TRÁI TIM MẸ TOÀN THẮNG


Chương 17 - Trái Tim Mẹ Cứu Rỗi

Nếu “Vô Nhiễm Nguyên Tội” là bản chất của Trái Tim Mẹ và “Đau Thương” là đặc tính của Trái Tim Mẹ, thì “Cứu Rỗi” là sứ mệnh của Trái Tim Mẹ.

Với đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, Trái Tim Mẹ không phải chịu Đau Thương cũng được, song vẫn không thể nào không Cứu Rỗi. Truyền giáo tuy không phải là Giáo Hội, làm nên Giáo Hội, thế nhưng, nếu không truyền giáo, Giáo Hội không phải là Giáo Hội của Chúa Kitô nữa. Cũng thế, Cứu Rỗi tuy không phải là chính bản chất của Trái Tim Me, làm nên Trái Tim Mẹ như đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, nhưng, nếu không Cứu Rỗi, Trái Tim Mẹ sẽ không phải là Trái Tim Mẹ nữa, hay, nói cách khác,  Mẹ Maria không phải là Mẹ Maria nữa.

Vào lần hiện ra thứ ba, ngày 13/7/1917, sau khi cho 3 Thiếu Nhi Fatima xem thấy hỏa ngục, Mẹ nói với các em: “Các con vừa trông thấy hỏa ngục, nơi các linh hồn đáng thương rơi vào. Để cứu họ, Thiên Chúa thiết lập trên thế giới lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Tôi Mẹ. Nếu điều Ta nói với các con được thực hiện, nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi và sẽ có bình an” (FILOW:162).

Thật vậy,

Trái Tim Mẹ có công, có quyền và có cách cứu rỗi chung loài người cũng như riêng từng người.

 TRÁI TIM MẸ CÓ CÔNG CỨU RỖI.

Thật ra, nếu không có Chúa Giêsu Kitô, “Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại” (1Tim 2:5), chính bản thân, Mẹ còn chưa cứu được mình, huống chi là nhân loại. Thế nhưng, cũng chính vì Chúa Giêsu mà Mẹ có. Nên, trong Chúa Giêsu, Con Mẹ, Mẹ đã được Vô Nhiễm Nguyên Tội. Ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội đã làm Mẹ đầy Thiên Chúa ngay từ khi được đầu thai trong lòng mẹ của mình. Tất cả mọi việc Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội làm, liên lỉ tăng lên, theo kiểu nói của Chúa Giêsu, “gấp trăm” (Mt 13:23).

Chẳng hạn, ngay giây phút đầu tiên trong đời, nghĩa là, ngay từ lúc linh hồn của Mẹ được Thiên Chúa phú nhập vào thân xác của Mẹ, Mẹ “đầy ơn phúc” ở mức độ vượt trên mọi bậc thần thánh hợp lại. Thí dụ, mức độ “đầy ơn phúc” của tất cả mọi thần thánh hợp lại, (nếu các thánh không “đầy ơn phúc” theo ơn gọi của mình, các ngài đã không phải là thánh, đã không có khả năng để hưởng Thiên Nhan Chúa đời đời ở trên trời), là 1, thì mức độ “đầy ơn phúc” của Mẹ là 100.

Vì Mẹ “đầy ơn phúc” ngay từ ban đầu, chứ không phải vào lúc kết thúc cuộc đời như trường hợp các thánh, do đó, mỗi hơi thở của lồng ngực Mẹ, mỗi nhịp đập của con tim Mẹ, mỗi cử động của thân mình Mẹ, mỗi ý nghĩ trong đầu của Mẹ, mỗi ước muốn trong lòng của Mẹ v.v. đều chứa đầy Thiên Chúa, đều tràn đầy trọn lành. Đến nỗi, có thể so sánh, nếu ơn phúc nơi các thánh tăng theo cấp số cộng, như từ 1 đến 2, 2 đến 4, 4 đến 8, 8 đến 16, 16 đến 32 v.v. thì mức độ “đầy ơn phúc” không bao giờ suy giảm của Mẹ khi còn sống trên đời sẽ tăng lên vòn vọt, theo cấp số nhân, như từ 100 đến 10.000, từ 10.000 đến 100.000.000 v.v. Cứ thế, mức độ “đầy ơn phúc” của Mẹ tăng tới mức mà, nếu không có Thiên Chúa làm phép lạ đặc biệt nâng đỡ một cách phi thường thì Mẹ đã chết bất cứ lúc nào rồi vậy.

Đằng này, Mẹ chẳng những không chết, trái lại, mức độ “đầy ơn phúc”, đầy Thiên Chúa, Đấng “ở cùng Mẹ” (Lc 1:28), từ linh hồn Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ lại trào ra cả thân xác Trinh Nguyên của Mẹ, làm cho Mẹ “thụ thai và hạ sinh ... Con Đấng Tối Cao” (Lc 1:32).

Thế rồi, mức độ “đầy ơn phúc”, đầy Thiên Chúa của Mẹ tiếp tục tràn sang cho Giáo Hội, nhiệm thể của Chúa Giêsu Kitô, thành phần “được Thiên Chúa tiền định” (Rm 8:29), được Chúa Giêsu cầu nguyện cho trong bữa tiệc ly (x.Gn 17:20), khi Mẹ đứng bên thập giá Con Mẹ để chính thức nhận lãnh sứ mệnh làm Mẹ của Giáo Hội (x.Gn 19: 26).

Chưa hết, mức độ “đầy ơn phúc” của Mẹ, qua Giáo Hội, con dâu của Mẹ, nhiệm thể Con Trai duy nhất của Mẹ, còn tràn ra cho cả thế gian, cho đến tận cùng bờ cõi trái đất, từ khi Mẹ hiện diện với các thánh tông đồ, để, nhờ Mẹ, các ngài lãnh nhận Chúa Thánh Thần, Đấng mà, như thánh Louis Maria Grignion De Monfort cho rằng, càng trở nên linh hoạt hơn trong việc tái sinh Chúa Kitô nơi nào có sự hiện diện của Mẹ (TDTM:20), hầu có thể làm chứng cho Chúa Kitô (x.TĐCV 1:8).

Mẹ Maria có công cứu rỗi hay Trái Tim Mẹ có công cứu rỗi cũng vậy, là ở những điều sau đây:

- Thứ nhất, Mẹ xuất hiện trên trần gian chỉ sau khi loài người sa ngã, cho dù trong lãnh vực ân sủng và trong thượng trí của Thiên Chúa, Mẹ đã có trước tất cả mọi sự và mọi người.

- Thứ hai, Mẹ được đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội vì, theo thời gian, Mẹ xuất thân từ loài người, mang bản tính đã bị hư đi bởi nguyên tội, theo tự nhiên, đáng lẽ Mẹ cũng phải nhiễm lây như mọi người.

- Thứ ba, Mẹ được đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội tức là Mẹ đã được cứu, do đó, sống trên trần gian, cuộc sống của Mẹ không phải để lập công đền tội cho mình nữa, mà chỉ để lập công cứu độ đồng loại của mình mà thôi. 

- Thứ bốn, Mẹ đã lập công cứu rỗi loài người bằng chính nhân tính mà Mẹ đã lãnh nhận từ loài người, nhân tính đã được Thiên Chúa thánh hóa ngay từ lúc đầu thai trong lòng mẹ.

- Thứ năm, Mẹ đã lập công cứu rỗi loài người bằng chính nhân tính đã được Thiên Chúa thánh hóa ngay từ lúc đầu thai, ở chỗ, linh hồn “đầy ơn phúc” của Mẹ đã hoàn toàn “Xin Vâng” tất cả những gì Thiên Chúa muốn cho đến cùng, cho đến khi “đứng dưới chân thập giá Chúa Giêsu” (Gn 19:25), và thân xác Trinh Nguyên Mẹ đã “thụ thai và hạ sinh...Con Đấng Tối Cao” (Lc 1:31-32), Đấng đã “hiến mạng sống mình (được sinh ra bởi Mẹ) làm giá chuộc nhân loại” (1Tim 2:6).

 TRÁI TIM MẸ CÓ QUYỀN CỨU RỖI.

Trái Tim Mẹ có quyền cứu rỗi không phải như trường hợp của Chúa Kitô, Con Mẹ, hay trường hợp của các linh mục, thừa tác viên có chức thánh của Ngài. Trái Tim Mẹ có quyền cứu rỗi đây là do ân sủng Mẹ có trước mặt Chúa và bởi công Mẹ lập được cùng với Chúa Giêsu, Con Mẹ.

Chúa Kitô chẳng những có quyền cứu rỗi mà còn có sứ mệnh cứu rỗi nữa. Chúa Kitô có sứ mệnh cứu rỗi, ở chỗ: “Ý của Đấng đã sai Ta là Ta không được làm mất đi sự gì Ngài đã ban cho Ta, mà lại phải làm cho nó sống lại trong ngày sau hết” (Gn 6:39). Chúa Kitô có quyền cứu rỗi: “Ta là mục tử tốt lành, Ta biết chiên Ta và chiên Ta biết Ta như Cha biết Ta và Ta biết Cha Ta, Ta hiến mạng sống vì chiên... Không ai lấy mạng của Ta được, Ta tự bỏ nó đi, Ta có quyền bỏ nó đi, cũng như có quyền lấy nó lại” (Gn 10:14-15,18).

Với quyền cứu rỗi trong tay, Ngài đã thực hiện việc cứu rỗi bằng cách “vâng phục nơi những gì Ngài chịu” (DT 5:8), “cho dù chết trên thập giá” (Phil 2:8). “Cha đã ban cho Người (Con) được quyền trên loài người, để Người ban sự sống đời đời cho những kẻ Cha đã ban cho Người” (Gn 17:2) là như thế.

Với quyền cứu rỗi trong tay, nhất là sau khi thực hiện việc cứu rỗi bằng tử giá, Chúa Kitô đã thực hiện việc ban ơn cứu rỗi cho loài người cho đến tận cùng trái đất và cho đến khi Ngài lại đến, khi sai các tông đồ đi “thâu nạp môn đồ khắp thế gian, rửa tội cho họ nhân Danh Cha, và Con và Thánh Thần. Dạy họ giữ mọi điều Thày đã truyền cho các con” (Mt 28:18-20).

Giáo Hội nói chung và các thừa tác viên cử hành mầu nhiệm thánh, “mầu nhiệm của Thiên Chúa là Chúa Kitô” (Col 2:2), được tham dự vào quyền cứu rỗi của Chúa Kitô khi Ngài ban cho các tông đồ Thánh Linh của Ngài, qua hơi thở phục sinh Ngài thổi trên các vị: “Hãy nhận lấy Thánh Linh. Các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha; các con cầm tội ai thì tội người ấy bị cầm buộc” (Gn 20 :22-23), và khi Ngài sai các vị đi: “Thày được toàn quyền trên trời dưới đất, vậy các con hãy đi...” (Mt 28:18-19).

Trong khi Chúa Kitô có quyền cứu rỗi là do bản tính của Ngài, và các thừa tác viên chính thức của Ngài có quyền cứu rỗi là vì, qua bí tích truyền chức thánh, được trao cho sứ mệnh ban phát ơn cứu rỗi của Ngài, thì, Mẹ Maria, như đã nói ở trên, có quyền cứu rỗi là do “được ân sủng trước mặt Chúa” (Lc 1:30), tức có thế trước mặt Chúa, và bởi công Mẹ lập được cùng với Chúa Giêsu, Con Mẹ.

Mẹ Maria có quyền cứu rỗi là do ưu thế của Mẹ trước mặt Chúa.

Phải, tình trạng “đầy ơn phúc” nơi Mẹ Maria, như đã nói từ đầu, Mẹ chỉ có trong Ngôi Lời nhập thể là Chúa Giêsu Kitô, Con Mẹ mà thôi, Đấng mà “mọi sự được dựng nên trong Người... nhờ Người và cho Người” (Col 1:16). Nếu mọi sự đã được dựng nên “nhờ Người và cho Người” thế nào, thì, cũng “nhờ Người và cho Người” mà chúng được cứu rỗi như vậy. Vì, “Cha yêu họ cũng như yêu Con” (Gn 17:23), chỉ khi nào Thiên Chúa không yêu Con Mình nữa, Ngài mới không yêu những gì Ngài đã dựng nên cho Con Mình mà thôi. Không phải hay sao, ngay sau khi hai nguyên tổ ngang nhiên phạm tội mất lòng Chúa, sau đó chẳng những hai nguyên tổ không biết tự thú và tự hạ xin Chúa thứ tha, lại còn chạy tội bằng cách đổ lỗi cho nhau, Thiên Chúa đã chẳng tự động hứa cứu rỗi con người đó sao, qua lời lên án con cựu xà Satan là hắn sẽ bị “đạp nát đầu” (STK 3:15).

Mẹ Maria được đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội là gì, nếu không phải được Thiên Chúa yêu thương hơn hết mọi sự Ngài tạo dựng nên cho Mình là Ngôi Lời, Con Duy Nhất của Ngài. Thiên Chúa đã chẳng yêu Mẹ hơn hết mọi sự là gì, khi ban chính Mình Ngài là Ngôi Lời nhập thể cho Mẹ.

Một khi được Thiên Chúa yêu thương như thế, Mẹ Maria tự nhiên đã có thế giá trước mặt Chúa lắm rồi. Huống chi, trong đời sống trần gian của Mẹ, Mẹ lại hết lòng, hết sức, hết trí khôn, hết linh hồn đáp lại lòng yêu của Chúa đối với Mẹ. Đến nỗi, Chúa có thể nói về Mẹ như nói về Chúa Kitô sau khi Chúa Kitô được rửa tội ở sông Giọcđan và đang khi Người biến hình trên nơi cao là: “Người là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Mt 3:17,17:5).

Như thế, thử hỏi, Mẹ muốn gì mà không được, Mẹ xin gì Thiên Chúa không cho, nhất là xin những sự có lợi cho Chúa, cho vinh quang của Chúa, như ơn cứu rỗi đời đời cho chung nhân loại hay cho riêng một linh hồn nào đó.

Thiên Chúa yêu Mẹ, chẳng những vì Mẹ là tạo vật Chúa yêu trên hết mọi sự theo lòng yêu nhưng không của Ngài đối với Mẹ, mà còn bởi công nghiệp của Mẹ lập được cùng với Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu, ở chỗ, Mẹ không bao giờ từ chối Chúa điều gì, liên lỉ hiệp nhất với Chúa qua lời “Xin Vâng” tuyệt đối trọn hảo. Bởi thế, Thiên Chúa làm sao lại không vì Mẹ, “nể” Mẹ, yêu Mẹ mà thực hiện mọi sự như ý Mẹ muốn, dù “chưa đến giờ” (Gn 2:4) của Ngài, như Ngài đã làm cho nước lã thành rượu ngon ở tiệc cưới Cana theo lời Mẹ xin khi Mẹ thấy tiệc hết rượu.

 TRÁI TIM MẸ CÓ CÁCH CỨU RỖI.

Mẹ Maria chẳng những có công cứu rỗi, có quyền cứu rỗi, lại còn có cả cách cứu rỗi nữa.

Thật thế, dù Mẹ có quyền cứu rỗi trước mặt Chúa đi nữa, nếu Mẹ không có cách cứu rỗi cho con người, “giờ của Chúa” chắc là sẽ mãi mãi “chưa tới”, vẫn biết là Ngài làm gì cũng được khi tới giờ của Ngài. Tại tiệc cưới Cana, sau khi Mẹ đã xin Chúa làm phép lạ qua lời nhắc khéo Chúa: “Họ hết rượu rồi” (Gn 2:3), nếu Mẹ không tiếp tục làm thêm một việc nữa, đó là nhắc nhở các người giúp tiệc cưới là “Ngài bảo gì, qúi vị hãy làm theo như vậy” (Gn 2:5), thì “rượu hết” vẫn là “hết rượu”, làm sao có được “rượu ngon sao lại để đến bây giờ” (Gn 2:10).

Nếu Tình Yêu là bản tính sống động của Thiên Chúa (x.Gn 4:8,16) thì Tình Thương chính là bản tính của Mẹ Maria. Thiên Chúa đã tỏ Tình Yêu của Ngài qua Chúa Giêsu Kitô thế nào, Ngài cũng tỏ Tình Thương của Ngài qua Mẹ Maria như vậy. Nếu định nghĩa Chúa Giêsu là Tình Yêu say điên của Thiên Chúa đối với nhân loại thì Mẹ Maria là Tình Thương vô biên của Thiên Chúa đối với loài người.

Tình Yêu đòi hỏi (hay có khuynh hướng) bình đẳng và nên một. “Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể và ở giữa chúng ta” (Gn 1:14) không phải là hành động Thiên Chúa muốn trở nên bình đẳng với con người là gì, và, cũng nhờ hành động nhập thể này của Ngài, bản tính của con người đã được thánh hóa để có thể bình đẳng với Ngài trên phương diện siêu nhiên mà hiệp thông với Ngài! “Con ban cho họ vinh hiển Cha đã ban cho Con để họ được nên một như Chúng Ta là một” (Gn 17:22) không phải là hành động Thiên Chúa muốn nên một với con người hay sao!

Tình Thương đòi hỏi (hay có khuynh hướng) thông cảm và ban phát. Mẹ Maria đã không thông cảm với con người là gì, qua những lần hiện ra với họ, Mẹ tỏ ra đau khổ với họ và vì họ, như Mẹ vừa chảy nước mắt vừa than thở với Melanie Mathieu, 14 tuổi, và Maximin Giraud, 11 tuổi, ở La Salette vào ngày Thứ Bảy 19/9/1846:

“Hỡi các con của Mẹ, hãy đến đây với Mẹ. Đừng sợ. Mẹ hiện diện nơi đây để cho các con biết một điều tối hệ trọng. Nếu dân của mẹ không chịu nghe lời, Mẹ sẽ đành phải buông cánh tay Con Mẹ ra. Cánh tay Người đè nặng đến nỗi Mẹ dường như không thể nào ngăn cản được nữa. Mẹ còn phải chịu đau khổ vì các con cho đến bao giờ! Sở dĩ Con Mẹ chưa trừng trị các con là vì Mẹ không ngừng năn nỉ Người. Thế mà các con có lưu tâm đến điều đó đâu. Dù trong tương lai các con có cầu hay đến đâu, có xử đẹp đến mấy đi nữa, các con cũng không thể nào bù đắp cho Mẹ những gì Mẹ đã chịu đựng vì các con” (AWCWTS:93)

Tình Thương đòi hỏi thông cảm và ban phát. Mẹ Maria đã không ban phát cho nhân loại những gì họ thiếu thốn và cần thiết để được cứu rỗi là gì, khi chỉ cho họ các cách thức phải làm, như đọc kinh Mân Côi cho thánh Đaminh, đọc lời nguyện sau mỗi chục kinh cho 3 Thiếu Nhi Fatima, thậm chí Mẹ còn sáng kiến và bảo làm ra các đồ vật hay nơi chốn để qua đó Mẹ có thể ban ơn cho loài người, như Áo Đức Bà Carmêlô cho thánh Simon Stock, Ảnh Đức Bà Vô Nhiễm Thai cho thánh Catarina Labuarê, hay các Đền Thờ Kính Mẹ ở Guadalup, ở Lộ Đức, ở Fatima.

Trước thánh nhan Thiên Chúa ở trên trời, Mẹ vốn có quyền cứu rỗi loài người rồi. Thế nhưng, phải làm sao cho nhân loại có thể lãnh nhận ơn cứu rỗi mà Thiên Chúa, Đấng “muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý” (1Tim 2:4), hằng muốn và chỉ muốn ban cho họ khi họ tỏ ý muốn chấp nhận ơn ấy. Đó là lý do Mẹ đã nhiều lần từ trời hiện xuống với con cái của Mẹ. Mẹ hiện xuống với con cái Mẹ là để làm cho họ có thể chấp nhận ơn cứu rỗi Thiên Chúa muốn ban cho họ.

Thật ra, từ trời cao, Mẹ vẫn có thể ban ơn cho con cái của Mẹ trên trần gian, không cần Mẹ phải đích thân hiện xuống với họ như Mẹ đã từng làm. Tuy nhiên, để loài người có thể nhận thấy Mẹ yêu thương họ là dường nào, và để họ dễ tin vào Mẹ hơn, nhờ đó, lời Mẹ khuyên dạy hay nài xin họ sẽ được họ đáp ứng mau chóng và tha thiết hơn, Mẹ đã thực sự tỏ mình ra với loài người, qua một số linh hồn ưu tuyển của Mẹ.

Số linh hồn ưu tuyển được Mẹ hiện ra này, như chị thánh Catarina Labuarê năm 1830 ở Paris, như chị thánh Bernadetta năm 1858 ở Lộ Đức, hay như 3 Thiếu Nhi Lucia, Phanxicô và Giaxinta ở Fatima năm 1917, cùng với những người tin vào Mẹ qua các linh hồn ưu tuyển này, chẳng khác nào như các người giúp việc cho bữa tiệc cưới ở Cana xưa, đã biết nghe theo lời Mẹ dặn “Người bảo làm gì qúi vị hãy làm như vậy”, nhờ đó, thế giới vẫn còn tồn tại cho đến bây giờ.

Thật ra, tự việc làm của những linh hồn ưu tuyển này trong việc đáp ứng đúng như lời Mẹ dạy, tự chúng không thể nào cứu được thế giới như vậy. Cũng như tự nước lã thiên nhiên không thể nào tẩy hết nguyên tội của một con trẻ sơ sinh thế nào, nếu nó không được tác nhân có thẩm quyền sử dụng với Lời Truyền Thần Linh: “Ta tha tội cho con nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần”. Phải, chính lời của Mẹ, Đấng có quyền cứu rỗi trước mặt Chúa, qua các linh hồn ưu tuyển này đã thực sự giải cứu thế gian cho đến bây giờ.

Nếu Lazarô chết bốn ngày không thể nào tỏ ra tin vào Chúa “là Sự Sống Lại và là Sự Sống” (Gn 11:25) mà vẫn được Chúa Giêsu làm cho sống lại và ra khỏi mồ, phải chăng là vì chị của anh là Matta đã tuyên tín thay cho anh ta. Trong việc cứu rỗi thế gian cũng vậy, Mẹ cũng sẽ dùng một số linh hồn con cưng của Mẹ, dù được Mẹ trực tiếp hiện ra hay không, miễn là nhận biết và yêu mến Mẹ, bằng việc thực hành những điều Mẹ nhắn nhủ. 

Ở Fatima, để cứu rỗi các linh hồn, Mẹ đã nói rõ với chung 3 Thiếu Nhi Fatima và riêng chị Lucia sau này là: hy sinh và tôn sùng Trái Tim Mẹ.

- Hy sinh: “Hãy cầu nguyện, cầu nguyện thật nhiều, và hãy hy sinh cho các tội nhân; bởi nhiều linh hồn phải sa hỏa ngục vì không có ai hy sinh và cầu cho họ” (FILOW:167). Ngoài ra, hy sinh cũng còn để đền tạ Thánh Tâm Chúa và Khiết Tâm Mẹ nữa, nhờ đó, Mẹ sẽ cứu các tội nhân đã xúc phạm đến Mẹ: “Các con có muốn dâng mình cho Thiên Chúa để chịu đựng tất cả mọi đau khổ Ngài sẽ gửi đến cho các con như một việc đền tạ tội lỗi Ngài đã bị xúc phạm và một lời nguyện cầu cho tội nhân ăn năn trở lại” (FILOW:158).

- Tôn Sùng Trái Tim Mẹ: “Để cứu họ (các linh hồn đáng thương sa hỏa ngục), Thiên Chúa muốn thiết lập trên thế gian sự tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ” (FILOW:162). Ngoài ra, tôn sùng Trái Tim Mẹ còn ở tại việc đền tạ Trái Tim Mẹ: “Ít là con hãy an ủi Mẹ, Mẹ hứa sẽ phù hộ với những ơn cần thiết để được cứu rỗi trong giờ lâm tử những ai giữ 5 Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng liên tiếp ...với ý đền tạ Mẹ” (FILOW:195).

Như thế, 

Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria là Bí Tích Mầu Nhiệm Cứu Rỗi Trần Gian.

Muốn lãnh nhận cũng như ban phát bí tích cứu rỗi mầu nhiệm này, con người cần phải tôn sùng Mẹ qua việc nhận biết và yêu mến Mẹ, được tỏ ra bằng cách cử hành Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng kính Mẹ và đền tạ Mẹ như Mẹ đã chỉ dạy cho chị Lucia.

<<<

Trang đầu

>>>