông. Hà Nội: Tôn giáo, 2015.

Phan Tấn Thành.Đời sống tâm linh- Bí tích t́nh yêu, tập IX. Tp HCM: Học viện ĐaMinh, 2010.

Joseph Ratzinger.Tinh Thần Phụng vụ, bd. Nguyễn Khoa Luật OFM và Phạm Thị Huy. Hà Nội: Tôn giáo, 2008.

Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh- Cử hành Bí tích t́nh yêu, tập X. Tp HCM: Học viện ĐaMinh, 2010.

4. Từ điển

Từ điển Công giáo. Bs. Hội đồng Giám mục Việt Nam- Uỷ ban Giáo lư Đức Tin- Ban từ vựng Công giáo. Hà Nội: Tôn giáo, 2016.

 

 

 


 

[1]PO, 5.

[2]Joseph Ratzinger, Đức Giêsu thành Nazareth, phần III, dg. Nguyễn văn Trinh, (Hà Nội: Tôn giáo, 2013), tr. 98-99.

[3]Ibid, tr. 97-98.

[4]SGLHTCG, số 2691.

[5][5] Ibid, tr. 98.

[6]Ibid, tr. 99.