PHẦN VII

CHƯƠNG 1

 

* CHÚA THÁNH THẦN NGỰ XUỐNG,

* MẸ MARIA TRỰC KIẾN CHÚA THÁNH THẦN

 

 Được ở cùng một nơi với Mẹ Maria và được Mẹ khuyến khích, mười hai Tông Đồ, các môn đệ cùng với tất cả các tín hữu hân hoan chờ đón việc hoàn thành lời Chúa Cứu Thế hứa sẽ gởi Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi, Đấng sẽ chỉ dạy và làm cho mọi người hiểu các điều Chúa Giêsu đã giáo huấn (Gioan 14:26). Mọi người đồng tâm nhất trí trong bác ái. Không một người nào có tư tưởng, tình cảm hoặc khuynh hướng bất đồng. Mọi người đều một lòng, một ý và hành động. Mặc dầu đã tuyển chọn thánh Mathias thay thế Judas Iscariot, không có lấy một cử chỉ hoặc một dấu hiệu bất đồng dù nhỏ nhặt nhất giữa các con cái đầu lòng của Giáo Hội. Không một tư tưởng bất hòa nào tìm được lối xâm nhập cộng đoàn thánh thiện này. Mọi người hiệp nhất trong cầu nguyện, ăn chay và trông chờ Chúa Thánh Thần, Đấng không tìm đến ngự nơi những trái tim bất hòa kiêu căng. Sự hiệp nhất trong yêu thương có sức mạnh khôn lường. Việc hiệp nhất này không những chỉ để chuẩn bị mọi người đón Chúa Thánh Thần, mà còn có hiệu lực khắc phục xua đuổi ma quỉ.

 Mẹ Maria biết rõ thời điểm Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông Đồ và cộng đoàn. Khi những ngày của Lễ Hiện Xuống sắp được hoàn thành (Tđcv 2:1), Mẹ Maria thấy nhân tính của Ngôi Lời (Gioan 14:26) nói với Thiên Chúa Cha về lời hứa gởi Đấng An Ủi đến cho các Tông Đồ, về việc gieo trồng Đức Tin và mọi Thánh Sủng trong Giáo Hội Chúa đã tới. Chúa Giêsu nhắc đến các công nghiệp đã giành được trong cuộc đời trần thế, Khổ Hình Tử Nạn để cứu độ nhân loại. Chúa Kitô cũng nhắc đến sự kiện Chúa là Đấng Trung Gian, là Trạng Sư, là Đấng Bầu Cử giữa Thiên Chúa Cha hằng hữu và nhân loại, và Mẹ Maria cực dịu hiền của Chúa đang sống giữa loài người. Chúa Giêsu cũng xin Thiên Chúa Cha rằng ngoài việc đem thánh sủng và các hồng ân cho thế giới, Chúa Thánh Thần xuất hiện nơi thế giới cách hữu hình để nhờ đó Luật Phúc Âm được tôn vinh trước toàn thể nhân loại. Chúa Thánh Thần đến để an ủi, khuyến khích các Tông Đồ và các tín hữu, những người có nhiệm vụ truyền bá Chân Lý. Mẹ Maria sấp mình dưới đất theo hình Thánh Giá, khiêm nhượng kết hiệp với Chúa Cứu Thế xin Thiên Chúa Cha gởi Chúa Thánh Thần đến với Giáo Hội. Mẹ thấy, trong hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi, điều Chúa Cứu Thế cầu xin và cách thức hoàn thành điều đó được đặc biệt chấp nhận.

 Sáng ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Mẹ Maria an ủi các Tông Đồ, các môn đệ và các phụ nữ đạo đức, tổng số một trăm hai mươi người. Mẹ khuyên mọi người cầu nguyện sốt sắng hơn nữa và canh tân niềm trông cậy vì đã tới thời điểm mọi người được Chúa Thánh Thần tới viếng thăm. Vào giờ thứ bốn (khoảng tám giờ sáng), khi mọi người quây quần và nhiệt thành cầu nguyện chung quanh Mẹ Maria, bầu không khí thình lình dao động, những tiếng sấm lớn và cơn gió bùng nổ mạnh hoà với ánh sáng rực rỡ tỏa ra khắp Nhà Tiệc Ly. Một ngọn (lưỡi) lửa giống nhau xuất hiện trên đầu mọi người hiện diện. Đó là biểu hiệu hữu hình việc Chúa Thánh Thần ngự đến (Tđcv 2:2). Chúa Thánh Thần ban cho từng người tràn đầy Ơn Thánh Linh và hồng phúc thiên đàng, tức thời tạo ra các hiệu lực khác nhau tại Nhà Tiệc Ly và khắp Jerusalem, tùy theo trình độ người được Ơn Chúa Thánh Thần.

 Nơi Mẹ Maria, toàn thể các hiệu lực Ơn Chúa Thánh Thần đều tuyệt vời lạ lùng. Mẹ Maria được biến hình và đưa lên cao trong Thiên Chúa. Mẹ Maria nhìn thấy Chúa Thánh Thần cách trực diện, Mẹ đã vui hưởng thị kiến Thiên Chúa Ba Ngôi. Mẹ tạ ơn Chúa đã gởi Chúa Thánh Thần đến quản trị Giáo Hội cho tới tận thế. Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh hết sức hài lòng về cách hành sử của Mẹ Maria trong dịp này.

 Theo lời thánh Luca (Tđcv 2:11), tất cả mọi người hiện diện: các Tông Đồ, Môn Đệ và tín hữu đều lãnh nhận Bảy Ơn Chúa Thánh Thần: (Ơn) Khôn Ngoan, Thông Hiểu, Tri Thức, Sốt Mến, Suy Xét, Kiên Trì và Kính Úy. Thánh sủng được ban nhiều hoặc ít tùy theo tình trạng và nhiệm vụ của từng người trong Giáo Hội. Mười hai Tông Đồ được làm cho trở thành những người thừa hành xứng đáng của Tân Ước, là những người xây dựng Giáo Hội Phúc Âm cho toàn thế giới. Chúa Thánh Thần ban cho các thánh Tông Đồ, Môn Đệ và tín hữu sức mạnh tuyệt vời. Sức mạnh này làm cho các ngài có khả năng thực hành thánh đức anh hùng, được thánh hoá cao độ; lướt thắng mọi gian khổ, chu toàn mọi nhiệm vụ khó khăn cam go, cả đến hy sinh mạng sống cũng không từ nan.

 Thánh Luca nói Chúa Thánh Thần ngự xuống với toàn thể cộng đoàn hạnh phúc đang hội họp (Tđcv 2:7). Tuy nhiên không phải chỉ những người hiện diện trong Nhà Tiệc Ly được tràn đầy Chúa Thánh Thần và các hồng ân kỳ diệu, mà chính ngôi nhà đó được bao bọc trong bầu ánh sáng rực rỡ lạ lùng. Những điều phi thường của việc Chúa Thánh Thần ngự xuống cũng truyền thông cho cả những người ở phía ngoài Nhà Tiệc Ly, tạo ra rất nhiều hiệu lực khác nhau nơi dân cư Jerusalem và các vùng lân cận. Những người có lòng mộ mến xót thương Chúa Cứu Thế chịu khổ hình đều được Chúa Thánh Thần thăm viếng, được ơn soi sáng và thánh sủng chuẩn bị họ sau này chấp nhận giáo lý các thánh Tông Đồ rao giảng. Những người trở lại nhờ bài giảng thứ nhất của thánh Phêrô đều là những người đã xót thương Chúa Giêsu chịu khổ hình mà nhờ đó họ xứng đáng hưởng hồng ân đức tin.

 LỜI MẸ MARIA

 

 Con của Mẹ, chỉ với chút lòng kính trọng và biết ơn, con cái Giáo Hội lôi kéo được hồng ân vô cùng này của Đấng Tối Cao, đó là, ngoài việc gởi Con Thiên Chúa xuống trần gian làm Thầy và Chúa Cứu Chuộc họ, Thiên Chúa cũng gởi Chúa Thánh Thần đến cho Giáo Hội. Tình yêu của Thiên Chúa Cha vĩ đại bao la vô cùng! Vì yêu thương mà Thiên Chúa tìm cách lôi kéo nhân loại về với Ngài để làm cho nhân loại trở thành những người chia sẻ các điều trọn lành tuyệt vời của Ngài. Thiên Chúa đã gởi Con Một của Ngài, Đấng là Sự Khôn Ngoan (Gioan 3:16) và sau đó đã gởi Chúa Thánh Thần, Đấng là Tình Yêu, đến trần gian để làm cho mọi người trở nên giàu có theo cách họ có thể. Chúa Thánh Linh dùng việc ngự đến với các thánh Tông Đồ cùng mọi người ở Nhà Tiệc Ly làm lời hứa và minh xác rằng Chúa sẽ ban cũng chính ơn đó cho các con cái khác của Giáo Hội, những người là con cái Ánh Sáng và Phúc Âm.

 Chúa Thánh Thần sẵn sàng ban những hồng ân đó cho tất cả mọi người, nếu họ sẵn sàng đón nhận. Để minh chứng chân lý này, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống cách hữu hình trên nhiều tín hữu và với những hiệu lực hiển nhiên (Tđcv 8:17,10:44, 11:15), vì các tín hữu này là những tôi tớ thực sự trung thành, khiêm nhượng, thành thực, trái tim trinh trong, sẵn sàng đón nhận Chúa. Ngày nay, Chúa Thánh Thần ngự đến với nhiều linh hồn công chính, mặc dầu không có những biểu lộ rõ ràng công khai như thế, vì không cần thiết, cũng không thích hợp. Nhưng hiệu lực và các ơn bề trong đều cùng một bản chất, hoạt động tùy theo tình trạng chuẩn bị sẵn sàng của người nhận các ơn đó.

 Phúc thay linh hồn khao khát trông chờ Ơn Chúa Thánh Thần, tích cực góp phần vào ngọn lửa thần linh. Lửa Ơn Chúa Thánh Thần làm cháy lên, soi sáng, tiêu hủy tất cả những gì thuộc trần gian và nhục dục xác thịt. Lửa này tinh lọc, nâng linh hồn lên tới sự hiện hữu mới, hiệp thông với chính Thiên Chúa.

 

CHƯƠNG 2

 

* CÁC THÁNH TÔNG ĐỒ RAO GIẢNG,

* MẸ MARIA CHĂM SÓC  CON CÁI MỚI CỦA GIÁO HỘI

 

      Cư dân và du khách khắp Jerusalem sửng sốt vì các biểu hiệu rõ ràng công khai việc Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Giáo Hội sơ khai. Khi tin tức về các sự việc lạ lùng xảy ra tại Nhà Tiệc Ly được loan truyền, nhiều nhóm người tới để biết thêm sự việc (Tđcv2:6). Vì hôm đó là một ngày trong tuần lễ trọng của người Do Thái đang được cử hành, và vì ân sủng đặc biệt từ thiên đàng, Jerusalem đầy khách hành hương từ khắp các nước khác tụ về. Đấng Tối Cao muốn biểu lộ các điều lạ lùng của việc rao giảng truyền bá Luật Ân Sủng mới, mà Ngôi Lời Nhập Thể, Chúa Cứu Thế Chúa chúng ta, đã ban để cứu chuộc nhân loại.

 Bừng cháy lửa yêu mến do Ơn Chúa Thánh Thần và biết mọi người ở Jerusalem đang tụ họp trước cửa Nhà Tiệc Ly, các thánh Tông Đồ đã xin Mẹ Maria cho các ngài ra ngoài rao giảng cho những người được Chúa Thánh Thần dẫn tới. Các ngài ước ao rao giảng về Chúa Cứu Thế và Ơn Cứu Chuộc ngõ hầu các ân sủng vĩ đại của Chúa Thánh Thần không bị một giây phút nào không đem lại phúc lộc đầy tràn cho các linh hồn và vinh danh Thiên Chúa. Tất cả các thánh Tông Đồ đều ra khỏi Nhà Tiệc Ly, rao giảng các mầu nhiệm đức tin và sự sống đời đời cho các người tụ họp. Mặc dầu trước kia nhút nhát thầm lặng, bây giờ các ngài hiên ngang tiến ra và hùng hồn nói những lời bốc cháy như tia lửa xuyên thấu tâm hồn người nghe.

 Tất cả mọi người, gồm nhiều ngôn ngữ khác nhau tụ họp tại Jerusalem ngày đó, đều nghe các thánh Tông Đồ nói thổ ngữ của họ. Việc này cùng với giáo lý các thánh Tông Đồ rao giảng tạo ra sự lạ lùng cao cả. Tuy nhiên tác giả xin lưu ý rằng: do Ơn Chúa Thánh Thần, các thánh Tông Đồ có thể nói ngôn ngữ mọi dân tộc vì nhu cầu rao giảng Phúc Âm, nhưng dịp đó các ngài đều nói tiếng Do Thái. Mặc dầu chỉ nói tiếng Do Thái, lời các thánh Tông Đồ được mọi người thuộc các quốc gia dân tộc khác nhau hiện diện hiểu rõ ràng, chẳng khác gì các ngài nói nhiều ngôn ngữ khác nhau (Tđcv 2:9). Chúa làm phép lạ này để lời các thánh Tông Đồ rao giảng được mọi người thuộc mọi quốc gia chủng tộc nghe hiểu và tin theo. Thánh Phêrô chỉ giảng một lần mà tất cả mọi người hiện diện đều nghe hiểu theo ngôn ngữ của mình, việc này cũng được thể hiện cho các thánh Tông Đồ khác.

 Những người nghe các thánh Tông Đồ nói đã không hiểu phép lạ này, mặc dầu họ ngạc nhiên vì mỗi người nghe được lời rao giảng bằng chính ngôn ngữ hàng ngày của mình. Nhưng phép lạ và sự ngạc nhiên này tùy theo tâm trạng từng người. Những người sốt sắng lắng nghe nhận được ơn hiểu biết sâu xa về Thiên Chúa và Ơn Cứu Chuộc, đã mau mắn nhiệt thành đáp ứng. Những người này được làm cho tha thiết ước ao hiểu biết chân lý. Nhờ ánh sáng thần linh, họ thực lòng ăn năn thống hối, tha thiết ước ao được Chúa thương xót tha thứ. Những người này xin các thánh Tông Đồ cho biết phải làm gì để được sống đời đời. Những người khác, trái tim chai đá, không xúc động trước chân lý thánh thiêng được rao giảng cho họ, đã phẫn nộ đối với các thánh Tông Đồ, mà thay vì khuất phục, họ gọi các thánh Tông Đồ là những người cải cách phiêu lưu. Nhiều người Do Thái, cuồng tín ngỗ nghịch hơn nữa, vong ân bội bạc và đố kị, công kích các thánh Tông Đồ, họ nói các ngài say rượu và điên khùng (Tđcv 2:13).

 Ba ngàn người, trong số những du khách thuộc nhiều quốc gia từ khắp thế giới tụ về Jerusalem dịp đó, đã tin Chúa Cứu Thế nhờ lời rao giảng của thánh Phêrô. Mọi dân tộc có thể được dự phần các kết quả Ơn Cứu Chuộc, tất cả có thể được qui tụ trong Giáo Hội; tất cả mọi người có thể được hưởng Ơn Chúa Thánh Thần; vì Giáo Hội phải qui tụ bao gồm mọi quốc gia dân tộc. Trong số này, nhiều người Do Thái đã xót thương chứng kiến Chúa chịu khổ hình và một số, từng góp phần vào Khổ Hình của Chúa, cũng đã trở lại, tuy nhiên rất ít, vì nhiều người không chịu thay đổi tâm tình. Nếu tất cả những người đó đều thay đổi tâm tình, hẳn họ đã được Chúa thương xót tha thứ. Sau khi giảng thuyết, các thánh Tông Đồ lui về Nhà Tiệc Ly tường trình mọi việc với Đức Hiền Mẫu Maria. Rất đông con cái mới của Giáo Hội theo các thánh Tông Đồ vào Nhà Tiệc Ly để có thể nhận và tôn kính Đức Hiền Mẫu.

 Mẹ Maria biết rõ mọi việc xảy ra. Từ phòng tĩnh tâm, Mẹ nghe rõ lời các thánh Tông Đồ giảng, Mẹ biết rõ tinh thần và tư tưởng thầm kín của tất cả những người nghe giảng. Suốt thời gian này, Đức Hiền Mẫu phủ phục trên đất tha thiết cầu nguyện cho việc trở lại của tất cả những người tin theo Chúa Cứu Thế, cho toàn thể các người khác, nếu họ thuận cộng tác với ơn trợ giúp và thánh sủng. Để giúp các thánh Tông Đồ rao giảng, và cho những người nghe lời các thánh Tông Đồ được đức tin, Mẹ Maria gởi nhiều thiên thần đem những ơn thúc đẩy khuyến khích tới cho các thánh Tông Đồ, cho các ngài sức mạnh để làm sáng tỏ hơn nữa các mầu nhiệm về nhân tính và Thiên Tính Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc chúng ta. Khi các thánh Tông Đồ trở lại bên Mẹ dẫn theo những hoa trái đầu tiên của Ơn Chúa Thánh Thần và lời các ngài rao giảng, Mẹ Maria đón tiếp mọi người với niềm vui vẻ dịu dàng nhân từ của hiền mẫu.

 Thánh Phêrô nói với những người mới trở lại: “Thưa anh chị em, đây là Đức Hiền Mẫu Chúa Cứu Thế, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng là Thiên Chúa thực và là người thực. Đức Hiền Mẫu đã cho Chúa hình hài nhân loại, đã cưu mang và sinh ra Chúa mà vẫn nguyên vẹn là Trinh Nữ trước khi, trong khi và sau khi sinh Chúa. Anh chị em hãy nhận Mẹ là Hiền Mẫu, là Nơi Nương Náu, là Đấng Bầu Cử anh chị em, vì qua Đức Hiền Mẫu, anh chị em và chúng tôi nhận được ơn soi sáng, chỉ dạy, được cứu khỏi tội lỗi và những khốn khổ của chúng ta.” Nghe lời thánh Tông Đồ và nhìn thấy Mẹ Maria, các tín hữu mới này được muôn vàn ơn soi sáng và an ủi. Tất cả các tân tòng đến quì trước mặt Mẹ, tha thiết xin Mẹ giúp đỡ và chúc lành. Mẹ Maria tránh việc mọi người quì nơi chân Mẹ xin Mẹ chúc lành. Vì thế thánh Phêrô nói với Mẹ Maria: “Thưa Đức Hiền Mẫu, xin Mẹ đừng từ chối các tín hữu này điều họ tha thiết xin cho sự an ủi linh hồn.” Mẹ Maria khiêm tốn thi hành lời Vị Thủ Lãnh Giáo Hội. 

 Tình yêu tràn đầy tâm hồn các tín hữu tân tòng khiến họ ước ao nghe chính Đức Hiền Mẫu nói lời khích lệ. Vì họ thấy Mẹ Maria đã nhún nhường tuân phục đối với thánh Phêrô, mọi người hướng sang thánh Phêrô yêu cầu ngài xin Mẹ Maria đừng để họ ra về mà không được nghe lời Mẹ. Thánh Phêrô cho rằng đặc ân này rất thích hợp cho các linh hồn mới được tái sinh trở về với Chúa Kitô, ngài cũng ý thức rằng Mẹ Khôn Ngoan biết rõ việc gì cần phải làm, nên ngài mạo muội vắn tắt nói: “Thưa Đức Hiền Mẫu, xin Mẹ nghe các lời khẩn khoản của các con cái Mẹ.”

 Mẹ Maria vâng lời, nói với các tân tòng: “Anh chị em hết sức yêu quí trong Chúa, xin anh chị em hết lòng cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa Toàn Năng. Giữa muôn người, Thiên Chúa đã kêu gọi và dẫn anh chị em tới con đường đích thực của cuộc sống vĩnh cửu trong ơn nhận biết đức tin thánh mà anh chị em mới nhận được. Xin anh chị em kiên trì thành tâm tuyên xưng đức tin, tin theo mọi điều bao gồm trong Luật Ân Sủng đã được Chúa Giêsu rao giảng và ấn định. Chúa Giêsu là Con và là Chúa Cứu Chuộc tôi. Xin anh chị em nhiệt thành nghe và vâng theo các Tông Đồ của Chúa, các vị này giảng dạy, chỉ bảo anh chị em, ngõ hầu anh chị em được niêm ấn trở nên con cái Thiên Chúa nhờ Nhiệm Tích Thanh Tẩy. Tôi tự nguyện làm nữ tì giúp đỡ anh chị em trong mọi điều để an ủi khích lệ anh chị em. Tôi sẽ xin Chúa là Cha nhân từ nhìn nhận anh chị em, cho anh chị em hạnh phúc hưởng thánh nhan Chúa.”

 Nhờ lời Mẹ Maria, các con cái mới của Giáo Hội được an ủi; được ơn soi sáng, tôn kính ngưỡng mộ Mẹ. Các tân tòng lại xin Mẹ chúc lành. Các tân tòng ra về được canh tân và tràn đầy ân sủng Đấng Tối Cao. Từ ngày đó trở đi các thánh Tông Đồ, các môn đệ, tiếp tục rao giảng và làm phép lạ. Suốt tám ngày sau ngày Chúa Thánh Thần ngự xuống, các ngài không phải chỉ dạy dỗ ba ngàn người trở lại trong ngày Lễ Hiện Xuống, mà còn giảng dạy cho vô số người khác ngày lại ngày tiếp thêm nhận được đức tin Chúa Cứu Thế. Những người này từ khắp nơi trên thế giới tụ về nên các thánh Tông Đồ và môn đệ nói với họ bằng ngôn ngữ riêng từng người.

 Ơn nói nhiều thứ tiếng khác nhau được ban cho tất cả mọi người hiện diện tại Nhà Tiệc Ly khi Chúa Thánh Thần ngự xuống, tuy nhiên ơn này đầy đủ và mạnh mẽ hơn nơi các thánh Tông Đồ. Vì số người trở lại rất đông, đặc ân nói nhiều ngôn ngữ rất cần thiết cho giai đoạn này. Mặc dầu tất cả mọi người đến với các thánh Tông Đồ, nhiều phụ nữ, sau khi nghe các thánh Tông Đồ giảng, đã đến với thánh Maria Magdalena và các bạn của bà. Các bà dạy giáo lý, huấn dụ họ. Nhiều người khác trở lại do chứng kiến phép lạ các nữ môn đệ thánh thiện này đã làm. Đặc ân làm phép lạ cũng được ban cho các nữ môn đệ. Các bà đã chữa lành mọi bệnh tật, làm cho người mù sáng mắt, người câm nói được, người tật nguyền đi đứng cử động bình thường, và cho nhiều người chết sống lại. Những phép lạ do các thánh Tông Đồ, các môn đệ nam nữ, thực hiện đã tạo ra sự ngạc nhiên lạ lùng khắp Jerusalem, đến độ khắp nơi người ta chỉ nói đến những sự lạ lùng và việc rao giảng của các Tông Đồ, các môn đệ và những người theo giáo lý Chúa Kitô.

 Đây là bước khởi đầu hạnh phúc, thời kỳ vàng son của Giáo Hội truyền giáo. Dòng ân sủng và đặc ân Chúa Thánh Thần vun tưới địa đàng mới được chính Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc, gieo trồng, và cây trường sinh là Mẹ Maria rất thánh đứng ở giữa vườn. Khi đó đức tin sống động, cậy trông vững chắc, bác ái yêu thương nồng nàn, chân thành chính trung, khiêm nhượng thực lòng, công bằng ngay thẳng nhất, các tín hữu không tham lam cũng không theo đuổi phù vân. Mọi người chà đạp dưới chân các phù hoa hư ảo, không ai mắc phải lòng thèm khát trần tục, kiêu căng và cao vọng.

 Trong phần này tác giả chỉ xin kể lại một phần hết sức nhỏ các việc lạ lùng vĩ đại mà Mẹ Maria đã thực hiện nơi Giáo Hội sơ khai. Mẹ đã không hề nghỉ ngơi hoặc bỏ một giây phút hoặc cơ hội nào để ban đặc ân cho toàn Giáo Hội hoặc cho con cái Giáo Hội. Mẹ khuyến khích, chỉ dạy, khuyên bảo, và phân phát mọi ân sủng Thiên Chúa cách quảng đại cho mọi con cái Giáo Hội.

 Sự may mắn của những người sống trong thời kỳ đại hạnh phúc, những năm tháng Mẹ Maria còn ở trần gian sau khi Chúa Giêsu về thiên đàng, có thể tạo ra lòng ganh đua thánh thiện nơi những người sống trong ánh sáng đức tin thuộc các thời đại về sau và ít được ưu ái hơn. Sự thực là chúng ta không được hạnh phúc sống đồng thời với Mẹ Maria, không được thấy Mẹ, không được nói chuyện với Mẹ và nghe Mẹ nói bằng chính những giác quan thân xác chúng ta. Tuy nhiên chúng ta cần nhớ rằng trong kiến thức và tình yêu thương của Đức Hiền Mẫu Maria yêu dấu, tất cả chúng ta đều hiện diện với Mẹ, ngay trong những ngày đó. Mẹ thấy và biết tất cả chúng ta theo trật tự và sự nối tiếp theo đó chúng ta sinh ra trong Giáo Hội. Mẹ cầu bầu cho chúng ta cùng mức độ Mẹ cầu nguyện cho những người sống đồng thời với Mẹ. Bây giờ trên thiên đàng Mẹ không kém thế lực hơn khi còn ở trần gian. Mẹ cũng không kém là mẹ đối với chúng ta như đối với các con cái đầu tiên của Giáo Hội. Nhưng tiếc thay, đức tin, lòng sốt mến và tận hiến của chúng ta lại quá khác biệt! Không phải Mẹ Maria thay đổi, tình yêu của Mẹ không bớt nồng nàn, chúng ta được hưởng lời Mẹ cầu bầu và bảo vệ không kém các tín hữu thời giáo hội sơ khai. Nếu trong những lúc khó khăn chúng ta mau mắn chạy đến Mẹ cũng với lòng khiêm tốn, sốt mến, xin Mẹ cầu bầu và thực tâm ký thác trông cậy Mẹ giúp đỡ như các Kitô hữu nhiệt thành trong thời kỳ đầu, chắc chắn không thể hoài nghi toàn thể Giáo Hội Công Giáo sẽ lập tức được hưởng cũng sự trợ giúp mạnh mẽ vô biên của Mẹ Maria.

 Nhiều người trong số các tân tòng xúc động vì sự cao cả của Mẹ Maria đã trở lại dâng cho Mẹ nữ trang và tặng vật quí giá. Nhiều phụ nữ nhiệt thành đã tự ý trút bỏ y phục lộng lẫy, đặt các thứ đó nơi chân Mẹ. Nhưng Mẹ Maria không nhận một thứ nào trong các tặng vật này. Khi Mẹ thấy không tiện từ chối toàn thể các thứ này, Mẹ gợi ý các nữ tín hữu hảo tâm đem các tặng vật đó tới cho các thánh Tông Đồ, để các ngài phân phát cách công bằng chính đáng trong công tác bác ái cho các tín hữu nghèo khó nhất. Mẹ Maria khiêm tốn thành tâm cảm tạ những người này chẳng khác gì họ đã cho chính Mẹ. Các người nghèo khó và đau yếu được Mẹ Maria đón tiếp với lòng nhân từ bao la. Mẹ chữa nhiều người khỏi những tật bệnh thâm căn cố đế họ phải chịu lâu ngày. Qua thánh Gioan, Mẹ cung cấp cho họ nhiều ơn bề trong. Mẹ không bao giờ bỏ sót một điểm nhỏ thánh đức nào. Trong khi các thánh Tông Đồ và môn đệ bận bịu suốt ngày rao giảng đức tin, Mẹ Maria đích thân chuẩn bị lương thực và tiện nghi cho các ngài. Khi tới giờ ăn, Mẹ quì gối phục vụ cơm nước cho các linh mục (thánh Tông Đồ); với lòng khiêm nhượng kính trọng thẳm sâu Mẹ hôn tay các ngài. Việc kính trọng này Mẹ đặc biệt dành cho các thánh Tông Đồ vì Mẹ biết và thấy linh hồn các ngài được củng cố bằng thánh sủng, được phú cho mọi ơn Chúa Thánh Thần, được ca ngợi do địa vị là linh mục thượng tế, là những người gầy dựng Giáo Hội (Eph 2:20). Đôi khi Mẹ Maria thấy các thánh Tông Đồ được bao bọc trong hào quang rực rỡ.

 LỜI MẸ MARIA

 

 Con của Mẹ, trong những điều con đã được cho biết về những biến cố kể lại trong chương này, con sẽ nhận thấy nhiều điều huyền nhiệm trong ơn tiền định cho các linh hồn. Con hãy tin rằng Ơn Cứu Chuộc hết sức phong phú, đủ để cứu chuộc cả loài người (Rom 5:20). Chân lý được tỏ hiện cho mọi người, cho những người nghe lời rao giảng hoặc nhìn thấy các hiệu lực của việc Thiên Chúa Làm Người đến trần gian. Không kể việc rao giảng và sự hiểu biết về phương dược cứu chuộc, mọi người nhận được ơn thúc đẩy trợ giúp ngõ hầu tìm kiếm và chấp nhận phương tiện cứu chuộc. Con ngạc nhiên rằng, mặc dầu được ơn trợ giúp này, trong vô số người tại Jerusalem chỉ có ba ngàn người được ơn trở lại nhờ bài giảng thứ nhất của thánh Tông Đồ. Điều đáng ngạc nhiên hơn là ngày nay quá ít người trở lại theo con đường hằng sống, mặc dù Phúc Âm được phổ biến rộng rãi hơn, việc rao giảng thường xuyên hơn, thừa tác đông số hơn, ánh sáng của Giáo Hội rõ ràng hơn, sự hiểu biết về các mầu nhiệm Thiên Chúa khẳng định hơn. Vì nhân loại đui mù đối với tất cả các ơn này, trái tim họ chai đá hơn, kiêu căng ngạo mạn hơn, tham lam ngoan cố hơn; người ta thực hành mọi tật xấu ác độc mà không chút kính sợ Thiên Chúa và không chút suy nghĩ.

 Nhân loại không thể kêu ca sự an bài tối cao và công bằng vô cùng của Chúa, Đấng ban cho mọi người và cho từng người lòng nhân từ hiền phụ. Chúa chỉ rõ cho người ta thấy cả hai con đường sống và chết. Nếu người nào làm cho trái tim họ chai đá, Thiên Chúa có thể cho phép việc đó xảy ra theo đức công bằng khe khắt nhất. Những người bị trầm luân không thể đổ lỗi cho ai ngoại trừ chính họ. Nếu về sau, khi không còn chút thời gian nào, họ mới luyến tiếc những ân huệ dành cho họ thì đã quá trễ. Thời gian ngắn ngủi trong cuộc đời chuyển tiếp này được ban cho để họ làm cho mình đáng được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng họ đã bưng mắt bịt tai trước chân lý và ánh sáng. Họ nghe theo ma quỉ, tự nguyện theo mọi điều xúi giục ác độc của nó. Họ giày xéo lòng nhân từ đại lượng của Chúa. Họ lấy cớ gì để chối tội? Họ không biết tha thứ điều làm thương tổn họ mà lập tức tìm cách báo thù việc xúc phạm nhỏ bé nhất. Để làm giàu thêm, họ xuyên tạc đảo lộn toàn thể trật tự lý luận và tình huynh đệ tự nhiên. Vì khoái lạc mau qua, họ quên đi những đau khổ đời đời. Để thêm vào điều này, họ khinh thường những lời cảnh cáo, những trợ giúp và răn dạy được Thiên Chúa gởi tới để đánh động lòng lo sợ hình phạt trầm luân đời đời, thúc giục họ xa lánh hình phạt đó. Làm sao họ có thể đổ lỗi cho lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa được? Hỡi nhân loại, những kẻ phạm tội chống lại Thiên Chúa, hãy thức tỉnh. Không ăn năn thống hối thì không có ân sủng. Không cải đổi thì không có tha thứ. Không có tha thứ thì không có vinh quang. Chúa luôn sẵn sàng ban các ơn này cho người xứng đáng. Thiên Chúa luôn sẵn sàng ban lòng nhân từ thương xót cho bất cứ ai tìm kiếm.

 

CHƯƠNG 3

 

* CÁC TÂN TÒNG LÃNH BÍ TÍCH THANH TẨY;

* THÁNH LỄ ĐẦU TIÊN;

* THÁNH THỂ CHÚA KITÔ LUÔN HIỆN DIỆN TRONG MẸ MARIA.

 

     Thánh Luca ghi trong Chương 4 Tông Đồ Công Vụ: từ ngày Chúa Thánh Thần ngự xuống, các thánh Tông Đồ tiếp tục rao giảng và làm phép lạ ở Jerusalem, sau bảy ngày số tín hữu tân tòng lên tới năm ngàn. Các thánh Tông Đồ và môn đệ miệt mài dạy giáo lý và chuẩn bị các dự tòng lãnh Nhiệm Tích Thanh Tẩy. Đúng ra là các môn đệ đảm trách phần lớn việc này, vì các thánh Tông Đồ lo giảng dạy, tranh luận với những người pharisiêu và sadduce. Đức Hiền Mẫu Maria, có các bà khác cùng tên Maria phụ tá, tiến hành việc chuẩn bị trang hoàng đại sảnh đường, nơi Thiên Chúa Con Mẹ đã cử hành Bữa Tiệc Ly.

 Mẹ Maria đích thân tẩy rửa lau chìu sảnh đường để chuẩn bị việc Chúa trở lại trong nghi lễ thánh hiến được cử hành ngày hôm sau. Mẹ xin vị chủ nhà bầy biện đại sảnh y như trong ngày thứ Năm Tiệc Ly; vị chủ nhà đã nhiệt thành cung kính làm theo ý Mẹ. Mẹ Maria chuẩn bị bánh không men, rượu nho cùng các vật dụng cần thiết cho việc thánh hiến. Chính chiếc đĩa đựng bánh thánh và chén thánh Chúa Cứu Thế đã dùng khi lập Nhiệm Tích Thánh Thể được dùng trong nghi lễ thánh hiến này. Mẹ chuẩn bị sẵn nước tinh khiết, các chậu dùng cho việc cử hành nghi lễ Thanh Tẩy được dễ dàng tôn nghiêm. Sau đó Đức Hiền Mẫu Maria lui về nghỉ trong ước vọng nồng cháy. Mẹ phủ phục trên đất tạ ân cầu nguyện chúc tụng, dâng lên Thiên Chúa Cha mọi điều Mẹ biết có thể giúp sửa soạn chính Mẹ và các người khác xứng đáng thi hành việc phân phát Nhiệm Tích Thanh Tẩy.

 Sáng sớm hôm sau, ngày cuối cùng trong tuần bát nhật sau ngày Chúa Thánh Thần Ngự Xuống, toàn thể tín hữu, các dự tòng tụ họp cùng với các thánh Tông Đồ và môn đệ tại Nhà Tiệc Ly. Thánh Phêrô giảng dạy các dự tòng về bản chất, sự tuyệt vời và các hiệu lực của Nhiệm Tích Thanh Tẩy. Do việc lãnh nhận Nhiệm Tích, họ được làm cho trở nên thành viên của nhiệm thể Giáo Hội, lãnh nhận ấn tín thiêng liêng, tái sinh trở nên người mới là con cái Thiên Chúa, được thừa kế vinh quang Chúa qua ơn tha tội và thánh hoá. Thánh Phêrô khuyến khích các dự tòng tuân giữ luật Chúa, khiêm tốn cảm tạ Chúa vì đặc ân này và những ơn khác được Đấng Tối Cao ban cho. Thánh Phêrô cũng giải thích cho họ chân lý cao siêu huyền nhiệm thánh hiến của Nhiệm Tích Thánh Thể là Mình Máu thực của Chúa Giêsu Kitô. Ngài khuyên nhủ cách riêng những người sẽ rước Thánh Thể sau khi lãnh Nhiệm Tích Thanh Tẩy.

 Kế đó chính các thánh Tông Đồ bắt đầu cử hành Nhiệm Tích Thanh Tẩy. Các dự tòng được hướng dẫn tiến vào Nhà Tiệc Ly qua một cửa và, sau khi lãnh Nhiệm Tích Thanh Tẩy họ đi ra qua một cửa khác. Mẹ Maria rất thánh hiện diện suốt buổi lễ, nhưng Mẹ đứng một bên sảnh đường. Mẹ cầu nguyện cho tất cả mọi người mới lãnh nhận Nhiệm Tích Thanh Tẩy. Mẹ thấy rõ các hiệu lực Nhiệm Tích Thanh Tẩy nơi từng người, tùy theo mức độ ân sủng được ban cho linh hồn họ. Mẹ thấy các tân tòng được canh tân, được rửa sạch trong máu Con Chiên, linh hồn được phục hồi sự tinh tuyền thánh thiêng không tì vết. Để minh xác cho các hiệu lực này, một làn ánh sáng cực trong, mọi người hiện diện đều thấy rõ ràng, đậu xuống trên từng người được thanh tẩy. Do phép lạ này, Thiên Chúa muốn xác nhận các ơn khởi đầu của Nhiệm Tích Thanh Tẩy trong Giáo Hội, an ủi những con cái đầu tiên của Giáo Hội và cả chúng ta nữa. Điều đáng tiếc là chúng ta được làm cho trở thành người thụ hưởng đặc ân Nhiệm Tích Thanh Tẩy nhưng không chú ý gì tới cũng không cảm tạ vì đặc ân đó.

 Sau khi toàn thể năm ngàn tân tòng đã lãnh nhận Nhiệm Tích Thanh Tẩy, các thánh Tông Đồ, các môn đệ, các tín hữu và toàn thể tân tòng tạ ân Thiên Chúa, cầu nguyện để chuẩn bị cử hành Nhiệm Tích Thánh Thể. Mọi người phủ phục trên đất thờ lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, tuyên xưng mình bất xứng rước Chúa trong Nhiệm Tích yêu thương. Với lòng khiêm tốn thẳm sâu và việc thờ lạy này, mọi người dọn mình kỹ càng để rước Thánh Thể Chúa. Các thánh Tông Đồ cùng mọi người đọc cũng những thánh vịnh và lời cầu nguyện mà Chúa Kitô đã đọc trước khi thánh hiến, các ngài trung thành bắt chước nghi lễ thánh hiến đó y như các ngài đã chứng kiến Thầy chí thánh cử hành. Thánh Phêrô cầm trong tay bánh không men, sau khi ngước mắt lên trời, với tâm tình trìu mến nồng nàn, ngài đọc trên bánh những lời thánh hiến Thân Xác Cực Thánh Chúa Kitô, như Chúa Giêsu đã làm (2 Cor. 9:24). Lập tức Nhà Tiệc Ly chan hòa ánh sáng; mọi người hiện diện thấy một khối ánh sáng hết sức rực rỡ tụ trên đầu Mẹ Maria. Kế đến, thánh Phêrô thánh hiến chén rượu và cử hành nghi lễ Chúa Kitô đã cử hành với Mình và Máu được thánh hiến của Chúa, đưa lên cao để mọi người thờ lạy. Thánh Phêrô rước Thánh Thể và trao cho mười một thánh Tông Đồ như Mẹ Maria đã chỉ dẫn. Mẹ Maria rước Thánh Thể Chúa từ tay thánh Phêrô, trong khi các thiên thần hiện diện cung kính thờ lạy. Khi tiến tới bàn thờ, Mẹ Maria ba lần bái gối thờ lạy Thánh Thể Chúa.

 Mẹ Maria trở lại chỗ của Mẹ, và không ngôn từ nào có thể mô tả các hiệu lực của việc rước Thánh Thể Chúa nơi Mẹ Maria. Mẹ Maria hoàn toàn biến đổi, được nâng lên, hoàn toàn tan biến trong ngọn lửa bừng bừng thần thiêng của tình yêu mến Con cực thánh. Vâng ý Mẹ các thiên thần đã che Mẹ khuất đi phần nào để mọi người không thấy, ngõ hầu sự chú ý của mọi người hiện diện không bị lôi cuốn quá đáng bởi các hiệu lực thiêng liêng rõ ràng nơi Mẹ. Các thánh Tông Đồ tiếp tục cho mọi người rước Thánh Thể Chúa, trước tiên là các môn đệ rồi đến các tín hữu và tân tòng.

 Chúng tôi xin tạm thời rời các tân tòng đang rước Thánh Thể và thờ lạy Chúa để nói về ơn lạ lùng Mẹ Maria được hưởng từ Phép Thánh Thể. Thánh Thể Chúa Kitô trong hình bánh và rượu thánh hiến được giữ nguyên vẹn liên tục trong ngực Mẹ Maria là phép lạ phi thường. Chỉ có thể hiểu được sự lạ lùng này nhờ sự hiểu biết về mọi đặc ân Thiên Chúa ban riêng cho Mẹ, cũng như chức năng hiền mẫu của Mẹ Maria là phép lạ vô song, và một mình Mẹ trội vượt cách tuyệt vời trên hết mọi thụ tạo. Không một ai có thể hiểu được những việc Chúa thực hiện nơi Mẹ. Chúa muốn chúng ta nhận biết, chúc tụng Chúa nơi Mẹ và nhờ Mẹ. Để chúng ta ý thức rằng ơn cứu chuộc, mọi hy vọng của chúng ta, cả số phận chúng ta nữa, đều qua Mẹ Maria, Chúa Con đã trút hết tình yêu vô cùng cho Mẹ.

 Mẹ Maria sống ba mươi ba năm bên Thiên Chúa Con; từ thời gian Chúa nhập thể nơi lòng trinh khiết Mẹ cho tới khi chết trên Thánh Giá, Mẹ đã không khi nào rời xa Chúa. Mẹ dưỡng nuôi, phục vụ, theo và bắt chước Chúa; Mẹ luôn cư xử với tư cách là Mẹ, là Ái Nữ và Bạn Đồng Hành, là Nữ Tì và Người Bạn trung thành tuyệt đối. Mẹ nói với Chúa, học hỏi mọi điều huyền nhiệm cao siêu, nghe giáo lý và hưởng các đặc ân này của Chúa. Chúa Kitô về thiên đàng, sức mạnh của tình yêu và lý luận ngay chính đòi hỏi Chúa đưa Mẹ Maria rất thánh và yêu dấu về thiên đàng, để trên thiên đàng Chúa không bị xa vắng Mẹ, Mẹ cũng không bị xa cách Chúa vì còn ở lại trần gian. Tình yêu cực kỳ nồng nàn Chúa và Mẹ Maria đối với nhân loại hợp nhất với nhau làm cho Đức Hiền Mẫu khoan dung nhân từ của chúng ta trở lại trần thế để nâng đỡ Giáo Hội. Nhưng Thiên Chúa Con quyền năng vô biên và tình yêu vô cùng mãnh liệt đối với Đức Hiền Mẫu đã bù đắp sự hy sinh đó.

 Nhờ hiểu biết mầu nhiệm tình yêu của Chúa Kitô đối với Mẹ Maria và sức mạnh tình yêu mà Chúa bị thu hút tới với Mẹ, tác giả muốn nói rằng nếu Chúa không tìm được cách ở lại với Mẹ trong Nhiệm Tích Thánh Thể, hẳn là Chúa đã rời khỏi Thiên Đàng để xuống trần gian ở bên Mẹ trong thời gian Mẹ lưu lại với Giáo Hội. Hẳn là Chúa đã không coi việc thiên đàng vắng bóng nhân tính cực thánh của Chúa quan trọng bằng việc xa cách Mẹ Maria rất thánh. Hẳn không quá đáng nếu nói: tất cả chúng ta phải tuyên xưng rằng nơi Mẹ Maria Chúa tìm được sự đáp ứng tương xứng, mức độ tình yêu thích hợp với thánh ý Chúa hơn nơi tất cả các thánh chung lại vì tình Chúa yêu Mẹ Maria vượt quá tình yêu đối với toàn thể mọi thụ tạo. Nếu Mục Tử trong Phúc Âm để chín mươi chín con chiên lại hầu đi tìm chỉ một con chiên lạc, dĩ nhiên chúng ta không nói Chúa bỏ đa số vì thiểu số; hẳn không làm chúng ta ngạc nhiên nếu Thiên Chúa Mục Tử rời bỏ tất cả mọi thần thánh để ở bên con chiên cực thành tín của Chúa là Mẹ Maria. Hiển nhiên cặp mắt của Bằng Hữu và Hiền Mẫu rất thánh lôi kéo Chúa từ ngai toà Thiên Đàng mau mắn xuống trần gian (Cv 6:4), nơi Chúa đã tới, đã sống để cứu chuộc con cái Adong. Nếu bây giờ trở lại trần gian sống bên Mẹ, Chúa không còn phải chịu đau khổ và chết nữa, nhưng vui hưởng hoan lạc bên Mẹ. Vì ngự xuống trong Nhiệm Tích Thánh Thể, Chúa có thể thỏa mãn tình yêu của Chúa và tình yêu của Mẹ. Nơi Trái Tim Mẹ, Chúa có thể nghỉ ngơi mà không phải rời khỏi tay hữu Thiên Chúa Cha hằng hữu (Cv 3:7).

 LỜI MẸ MARIA

 

 Con hãy cẩn thận nhận định về sự lừa dối loài người mắc phải và sự tổn hại đáng buồn họ phải chịu. Thường thường họ chỉ xúc động vì những gì cảm nhận được bằng ngũ quan; lập tức họ tiến hành theo ý cảm mà không suy xét hoặc tham khảo cẩn thận sâu xa hơn. Cảm giác ngũ quan chuyển động dục vọng và khuynh hướng thú tính của họ. Nhân loại không hành động theo lý trí ngay chính mà chỉ do động lực đam mê được thúc đẩy bởi ngũ quan và các đối tượng của chúng. Người ta lập tức bị thúc đẩy trả thù vì họ chỉ nghĩ tới thiệt hại và đau đớn do người khác gây ra. Quá nhiều người bất hạnh hành động theo cách đó. Họ theo đuổi thị dục, những xúc động xác thịt, lòng kiêu ngạo thế tục, mà đây là những thứ thế gian và ma quỉ cống hiến. Trong sự lừa dối mù quáng, họ theo đuổi bóng tối như thể đó là ánh sáng; nếm thứ cay đắng mà cho là ngọt ngào; dùng độc dược làm thuốc chữa bệnh tật linh hồn; cho là khôn ngoan điều mà thực sự chỉ là sự ngu dại của ma quỉ và thế tục.

 Con phải cảnh giác chống lại những sai lầm ngu dại độc hại này. Con không bao giờ được khư khư bám lấy thứ gì, hoặc để cho con bị khống chế bởi bất cứ thứ gì chỉ thuần túy vật chất hoặc do cảm giác tạo ra, cũng không theo đuổi các tiện ích do các thứ đó. Trong mọi hành động, con hãy theo sự hiểu biết nội tâm và ơn soi sáng được Thiên Chúa ban cho ngõ hầu con không mù quáng đi tới. Chúa sẽ luôn ban ơn hướng dẫn đủ cho con. Nếu có thể được, con hãy lập tức xin các bề trên hoặc thày dạy con cho ý kiến, trước khi con thi hành quyết định. Nếu không sẵn gặp bề trên hoặc thầy dạy, con hãy tìm hỏi ý kiến những người khác, cả những người bề dưới. Việc này an toàn hơn là theo ý riêng, vì ý riêng con thường bị lòng say mê làm xáo trộn và mù quáng. Con phải hành động cách thận trọng, dè dặt, tùy theo nhu cầu đòi hỏi của mọi hoàn cảnh và lòng yêu thương huynh đệ khi xảy ra. Trong mọi trường hợp, con cần phải giữ không để mắt lạc khỏi ánh sao bắc đẩu trong linh hồn, trong khi vượt đại dương sâu thẳm của việc tiếp xúc với mọi người, nơi mà mối nguy hiểm bị hư hoại lúc nào cũng sẵn hiện diện.

 

CHƯƠNG 4

 

MẸ MARIA LO LẮNG CHO CÁC TÔNG ĐỒ, MÔN ĐỆ VÀ TÍN HỮU

 

      Luật ân sủng mới tiếp tục phổ biến khắp Jerusalem, số tín hữu gia tăng, Giáo Hội Phúc Âm ngày ngày rộng mở thêm (Tđcv 5:14). Cũng theo nhịp độ đó, lòng ân cần lo lắng của Mẹ Maria mở rộng đối với các con cái mới được quy tụ về do lời các Tông Đồ rao giảng. Vì các thánh Tông Đồ là những tảng đá nền móng kiên cố, trên đó tòa nhà Giáo Hội được xây dựng, Mẹ Maria hết sức ân cần lo lắng cho Giáo Hội, cho mọi thành viên của nhiệm thể Giáo Hội, đặc biệt là cho các Tông Đồ và môn đệ. Tác giả được biết không một ngày, không một giờ nào trôi qua, mà Mẹ Maria không làm nhiều việc lạ lùng đặc biệt cho các Tông Đồ. Tác giả sẽ kể lại một vài trường hợp điển hình về những điều huyền nhiệm của Thiên Chúa trong các việc này. Từ đó chúng ta có thể hình dung, ước lượng lòng nhân từ và nhiệt thành cao cả tuyệt vời Mẹ Maria đối với các linh hồn.

 Mẹ Maria yêu thương, phục vụ tất cả các thánh Tông Đồ bằng tình yêu thương và kính trọng, cả vì sự thánh thiện cao quí của các ngài mà cũng vì các ngài là linh mục, là thừa tác, là nhà giảng thuyết, là những người xây dựng Giáo Hội Phúc Âm. Khi các thánh Tông Đồ còn lưu lại Jerusalem, Mẹ Maria phục vụ, cố vấn và hướng dẫn các ngài. Vì Giáo Hội phát triển, các thánh Tông Đồ phải đi ra khỏi Jerusalem để giảng dạy, làm phép rửa cho nhiều người ở các vùng lân cận. Qua Tông Đồ Công Vụ, chúng ta biết thánh Phêrô đi Lydda và Jaffa, tại đây ngài làm cho bà Babitha đã chết được sống lại và nhiều phép lạ khác, nhưng ngài cũng trở về Jerusalem, mặc dầu thánh Luca kể lại các chuyến đi này sau khi tường thuật cái chết của thánh Stephanô. Nhiều người khắp xứ Palestine tòng giáo. Các thánh Tông Đồ cần phải đi ra ngoài để giảng dạy, nhưng các ngài vẫn cố gắng trở về Jerusalem để tường trình mọi việc lên Mẹ Maria.

 Suốt các hành trình giảng dạy của các thánh Tông Đồ, kẻ thù chung tìm cách cản trở việc truyền bá Lời Hằng Sống và kết quả việc đó. Chúng xúi giục những người không tin đưa ra những chống đối hoặc đấu khẩu với các thánh Tông Đồ, với người nghe giảng hoặc với tân tòng. Dường như ma quỉ tấn công các Tông Đồ dễ dàng hơn khi các ngài đi xa Mẹ Maria. Lucifer mường tượng thấy các ngài bị giải giới và ở dưới quyền nó, dễ dàng bị những cám dỗ của nó đánh bại ngay khi các ngài rời khỏi sự hiện diện của Mẹ Maria. Lòng kiêu căng ngạo mạn của con rồng này, như được ghi trong sách thánh Gióp (Gióp 41:18), coi sắt thép cứng nhất như thể cọng rơm yếu đuối, và thau cứng chẳng khác củi mục. Lucifer không sợ giáo mác phi lao, nhưng sợ hãi sự bảo vệ của Mẹ Maria. Vì thế, để cám dỗ các thánh Tông Đồ, nó phải chờ đợi tới khi các ngài khuất xa xự hiện diện của Mẹ.

 Tuy nhiên dù các thánh Tông Đồ đi xa vắng sự hiện diện của Mẹ Maria, Mẹ vẫn bảo vệ các ngài. Đức Nữ Vương cao cả, từ tháp canh khôn ngoan tuyệt vời của Người, nhìn thấu khắp phương hướng và mọi nẻo đường. Như người lính canh cẩn mật nhất, Mẹ Maria khám phá ra các cuộc tấn công của Lucifer và mau mắn cứu giúp con cái Mẹ. Khi Mẹ không thể trực tiếp nói với các thánh Tông Đồ, Mẹ gởi các thiên thần tới giúp đỡ, khuyến khích, báo động, an ủi, và đôi khi xua đuổi lũ quỉ đang tấn công các ngài. Đôi khi các thiên thần giúp đỡ các thánh Tông Đồ bằng cách âm thầm khuyến khích, an ủi bề trong. Nhiều lần các thiên thần hiện rõ hình người chỉ dẫn các thánh Tông Đồ biết những điều thích hợp với hoàn cảnh, hoặc thông báo lời chỉ giáo của Đức Nữ Vương. Đức Hiền Mẫu yêu thương hỗ trợ các thánh Tông Đồ trong mọi khó khăn vất vả cực nhọc, không kể việc Mẹ luôn thay các ngài dâng lên Chúa lời cầu nguyện và tạ ân. Mẹ Maria là vị phụ nữ dũng lược, mọi người trong nhà Mẹ đều được bao bọc bằng những y phục hai lớp. Là hiền mẫu trong gia đình, Mẹ cung cấp cho mọi người của ăn dinh dưỡng, và do những lao lực vất vả của Mẹ, Mẹ vun trồng vườn nho Chúa.

 Mẹ săn sóc các tín hữu khác cũng y như thế. Mặc dầu có nhiều tân tòng ở khắp Jerusalem và xứ Palestine, Mẹ nhớ nhu cầu và thống khổ của từng người. Chẳng những Mẹ nghĩ tới các nhu cầu linh hồn mà cũng chú ý tới cả những nhu cầu vật chất của họ. Mẹ cứu nhiều người khỏi bệnh trầm kha ngặt nghèo. Mẹ đích thân tới thăm và giúp đỡ mọi người gặp khó khăn. Mẹ ân cần hơn trong việc săn sóc những người nghèo khó bệnh tật. Mẹ đem lương thực tới cho họ nơi giường bệnh, lau chùi dọn dẹp sạch sẽ cho họ; Mẹ đau yếu với người đau yếu. Không khi nào Mẹ từ chối phục vụ hoặc giúp đỡ nhỏ nhặt nhất đối với bất cứ ai, bất kể hoàn cảnh khiêm tốn tầm thường tới mức nào của những người xin Mẹ cứu giúp. Mẹ làm cho từng người được hân hoan an ủi, nhẹ bớt mọi vất vả gian khổ. Những người vì ở xa Mẹ không đích thân giúp đỡ tại chỗ được, Mẹ âm thầm giúp đỡ họ qua các thiên thần hoặc bằng lời cầu nguyện van xin cho họ.

 Lòng nhân từ hiền mẫu của Mẹ tỏ hiện cách đặc biệt cho những người trong giờ hấp hối. Mẹ giúp đỡ nhiều người trong giờ lâm chung và Mẹ chỉ rời họ khi họ đã chắc chắc được phần rỗi đời đời. Đối với những linh hồn phải vào luyện ngục, Mẹ dâng lên Chúa lời cầu nguyện nồng nàn nhất và thi hành một số việc đền tội thay cho họ. Kế đến Mẹ gởi các thiên thần đưa các linh hồn đó ra khỏi luyện ngục, dẫn họ tới trước Thiên Nhan Con Mẹ trên thiên đàng; những linh hồn đó là của Chúa, là hoa trái của Máu Chúa cứu chuộc. Mẹ Maria đem lại hạnh phúc này cho nhiều linh hồn trong thời gian lưu lại trần thế. Tác giả được cho biết ngày nay Mẹ Maria rất thánh vẫn ban đặc ân này cho những người đã sống xứng đáng để được hưởng tình thương và giúp đỡ của Mẹ.

 Tác giả kể lại trường hợp điển hình Mẹ Maria cứu một thiếu nữ khỏi nanh vuốt Satan; hy vọng chúng ta rút được bài học từ trường hợp này. Trong số năm ngàn tân tòng đầu tiên lãnh nhận Nhiệm Tích Thanh Tẩy tại Jerusalem có một phụ nữ nghèo. Nữ tín hữu này, chỉ quanh quẩn việc nội trợ, ngã bệnh suốt nhiều ngày không thuyên giảm. Cũng như việc xảy ra cho nhiều linh hồn khác, cô ta vì sa sút lòng sốt mến ban đầu và vì ơ hờ chểnh mảng đã phạm một vài tội làm nguy hại thánh sủng Thanh Tẩy. Lucifer không bao giờ ngưng nghỉ việc làm hư hại các linh hồn. Nó tấn công cô gái này cách tàn bạo dữ dội. Thiên Chúa để cho nó được phép hoạt động như thế hầu vinh danh Chúa và Mẹ rất thánh. Lucifer, đội lốt một phụ nữ, hiện ra với cô gái đang lâm bệnh. Nó xảo trá bảo cô ta rút lui khỏi những người đang rao giảng về Đấng Bị Đóng Đanh, đừng tin bất cứ điều gì những người đó nói, vì đó là điều hoàn toàn dối trá. Nếu cô không theo lời nó khuyên, cô sẽ bị phạt bởi các thầy tư tế và thẩm phán, những người này đã đóng đanh Vị Thầy tôn giáo mới giả tạo đó. Trái lại, nếu cô nghe lời nó, cô sẽ sống bình an và thoát khỏi nguy hiểm. Cô gái trả lời: “Tôi sẽ làm theo lời bà (Satan ngụy trang); nhưng tôi phải làm gì đối với Vị Phụ Nữ đó, Người mà tôi thấy cùng với những người kia mà Bà hết sức hiền dịu khoan hoà? Tôi rất ước ao lòng hảo tâm của Người.” Lucifer nói: “Vị Phụ Nữ, mà cô nói đó, tệ hơn tất cả những người khác, cô phải tránh khỏi cạm bẫy và xa lánh trước nhất.”

 Vì bị nọc độc chết người của cựu xà, linh hồn bồ câu đơn sơ này bị đưa tới gần vực thẳm trầm luân đời đời, và thân xác cô ta, thay vì hồi phục, đã rơi vào tình trạng nguy tử. Một trong bảy mươi hai môn đệ, đến thăm các tín hữu, được một trong những người ở cùng nơi với nữ tín hữu đó thông báo về bệnh tình nguy tử của cô. Vị môn đệ tới thăm, khuyến khích và giúp đỡ. Nhưng nữ bệnh nhân, vì đã mắc bẫy ma quỉ quá sâu, không tiếp người môn đệ mà cũng không đáp lại một lời, lại còn ngoảnh mặt đi, bịt tai để khỏi nghe. Người môn đệ thấy sự nguy hiểm cấp thời của linh hồn này, đã vội vàng báo cho thánh Tông Đồ Gioan. Thánh Tông Đồ lập tức tới thăm, khuyên bảo, nói với cô ta những lời hằng sống. Nhưng cô ta cũng ngoan cố đối xử với thánh Gioan như đã cư xử với người môn đệ trước đó. Thánh Gioan thấy nhiều toán ma quỉ vây quanh thiếu nữ đó, mặc dầu chúng tháo lui khi ngài tới, nhưng lập tức chúng trở lại nối tiếp sự lừa dối mà chúng đã trút đầy lòng cô gái bất hạnh đó. Thấy tình trạng nguy hiểm của cô ta, thánh Tông Đồ hết sức đau lòng, ngài cầu cứu Mẹ Maria. Hướng nhìn về phía nữ bệnh nhân, Mẹ thấy tình trạng bất hạnh nguy hiểm mà kẻ thù đã lôi kéo linh hồn cô ta. Đức Hiền Mẫu khóc thương con chiên đơn sơ này, đã bị chó sói hỏa ngục khát máu lừa dối. Mẹ phủ phục cầu xin ơn cứu vớt cô ta.

 Mẹ Maria cầu xin cho bệnh nhân này một lúc, nhưng Mẹ không nhận được lời Chúa đáp lại. Thánh ý Chúa muốn để cho Trái Tim vô địch và lòng nhân từ yêu thương của Mẹ đối với người khác được chứng minh. Mẹ Maria nhớ lại việc xảy ra cho tiên tri Elisiêu (2 Các Vua 4:34). Tiên tri Elisiêu đã gởi cây trượng và đầy tớ của ngài là Giezi đi phục sinh cho một cậu bé nhưng không thành công; tiên tri nhận ra rằng chính ngài phải tới chạm vào và phủ phục trên xác cậu bé đó để làm cho sống lại. Thiên thần và thánh Tông Đồ Gioan đều không mạnh đủ để làm cho cô gái bất hạnh đó tỉnh lại khỏi tội lỗi, khỏi cơn mê hoặc của Satan. Mẹ Maria quyết định đích thân tới chữa cô ta. Mẹ trình lên Chúa quyết định này trong lời Mẹ cầu nguyện. Mặc dầu không nhận được lời phúc đáp, Mẹ cho rằng chính việc đó đủ là điều cho phép tiến hành. Mẹ chỗi dậy rời khỏi nguyện phòng, đi với thánh Gioan tới nơi cô gái đau bệnh ở, cách Nhà Tiệc Ly một khoảng khá xa. Nhưng ngay khi Mẹ mới đi vài bước, các thiên thần, theo lệnh Chúa, tới đỡ đưa Mẹ đi. Vì Thiên Chúa chưa cho Mẹ biết thánh ý, Mẹ hỏi các thiên thần, tại sao các ngài cản trở Mẹ. Các thiên thần đáp: “Không lý gì chúng thần lại để Đức Nữ Vương đi bộ băng qua thành phố này, trong khi chúng thần có thể đỡ Người đi mau hơn.” Các thiên thần đưa Mẹ tới phòng bệnh nhân. Cô gái đang hấp hối, thiệt là khốn khổ và bây giờ bị cấm khẩu, bị mọi người bỏ rơi, chỉ có lũ quỉ vây quanh, chúng chờ tóm lấy linh hồn cô ta.

 Ngay khi Đức Nữ Vương các thiên thần tới nơi, mọi ma quỉ sợ hãi ngã đè lên nhau và biến mất tựa tia chớp. Đức Nữ Vương uy quyền truyền cho chúng xuống hoả ngục cho tới khi Người cho phép chúng xuất hiện. Đức Hiền Mẫu tới bên cô gái, cầm tay, gọi tên cô ta, dịu dàng nói với cô những lời hằng sống. Lập tức một sự thay đổi hoàn toàn bao trùm cô gái, cô ta bắt đầu thở nhẹ nhàng hơn và hồi tỉnh. Kế đó cô ta nói với Mẹ Maria: “Thưa Bà của con, một người đàn bà đến thuyết phục con tin rằng các môn đệ Chúa Giêsu lừa dối con, người đó làm cho con tin rằng con phải lập tức tách rời khỏi các môn đệ của Chúa và lìa xa Bà. Trái lại, nếu con theo cách sống của các môn đệ, con sẽ gặp đại bất hạnh.” Mẹ Maria nói: “Con gái của Mẹ, người mà con cho là một phụ nữ, chính là ma quỉ, là kẻ thù của con. Mẹ tới để nhân danh Đấng Tối Cao ban cho con sự sống đời đời; vì thế con hãy trở lại với đức tin đích thực mà con đã lãnh nhận, với hết lòng con, con tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa, là Chúa Cứu Chuộc của con, Chúa đã chết trên Thánh Giá để cứu chuộc con và toàn thể loài người. Con hãy thờ lạy, kêu thánh danh Chúa, xin Chúa tha thứ tội lỗi con.”

 Thiếu nữ bệnh nhân nói “Lúc trước con đã tin tất cả mọi điều này; nhưng chúng bảo con rằng điều tin đó hết sức sai lầm và chúng sẽ phạt con nếu con tuyên xưng điều tin tưởng đó.” Mẹ Maria trả lời: “Con của Mẹ, con đừng sợ điều dối gạt này; nhưng con hãy nhớ rằng hình phạt, những đau đớn mà thực sự đáng phải sợ là những hình phạt và đau đớn trong hoả ngục, mà ma quỉ muốn đem tới cho con. Bây giờ con rất gần giờ chết; nếu con tin Mẹ, con có thể lợi dụng phương thuốc Mẹ ban cho con lúc này mà giải phóng con khỏi lửa đời đời đang đe doạ con vì lỗi lầm của con.” Nhờ lời khuyên bảo và các ân sủng được Mẹ Maria xin được cho cô gái bất hạnh này, cô ta hối hận nước mắt đầm đìa khẩn khoản xin Mẹ cứu giúp cô ta hơn nữa trong cơn nguy cấp, cô ta tuyên xưng sẵn sàng vâng theo mọi điều Mẹ dạy. Khi đó Mẹ giúp cô ta công khai tuyên xưng đức tin nơi Chúa Giêsu Kitô, thi hành việc ăn năn thống hối dọn mình. Đồng thời Mẹ mời thánh Tông Đồ tới ban các Bí Tích cho cô ta. Thiếu nữ bệnh nhân lặp lại các hành động thống hối ăn năn, yêu mến, tuyên xưng thánh danh Chúa Giêsu và Mẹ Maria, Người đang hướng dẫn cô ta. Cô đã hạnh phúc tắt thở trong vòng tay Mẹ Maria, Đấng Bảo Vệ của cô.

 LỜI MẸ MARIA

 

 Con của Mẹ, con học được trong chương này nỗi đau buồn cay đắng khôn tả mà Mẹ khóc thương sự trầm luân của các linh hồn. Con cũng phải học hỏi những việc gì con cần phải làm cho phần rỗi chính con và cứu rỗi người khác, ngõ hầu bắt chước Mẹ trong sự trọn lành Mẹ đòi hỏi ở con. Mẹ không từ chối việc bị hành hạ, ngay cả chết để cứu bất cứ người nào khỏi bị trầm luân đời đời. Mẹ sẳn sàng chịu mọi đau khổ, Mẹ coi việc chịu đau đớn vì mục đích đó là sự ngọt ngào xoa dịu lòng bác ái yêu thương mãnh liệt của Mẹ. Bởi thế nếu con không chết vì đau buồn trước sự trầm luân của các linh hồn, ít nhất con không thoái thác việc tự nguyện chịu mọi đau khổ Chúa gởi cho con để thăng tiến ơn phần rỗi đời đời. Con cũng không được khước từ việc tận lực cầu nguyện và cố gắng ngăn cản tội lỗi nơi những người gần gũi con. Khi con không đạt được ước nguyện ngay, hoặc không biết Chúa có nghe lời không, đừng nản lòng, nhưng hãy làm sinh động mục đích của con và tận lực kiên trì. Lòng ao ước như thế không bao giờ làm Chúa buồn. Chúa ước ao phần rỗi đời đời cho mọi người Chúa đã cứu chuộc hơn con khao khát nhiều. Nhưng nếu các lời con cầu nguyện không thấy được đáp ứng, con hãy dùng phương cách mà sự khôn ngoan và lòng bác ái đòi hỏi, lại tiếp tục các lời con cầu nguyện. Thiên Chúa luôn luôn bị lôi cuốn bởi lòng bác ái đối với người khác và vì yêu thương mà tìm cách ngăn cản người khác khỏi tội lỗi. Chúa không muốn kẻ tội lỗi chết (Ezech. 33:11). Như con đã ghi, Chúa không tán thành phán quyết tiền kiện tuyệt đối về việc luận phạt các thụ tạo của Chúa, nhưng tìm cách cứu rỗi tất cả, nếu họ không tự ý theo đuổi án trầm luân đời đời. Mặc dầu theo phép công thẳng và trái với bản tính của Chúa, Chúa để cho xảy ra việc người ta tự ý chuốc lấy án phạt đời đời, vì đó là điều bất khả ly đối với ý chí tự do của loài người. Con hãy cầu nguyện xin cho thánh ý Chúa thể hiện trong mọi sự chính đáng.

 Nếu Mẹ ước ao con chịu đau khổ với lòng hăng say bác ái như thế vì phần rỗi anh chị em con, con hãy suy xét xem con phải làm gì để cứu rỗi chính con, con phải quí trọng linh hồn con chừng nào, linh hồn con đã được chuộc bằng giá vô cùng. Khi các cám dỗ và ham muốn làm cho con hướng về việc phạm bất cứ thứ tội gì, dù nhỏ mọn đến đâu, con hãy nhớ những đau buồn Mẹ phải chịu, nước mắt Mẹ tuôn rơi vì biết các tội lỗi loài người và lòng Mẹ khao khát ngăn ngừa các tội lỗi đó. Con yêu dấu, đừng gây ra điều như thế cho Mẹ, mặc dầu bây giờ Mẹ không chịu đau đớn như thế nữa, nhưng con tước đoạt khỏi Mẹ niềm vui nhìn thấy con, người mà Mẹ yêu thương làm cho trở nên môn đệ của Mẹ. Nếu con không trung thành trong điều này, con sẽ làm hư điều ước ao cao cả của Mẹ là thấy con làm hài lòng Thiên Chúa Con Mẹ và chu toàn thánh ý Chúa trọn vẹn.

 Nhờ ơn soi sáng, con hãy suy xét ý thức rằng bất cứ tội nào con mắc phạm cũng đều lớn lao chừng nào sau khi con được ưu ái, được liên kết trong bổn phận đối với Chúa và với Mẹ. Những ngày tháng còn lại trong cuộc đời trần thế của con sẽ không thiếu nguy hiểm và cám dỗ. Trong mọi trường hợp, con hãy nhớ những giáo huấn của Mẹ, những đau đớn và nước mắt Mẹ. Hơn hết là hãy nhớ những ân sủng con mắc nợ đối với Thiên Chúa Con Mẹ, Đấng vô cùng đại lượng đối với con, ban cho con Máu Chúa vì mục đích gợi nhớ sự đền đáp hiếu thảo của con.

 

CHƯƠNG 5

 

* THÁNH STÊPHANÔ CHỊU TỬ ĐẠO;
 * KINH TIN KÍNH;
 * CÁC THÁNH TÔNG ĐỒ CHIA TAY ĐI RAO GIẢNG TIN MỪNG

 Thánh Stêphanô, một trong bảy mươi hai môn đệ, là một trong số các thánh đặc biệt may mắn được hưởng gấp bội tình thương của Mẹ Maria. Ngay từ khởi đầu thánh Stêphanô theo Chúa Cứu Thế, Mẹ Maria nhìn thánh nhân với lòng yêu thương đặc biệt. Mẹ Maria nhìn thấy ngay thánh Stephanô được Thầy hằng sống chọn để bảo vệ vinh dự và thánh danh Chúa. Mẹ cũng thấy trước thánh Stêphanô sẽ hy sinh mạng sống vì Chúa. Hơn nữa thánh Stêphanô anh dũng này tính tình hiền hòa. Ngài được các hiệu lực ân sủng làm cho trở nên thuận thảo ngoan ngoãn hơn đối với mọi sự thiêng liêng. Những tính tình như thế làm cho thánh Stêphanô được Đức Hiền Mẫu quí mến. Thường khi nào thấy bất cứ ai có tính tình hiền hoà khiêm nhượng, Mẹ nói những người đó giống Thiên Chúa Con Mẹ. Vì lý do này và các nhân đức anh hùng của thánh Stêphanô, Mẹ Maria yêu thương ngài, xin cho ngài được nhiều hồng ân, tạ ơn Chúa đã tạo dựng, đã gọi và chọn ngài làm một trong những trái đầu mùa các thánh tử đạo của Chúa. Khi nghĩ đến việc tử đạo sắp xảy ra cho thánh Stêphanô như Chúa cho biết, Mẹ càng tăng thêm yêu thương ngài.

 Thánh Stêphanô đáp ứng cách ân cần trung tín, kính trọng sâu xa các hồng ân được Chúa Cứu Thế và Thánh Mẫu ban cho. Trái tim ngài không những chỉ hiền lành mà còn khiêm nhượng. Thánh Stêphanô luôn ấp ủ những ý niệm cao cả nhất liên quan tới Đức Hiền Mẫu từ bi, với lòng quí trọng và nhiệt thành tận hiến, ngài tiếp tục tìm kiếm sự ưu ái của Đức Hiền Mẫu. Thánh Stêphanô hỏi Mẹ Maria về nhiều vấn đề huyền nhiệm. Ngài rất khôn ngoan, đầy ơn Chúa Thánh Thần và đức tin mạnh mẽ, như thánh Luca kể lại. Mẹ Maria giải đáp mọi điều thánh Stêphanô hỏi, khuyến khích thúc đẩy ngài nhiệt thành hoạt động làm vinh danh Chúa Cứu Thế. Để củng cố đức tin mạnh mẽ của thánh Stêphanô hơn nữa, Mẹ Maria báo trước cho ngài biết cuộc tử đạo sắp tới: “Stêphanô, con được Thiên Chúa Con Mẹ ấn định: con sẽ là vị tử đạo đầu tiên theo gương cái chết của Chúa Cứu Thế. Con sẽ theo dấu chân Ngài, như đệ tử được đặc ân nối gót Thầy mình, như người chiến sĩ anh dũng theo gót vị chỉ huy. Con sẽ mang cờ Thánh Giá đi đầu đoàn quân tuẫn đạo. Điều cần thiết là con trang bị chính con bằng lòng dũng cảm kiên trì núp dưới khiên thuẫn đức tin, con cần vững tin sức mạnh của Đấng Tối Cao ở với con trong cuộc chiến đó.”

 Lời báo trước này của Mẹ Maria là lửa bừng bừng khao khát phước tử đạo đốt cháy trái tim thánh Stêphanô. Như được ghi trong Tông Đồ Công Vụ, thánh Stêphanô được đầy thánh sủng và ơn kiên cường. Ngài đã làm nhiều phép lạ tại Jerusalem. Ngoài hai thánh Tông Đồ Phêrô và Gioan, không vị nào khác trừ thánh Stêphanô đã tranh luận với các người thượng lưu Do Thái tại Jerusalem. Những người đó không thể chống lại sự khôn ngoan và tinh thần của thánh Stêphanô vì ngài rao giảng cho họ với trái tim bốc lửa và dũng cảm. Ngài thường can đảm bác bẻ, lên án họ hơn so với các môn đệ khác (Tđcv 68:9). Thánh Stêphanô làm những việc này với lòng nồng nàn khao khát phước tử đạo mà ngài đã được Mẹ Maria cho biết. Chẳng khác gì sợ người khác được triều thiên tử đạo trước, ngài xung phong trước mọi người khác tranh luận với các tư tế, các thầy dạy luật Maisen. Ngài nhiệt tâm bảo vệ danh dự Chúa Kitô, mà ngài biết mình sẽ hiến dâng sinh mạng vì Chúa. Lucifer mỗi ngày mỗi chăm chú theo dõi lòng nhiệt thành của thánh Stêphanô. Nó trực tiếp hướng sự chú ý hiểm độc vào thánh nhân. Để tiêu diệt thánh Stêphanô, Lucifer xúi giục những người Do Thái cứng lòng nhất tìm cách âm thầm giết ngài.  Nhưng thánh Stêphanô không vì lý do đó xao lãng việc rao giảng và tranh luận với những người Do Thái cứng lòng. Vì không thể âm thầm giết ngài, cũng không thể công khai thắng được sự khôn ngoan của ngài, họ dồn mọi nỗ lực căm thù vào việc tìm chứng gian chống lại ngài (Tđcv 6:1). Họ cáo buộc thánh Stêphanô lộng ngôn xúc phạm Thiên Chúa và ông Maisen, buộc tội ngài liên tục công kích đền thờ và Luật Maisen, buộc tội ngài quả quyết rằng Đức Giêsu sẽ phá hủy đền thờ này, như đền thờ cũ đã bị phá hủy. Vì các nhân chứng lớn tiếng vu khống, dân chúng bị khích động vì những gian dối của chúng, họ đưa thánh Stêphanô vào sảnh đường nơi các tư tế tụ họp sẵn để xét xử những lời cáo buộc này. Vị chánh án trước hết bắt thánh Stêphanô đứng trước toà án. Thánh Stêphanô nắm lấy cơ hội này để minh chứng Chúa Kitô đích thực là Đấng Thiên Sai đã được hứa cho dân Do Thái trong Sách Thánh. Để kết luận, ngài hùng hồn quở trách họ vì tội cứng lòng không tin và trái tim chai đá đến độ họ không thể tìm được lời đáp lại, họ nghiến răng bịt tai để khỏi phải nghe các lời thánh Stêphanô quở trách.

 Mẹ Maria biết trước việc bắt giữ thánh Stêphanô. Mẹ lập tức gởi một trong các thiên thần đến khuyến khích thánh nhân trước khi ngài khởi đầu tranh luận với các tư tế Do Thái. Qua thiên thần này thánh Stêphanô gởi về Mẹ rằng ngài hân hoan đi tuyên xưng Thầy chí thánh, và với trái tim không nao núng ngài đi để hiến dâng mạng sống mình cho Chúa, như ngài hằng ước nguyện. Cũng qua vị thiên sứ này, thánh Stêphanô xin Mẹ Maria, là Thầy và Hiền Mẫu hết sức nhân từ của ngài, giúp đỡ và xin Mẹ gởi cho ngài phép lành của Mẹ. Điều tiếc nuối duy nhất lúc này của thánh Stêphanô là lúc ra đi để dâng hiến mạng sống như lời Mẹ báo, ngài không thể lãnh nhận phép lành của Mẹ. Những lời sau cùng này của thánh Stêphanô làm cho tình yêu thương hiền mẫu của Mẹ Maria xúc động mãnh liệt hơn và quí mến hơn. Mẹ muốn đích thân tới giúp đỡ thánh Stêphanô vào giờ phút người môn đệ yêu dấu sắp sửa hiến dâng mạng sống mình để vinh danh, bênh vực Thiên Chúa và Chúa Cứu Thế của mình. Nhưng Mẹ Maria lưỡng lự giữa những trở ngại có thể gây ra trong việc Mẹ đi qua đường phố Jerusalem trong lúc quần chúng dao động và việc Mẹ muốn có cơ hội nói trực tiếp với thánh Stêphanô.

 Mẹ Maria phủ phục trên đất xin Chúa ban đặc ân cho người môn đệ yêu quí. Mẹ dâng lên Chúa ước nguyện giúp đỡ thánh Stêphanô trong giờ phút cuối cùng của ngài. Chúa vô cùng nhân từ luôn sẵn sàng thoả mãn ước nguyện của Đức Hiền Mẫu yêu dấu. Chúa phái nhiều thiên thần từ thiên đàng tới để cùng với các thiên thần hộ vệ đưa Mẹ tới nơi thánh Stêphanô. Các ngài đưa Mẹ Maria tới nơi vị thượng tế đang xem xét các tội cáo buộc thánh Stêphanô. Chỉ một mình thánh Stêphanô thấy Mẹ Maria trên đám mây rực rỡ. Đặc ân ngoại lệ này lại làm bốc cháy lửa yêu mến Chúa và lòng khao khát mãnh liệt chức vô địch trong việc làm vinh danh Thiên Chúa. 

 Lúc cuối buổi hội kiến này, qua lời Mẹ Maria cầu bầu mà cũng là phần thưởng cho lòng nhiệt thành vô địch của thánh Stêphanô, cửa thiên đàng mở ra và Chúa Cứu Thế hiện ra, Chúa đứng bên hữu Thiên Chúa Cha, trong cử chỉ giúp đỡ thánh Stêphanô trong cuộc chiến đấu này. Thánh Stêphanô ngước nhìn lên và lớn tiếng nói: “Chú ý này, tôi thấy các tầng trời rộng mở và vinh quang thiên đàng, trong đó tôi thấy Chúa Giêsu ngự bên hữu Thiên Chúa Cha” (Tđcv 7:55). Nhưng do lòng xảo trá bội bạc ngoan cố của những người chống đối, họ cho những lời này là lộng ngôn phạm thượng, bịt tai để khỏi nghe những lời thánh Stêphanô nói. Họ kết án ngài lộng ngôn phạm thượng mà theo luật thì phải bị ném đá chết. Như lũ sói vây quanh thánh Stêphanô, họ cuồng bạo lôi ngài ra khỏi thành. Chính lúc này Mẹ Maria âu yếm an ủi và ban phép lành cho thánh Stêphanô. Mẹ ký thác cho các thiên thần an ủi hộ vệ ngài và tiễn dẫn linh hồn ngài tới trước toà Thiên Chúa Tối Cao.

 Trở lại nhà Tiệc Ly, Mẹ Maria nhìn thấy mọi việc xảy ra trong cuộc tử đạo của thánh Stêphanô. Bọn người lang sói vội vã, tàn bạo lôi ngài đi, vừa đi chúng vừa lớn tiếng la ngài là kẻ lộng ngôn phạm thượng đáng phải chết. Chàng thanh niên Saolê (thánh Phaolô sau này) ở trong bọn họ, giữ áo cho những người hành quyết vị đệ nhất tử đạo. Đá ném như mưa trút vào thánh Stêphanô, một vài cục đá cắm sâu vào đầu và nhuốm máu thánh tử đạo. Lòng trắc ẩn của Mẹ Maria hết sức lớn lao sâu sắc trước cuộc tử đạo dữ dằn này, nhưng niềm vui mừng của Mẹ còn vĩ đại hơn khi thấy thánh Stêphanô đương đầu với cực hình đó cách vẻ vang. Từ nguyện phòng, Đức Hiền Mẫu Maria không ngừng cầu nguyện cho thánh Stêphanô. Khi vị tử đạo kiêu dũng vô địch thấy mình sắp trút hơi thở cuối cùng, ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa xin đón nhận linh hồn con!” Kế đó, thánh Stêphanô quì gối lớn tiếng cầu xin: “Lạy Chúa xin đừng phạt họ vì tội này!” (Tđcv 6:55). Mẹ Maria hết sức hoan hỉ khi thấy người môn đệ trung tín bắt chước cặn kẽ Thầy chí thánh bằng việc cầu nguyện cho kẻ thù, cho những người hành hình mình, phó linh hồn trong tay Đấng Tạo Thành và Chúa Cứu Thế. Thánh Stêphanô tắt thở; các thiên thần hộ vệ Mẹ Maria đưa linh hồn trinh trong của ngài đến trước tòa Thiên Chúa để được đội triều thiên vinh quang đời đời. 

Thánh Luca kể cũng trong ngày thánh Stêphanô bị ném đá, một cuộc đàn áp lớn lao nổi lên chống lại Giáo Hội tại Jerusalem. Thánh Luca đặc biệt nhắc tới việc Saolê tàn phá Giáo Hội, lục soát khắp Jerusalem tìm bắt, tố cáo các tín hữu Chúa Kitô trước quan tòa. Saolê đã truy lùng, bắt giữ và cáo nộp nhiều tín hữu. Nhiều tín hữu bị bắt, bị hành hạ và bị giết trong cuộc đàn áp này.

 Đức Hiền Mẫu biết chẳng bao lâu nữa các thánh Tông đồ sẽ phải đi khắp thế giới rao giảng Tin Mừng, thiết lập Giáo Hội. Điều hết sức cần thiết là tất cả mọi người hợp nhất về tín lý mà mọi sự toàn hảo lành thánh trong cuộc sống Kitô hữu sẽ phải được xây dựng trên đó. Mẹ Maria muốn thấy mọi mầu nhiệm linh thánh, mà các thánh Tông Đồ phải rao giảng và các tín hữu tin, được đúc thành một tuyên ngôn vắn tắt. Nếu các chân lý này, được đúc gọn thành chỉ một vài điều ngắn gọn dễ nhớ, toàn thể Giáo Hội sẽ được hợp nhất trong niềm tin thuần nhất không chút khác biệt căn bản, mà toàn thể công trình xây dựng tinh thần Phúc Âm sẽ căn cứ vào, được xây dựng trên cùng một nền tảng. Mẹ Maria biết rõ tầm quan trọng của đại cuộc này. Mẹ dâng điều Mẹ ước nguyện lên Chúa, Đấng đã gợi các ý đó, suốt hơn bốn mươi ngày Mẹ kiên trì cầu nguyện, ăn chay, phủ phục trên đất và các thực hành thánh đức. Đáp lời Mẹ Maria, Chúa hứa hỗ trợ các Tông Đồ chuẩn bị tuyên ngôn các tín điều. Chúa cho Mẹ biết từng lời thuộc các tín điều trong kinh Tin Kính. Mẹ Maria thấu triệt mọi tín điều, như được giải thích tường tận hơn trong phần hai chương này. 

Chúa soi dẫn thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng, và các thánh Tông Đồ khác lòng ước ao thiết lập một tuyên ngôn đức tin chung của toàn thể Giáo Hội. Các thánh Tông Đồ hội ý với Mẹ Maria về thời điểm thích hợp và các điều phải áp dụng cho mục đích này. Các thánh Tông Đồ quyết định ăn chay, kiên trì cầu nguyện suốt mười ngày để được ơn Chúa Thánh Thần soi sáng trong công cuộc khó khăn trọng đại này. Sau khi hoàn tất mười ngày ăn chay cầu nguyện, mà cũng là mười ngày cuối cùng của bốn mươi ngày Mẹ Maria cầu xin Chúa về mục đích này, mười hai thánh Tông Đồ hội họp trước sự hiện diện của Mẹ Maria, và thánh Phêrô tuyên bố như sau:

 

 ”Anh em thân mến, do lòng nhân từ và công nghiệp vô cùng của Chúa Cứu Thế, Chúa Giêsu Chúa chúng ta, Thiên Chúa vô cùng thương xót đã ưu ái Giáo Hội Chúa bằng việc vẻ vang gia tăng số con cái, như chúng ta chứng kiến trong thời gian ngắn ngủi này. Vì mục đích này, Thiên Chúa Toàn Năng ban nhiều gấp bội các phép lạ, những điều phi thường, và hàng ngày canh tân các việc đó qua chúng ta. Mặc dầu chúng ta bất xứng, Chúa đã chọn chúng ta làm khí cụ của thánh ý Chúa trong công cuộc làm vinh hiển thánh danh Ngài. Cùng với các đặc ân ưu ái này, Chúa đã gởi tới cho chúng ta những khổ cực vất vả, những đàn áp từ phía ma quỉ và thế gian, ngõ hầu chúng ta có thể bắt chước Chúa Cứu Thế, Thủ Lãnh của chúng ta, và để Giáo Hội, được thăng bằng, có thể an toàn hơn tới bến an nghỉ hạnh phúc vĩnh cửu. Các môn đệ tránh cơn cuồng nộ của thượng tế đã phân tán đi khắp các thành lân cận, rao giảng lòng tin vào Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta. Chúng ta cũng sẽ sớm ra đi rao giảng khắp thế giới, theo lời Chúa truyền trước khi ngự về trời (Mt 28:19).”

 ”Vì chỉ có một Nhiệm Tích Thanh Tẩy qua đó người ta nhận được đức tin vào Chúa Kitô, nên cần phải có chỉ một giáo lý, mà các tín hữu tin theo. Vì thế thiệt là thích hợp và chính đáng, hôm nay chúng ta tụ họp tâm đồng ý hợp trong Chúa, minh xác các chân lý và mầu nhiệm mà chúng ta phải đưa ra cách minh bạch rõ ràng cho mọi quốc gia dân tộc khắp thế giới cùng tin một giáo lý như nhau không chút dị biệt. Chính lời hứa bất khả ngộ của Chúa, nơi nào hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Ngài, Ngài sẽ ở giữa họ (Mt 18:20). Tin vào lời Chúa, chúng ta trông cậy vững vàng lúc này Chúa vui lòng ban cho chúng ta ơn Chúa Thánh Thần để nhân danh Chúa và do một quyết định bất di bất dịch minh định rõ ràng các điều phải được thiết lập trong Giáo Hội Chúa tồn tại cho tới tận thế.”

 Tất cả các thánh Tông Đồ đồng ý đề nghị của thánh Phêrô. Kế đó thánh Phêrô cử hành Thánh Lễ, ngài trao Thánh Thể Chúa cho Mẹ Maria và các Tông Đồ. Ngay sau đó tất cả mọi người, gồm cả Đức Hiền Mẫu, phủ phục cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần. Sau khi liên tục cầu nguyện được một lúc, mọi người nghe tiếng sấm chuyển động, y như trong lần đầu tiên Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các tín hữu. Đồng thời toàn thể Nhà Tiệc Ly chan hòa ánh sáng, mọi người được đầy ơn Chúa Thánh Thần. Mẹ Maria yêu cầu mỗi thánh Tông Đồ, theo ơn Chúa Thánh Thần soi dẫn, minh định một tín điều. Theo lời Mẹ Maria, thánh Phêrô bắt đầu và các Tông Đồ nối tiếp tuyên xưng như sau:

 

 1. Thánh Phêrô: Tôi tin Thiên Chúa, Ngôi Cha toàn năng, Đấng Tạo Thành trời đất.

 2. Thánh Andrê: Và Chúa Giêsu Kitô, Con Một (của) Thiên Chúa Cha, Chúa chúng ta.

 3 và 4. Thánh Giacôbê Cả: Ngài được dựng thai do quyền năng Chúa Thánh Thần, được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria.

 5. Thánh Gioan: Ngài chịu khổ hình dưới thời Pontiô Philatô, chịu đóng đanh, chết và được mai táng.

 6 và 7. Thánh Tôma: Ngài xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba từ trong kẻ chết sống lại.

 8. Thánh Giacôbê Thứ: Ngài lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa Cha toàn năng.

 9. Thánh Philiphê: Ngài sẽ trở lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết.

 10. Thánh Bathôlomêô: Tôi tin Chúa Thánh Thần.

 11. Thánh Matthêu: Tôi tin Hội Thánh Công Giáo, tôi tin Sự Hiệp Thông các thánh.

 12. Thánh Simon: Tôi tin Phép Tha Tội.

 13. Thánh Thađêu: Tôi tin thân xác loài người sẽ sống lại.

 14. thánh Mathia: Tôi tin cuộc sống vĩnh cửu. Amen.

 Các thánh Tông Đồ lập Tuyên Ngôn Đức Tin này, mà chúng ta thường gọi là Kinh Tin Kính các thánh Tông Đồ, sau cuộc tử đạo của thánh Stêphanô và trước ngày cuối cùng năm thứ nhất sau Cuộc Tử Nạn của Chúa Cứu Thế. Về sau, để bác bẻ nhóm dị giáo Arian và các nhóm khác, Giáo Hội, trong các công đồng nhóm vì mục đích đó, đã giải thích cặn kẽ hơn các mầu nhiệm gồm trong Kinh Tin Kính các thánh Tông Đồ và thiết lập Kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng trong Thánh Lễ ngày nay. Nhưng bản chất của cả hai cùng là một, y hệt và gồm mười bốn điều, là căn bản cho việc giảng dạy đức tin vào Chúa Kitô và là những điều chúng ta buộc phải tin để được cứu rỗi.

 Ngay khi các thánh Tông Đồ tuyên xưng Kinh Tin Kính, Chúa Thánh Thần chấp nhận việc tuyên xưng đức tin mà mọi người hiện diện nghe rõ ràng: “Các con đã quyết định đúng.” Khi đó Mẹ Maria cùng với các thánh Tông Đồ tạ ân Thiên Chúa. Mẹ cũng cám ơn các thánh Tông Đồ vì đã xứng đáng được ơn Chúa Thánh Thần trợ giúp, để có thể là công cụ hữu hiệu của Chúa trong việc làm vinh danh Chúa và tăng thêm lợi ích cho Giáo Hội. Để minh xác lòng tin và làm gương cho các tín hữu, Mẹ Maria quì nơi chân thánh Phêrô, lớn tiếng tuyên xưng điều Mẹ tin nơi giáo lý Giáo Hội Công Giáo như được bao gồm trong Kinh Tin Kính các thánh Tông Đồ vừa mới thiết lập. Mẹ Maria làm việc này cho chính Mẹ và nhân danh toàn thể các tín hữu. Mẹ nói với thánh Phêrô: “Thưa chúa công, người mà tôi nhìn nhận là Đại Diện toàn quyền Con cực thánh của tôi, trong tay ngài, tôi, một con trùng hèn hạ, nhân danh tôi và nhân danh tất cả mọi tín hữu trong Giáo Hội, tuyên xưng và chính thức nhìn nhận mọi điều ngài đưa ra là chân lý linh thánh và bất khả ngộ của Giáo Hội Công Giáo; trong đó tôi chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa Tối Cao, Đấng ban Tuyên Ngôn Đức Tin này.” Mẹ Maria hôn tay thánh Phêrô, Vị Đại Diện Chúa Kitô, và tất cả các thánh Tông Đồ. Như thế, Mẹ Maria là Người đầu tiên công khai tuyên xưng đức tin Công Giáo ngay sau khi đức tin được đúc thành các điều khoản trong Kinh Tin Kính.

 Đã tròn một năm kể từ Cuộc Tử Nạn của Chúa Cứu Thế. Bây giờ, các thánh Tông Đồ, do ơn Chúa thúc đẩy, bắt đầu cân nhắc việc tung ra đi rao giảng tin mừng Ơn Cứu Chuộc cho khắp thế giới. Vì đã đến thời điểm thánh danh Thiên Chúa phải được rao giảng cho các dân ngoại, đến lúc muôn dân phải được giảng dạy cho biết đường cứu rỗi đời đời. Để xin thánh ý Thiên Chúa trong việc chỉ định các quốc gia, tỉnh thành mà mỗi vị có nhiệm vụ tới rao giảng, các thánh Tông Đồ, theo lời khuyên của Mẹ Maria, quyết định ăn chay cầu nguyện liên tục mười ngày. Việc thực hành ăn chay cầu nguyện mười ngày đã được các thánh Tông Đồ thực hành ngay sau khi Chúa về thiên đàng để chuẩn bị đón Chúa Thánh Thần ngự đến, từ đó về sau các thánh Tông Đồ giữ việc ăn chay cầu nguyện mười ngày để chuẩn bị các ngài trước những việc quan trọng. Sau khi hoàn tất mười ngày ăn chay cầu nguyện, Vị Đại Diện toàn quyền của Chúa Kitô cử hành Thánh Lễ, trao Thánh Thể Chúa cho Mẹ Maria và mười một Tông Đồ kia, như các ngài đã thực hiện khi chuẩn bị Kinh Tin Kính. Sau Thánh Lễ mọi người hợp nhất với Đức Nữ Vương cầu nguyện sốt sắng một lúc lâu nữa, tha thiết xin Chúa Thánh Thần cho biết thánh ý Chúa trong việc này.

 Khi buổi cầu nguyện chấm dứt, một làn ánh sáng lạ phủ xuống Nhà Tiệc Ly bao bọc mọi người và tiếng Chúa phán: “Đại Diện Toàn Quyền Phêrô của Ta sẽ chỉ định địa phương hoạt động cho từng người. Ta sẽ quản trị và hướng dẫn Phêrô bằng ơn soi sáng và thần trí của Ta.” Chúa Thánh Thần dành cho thánh Phêrô việc chỉ định các nhiệm sở cho các thánh Tông Đồ ngõ hầu tái xác nhận quyền hành ngài là thủ lãnh và mục tử toàn thể Giáo Hội khắp thế giới. Cũng để các thánh Tông Đồ có thể hiểu rằng Giáo Hội phải được thiết lập trên khắp thế giới dưới quyền lãnh đạo của thánh Phêrô và các đấng kế vị, mà toàn thể Giáo Hội phải tuân phục vì là Đại Diện Toàn Quyền của Chúa Kitô. Các thánh Tông Đồ được ban cho ơn soi sáng hiểu biết mới liên quan đến các điều kiện hoàn cảnh, bản chất, phong tục tập quán tại các nước được trao cho từng vị trách nhiệm. Thiên Chúa ban cho các ngài ơn kiên cường mới để đương đầu với mọi khổ cực, sự nhanh nhẹn dẻo dai để khắc phục đường xa, mặc dầu các ngài thường được các thiên thần trợ lực khi vượt vạn dặm.

 Mẹ Maria thấy và hiểu hết sức tường tận các việc làm của quyền năng Thiên Chúa nơi các thánh Tông Đồ cũng như nơi Mẹ. Trong dịp này, Mẹ thụ lãnh các đặc ân Thiên Chúa nhiều hơn tất cả các thánh Tông Đồ cộng chung lại. Vì Mẹ được tôn lên địa vị cao sang tuyệt vời trên hết mọi thụ tạo, sự gia tăng các ân sủng nơi Mẹ cũng theo tỉ lệ thuận đó, vượt quá mọi ân sủng được ban cho các người khác. Thiên Chúa canh tân nơi linh hồn cực trinh trong của Thánh Mẫu Chúa ơn hiểu biết sâu xa liên quan đến mọi thụ tạo, đặc biệt là các quốc gia và dân tộc được chỉ định cho các thánh Tông Đồ. Mẹ hiểu biết tường tận tất cả mọi điều mà từng vị Tông Đồ biết và tất cả cộng chung lại. Mẹ hiểu biết riêng rẽ về từng người mà đức tin vào Chúa Kitô sẽ được rao giảng cho. 

 Mẹ Maria có kiến thức của Bậc Thầy siêu đẳng, của Hiền Mẫu Giáo Hội mà Thiên Chúa Toàn Năng đặt trong tay Mẹ. Mẹ phải săn sóc tất cả, từ những thánh nhân nhất đẳng tới những người khiêm nhượng nhất, và tất cả những kẻ tội lỗi con cháu Evà. Không ai nhận được ân sủng hoặc đặc ân nào từ Chúa mà không qua Mẹ Maria, vì thế Đấng Ban Phát các ân sủng của Chúa cách thành tín nhất phải biết mọi thành viên trong gia đình Người, những người mà Mẹ trông coi với tư cách là Hiền Mẫu yêu thương! Mẹ thấy hiện rõ trước mắt mọi vất vả khổ cực, những nguy hiểm, những tấn công từ ma quỉ chống lại các thánh Tông Đồ, môn đệ và mọi tín hữu. Để giúp đỡ mọi người, Mẹ dâng lên Chúa mọi lời khẩn nguyện của các ngài kết hiệp với lời cầu nguyện của Mẹ; hoặc giúp đỡ các ngài qua các thiên thần. Mẹ đã giúp đỡ con cái Mẹ bằng tất cả các phương cách khác nhau. Mẹ Maria biết các sự việc qua các hình ảnh Mẹ thấy; Mẹ cũng có sự hiểu biết khác nữa trong chính Thiên Chúa về mọi việc do các thị kiến huyền nhiệm. Khi Mẹ nhìn thấy trong Chúa các gian khổ của các thánh Tông Đồ và của tất cả các tín hữu, Mẹ Maria cũng chịu ảnh hưởng cảm giác buồn sầu thống khổ đó.

 Một vài ngày sau việc qui nhiệm sở khắp thế giới giữa các thánh Tông Đồ, các ngài bắt đầu rời khỏi Jerusalem, đặc biệt những vị được chỉ định các tỉnh thành xứ Palestine, mà trước nhất là thánh Giacôbê Cả. Các vị khác lưu lại Jerusalem lâu hơn, vì Chúa muốn đức tin được dồi dào rao giảng tại Jerusalem và dân Do Thái được kêu gọi trước những người khác, nếu họ sẵn sàng đón nhận lời mời vào dự tiệc Phúc Âm. Dân Do Thái được đặc biệt ưu ái nhất trong Ơn Cứu Chuộc, mặc dầu họ bội bạc bất trung hơn các dân ngoại. Sau đó các thánh Tông Đồ dần dần ra đi tới những quốc gia được chỉ định, tùy theo thời gian, thời tiết và vì đức vâng lời đối với Ơn Chúa Thánh Thần, theo lời Mẹ Maria chỉ dạy, và lệnh của thánh Phêrô. Trước khi rời khỏi Jerusalem từng vị Tông Đồ đã viếng các thánh địa Ơn Cứu Chuộc, như Vườn Cây Dầu, Đồi Golgotha, Mồ Thánh, nơi Chúa Ngự Về Trời, làng Bethania và các địa điểm đáng ghi nhớ khác có thể được. Tất cảc các thánh Tông Đồ đều tỏ lòng tôn kính yêu mến lạ lùng đối với chính những nơi Chúa Giêsu đã đặt chân tới. Kế đến các ngài tới viếng Nhà Tiệc Ly, tôn kính chính nơi biết bao nhiêu việc huyền nhiệm lạ lùng đã xảy ra. Tại Nhà Tiệc Ly, lần nữa các thánh Tông Đồ lại xin Mẹ Maria bảo vệ, và từ biệt Đức Hiền Mẫu.

 Mỗi thánh Tông Đồ được Mẹ Maria đan cho một chiếc áo dài giống như áo Chúa Kitô Chúa chúng ta, cũng mầu nâu pha xám tro; để dệt những áo này Mẹ đã yêu cầu các thiên thần phụ giúp. Mẹ cung cấp cho mỗi thánh Tông Đồ y phục cùng loại và giống hệt y phục Chúa Giêsu đã mặc trước kia; Mẹ muốn các thánh Tông Đồ bắt chước Chúa ngay cả đến y phục, qua đó được nhìn nhận là môn đệ của Chúa. Mẹ Maria cũng chuẩn bị cho mỗi thánh Tông Đồ một thánh giá theo kích thước tầm vóc từng vị, để là nhân chứng cho giáo lý Chúa Kitô và cũng là niềm an ủi các ngài; các ngài có thể mang thánh giá theo khi đi đây đó rao giảng Phúc Âm. Mỗi thánh Tông Đồ đã giữ và đem thánh giá này theo cho tới khi chết. Vì các ngài hết sức lớn tiếng ca tụng Thánh Giá, một số bạo chúa đã dùng chính dụng cụ này để hành hạ các ngài tới chết.

 Thêm nữa, Đức Hiền Mẫu cung cấp cho mỗi thánh Tông Đồ một gói hành trang nhỏ, trong đó có chiếc gai lấy từ mão gai của Thiên Chúa Con Mẹ, một vài mẩu vải cắt từ các khăn Mẹ đã bọc Chúa Cứu Thế Sơ Sinh, từ các tấm khăn Mẹ đã lau Máu cực châu báu Chúa đổ ra trong Nghi Lễ Cắt Bì và Khổ Hình Cứu Chuộc. Để uỷ thác các thánh tích đó cho các thánh Tông Đồ, Mẹ Maria mời tất cả các thánh Tông Đồ tới, nói với các ngài về những thánh tích Mẹ muốn tặng các ngài như kho tàng quí báu trước khi các ngài lên đường. Kế đến, Mẹ trao các thánh tích cho từng Tông Đồ; các ngài hết sức xúc động vui mừng đón nhận, cảm tạ Đức Hiền Mẫu vì các ưu ái này và phủ phục thờ lạy các thánh tích. Các thánh Tông Đồ đem theo mình những thánh tích kỷ niệm sinh động của Thiên Chúa Con Mẹ, bảo chứng chắc chắn Chúa ban cho các ngài là con và là thừa tác của Đấng Tối Cao. Sau đó, các thánh Tông Đồ lưu luyến từ biệt nhau lên đường khởi đầu sứ mệnh Tông Đồ.

 LỜI MẸ MARIA

 

 Con của Mẹ, từ những bài học trong chương này, Mẹ muốn con, với lòng phiền sầu sâu xa nhất, nếu có thể, với huyết lệ, khóc than sự khác biệt giữa sinh hoạt Giáo Hội ngày nay và thời kỳ đầu. Sự thánh thiện tinh ròng của Giáo Hội đã bị làm lu mờ (Thren 4:1), vẻ đẹp nguyên thủy mà các thánh Tông Đồ gầy dựng trong Giáo Hội đã bị mất, Giáo Hội ngày nay tìm kiếm những hào nhoáng, những lớp sơn ngoại lai giả tạo để che phủ tính chất xấu xa đồi bại lệch lạc kinh khủng.

 Để con có thể hiểu rõ sự thực này, chính con phải canh tân suy gẫm việc Thiên Chúa tha thiết tìm kiếm thông ban lòng nhân từ và sự trọn lành cho nhân loại. Sức mạnh của dòng sông lòng nhân từ của Thiên Chúa chảy tới cho nhân loại vô cùng mãnh liệt, mà chỉ có ý tự do của loài người mới có thể ngăn cản được sức mãnh liệt dòng tình thương đó. Thiên Chúa ban cho nhân loại ý chí tự do để họ lãnh nhận được lợi lộc từ tình thương vô cùng của Ngài. Nhưng qua ý chí tự do này, loài người tự ý chống lại ảnh hưởng và sức mạnh tình thương của Thiên Chúa, họ xúc phạm và làm đau đớn tình thương này ngay từ chính nguồn. Nếu loài người không cản trở mà để cho dòng tình thương của Chúa hoạt động, các linh hồn hẳn được sung mãn nhờ việc thông phần bản tính Chúa. Tình thương của Chúa nâng người ngã từ bụi đất lên, làm cho con cái khốn khổ của Adong được sung túc, đưa họ lên cao khỏi những thống khổ, đặt họ giữa hàng vương tước vinh hiển của Chúa (1 Vua 1:8). Con của Mẹ, từ điều này con sẽ hiểu hai điều mà sự khôn ngoan loài người không thể biết:

 

 Thứ nhất: Thiên Chúa hết sức hài lòng vì việc phụng sự của những người nhiệt thành khao khát vinh danh Ngài. Những người đó hiến dâng mọi vất vả, khao khát gỡ bỏ các chướng ngại cản trở việc thông ban các ân sủng do lòng ưu ái của Chúa. Vì thế nhiệm vụ các giám mục, linh mục và nhà giảng thuyết lời Chúa được ca tụng cách đặc biệt. Các vị này kế tục các thánh Tông Đồ, những người gầy dựng Giáo Hội, đã vất vả lao khổ bảo vệ và phát triển Giáo Hội. Tất cả các vị kế tục các thánh Tông Đồ phải là những người cộng tác và tác động tình thương vô cùng của Thiên Chúa nơi các linh hồn.

 Thứ hai: Con phải cân nhắc suy xét các hồng ân bao la và lòng ưu ái vô bờ, mà Thiên Chúa quyền năng vô cùng thông ban cho những linh hồn không cản trở tình thương vô cùng của Ngài. Ngay từ những ngày khởi đầu Giáo Hội, Chúa cho thấy rõ chân lý này bằng những việc lạ lùng, thường gởi Chúa Thánh Thần đến dưới hình thức hữu hình, làm phép lạ nơi những người chấp nhận Kinh Tin Kính, và ban muôn vàn ân sủng huyền nhiệm khác trên các tín hữu.

 

CHƯƠNG 6

 

THÁNH PHAOLÔ TRỞ LẠI

 

Thánh Phaolô nổi danh trong Do Thái Giáo vì hai lý do. Một là bản chất ngài, hai là sự kiên trì dai dẳng ma quỉ lợi dụng chính những bản chất tự nhiên tốt lành của ngàị Thánh Phaolô tính tình rộng rãi, hào hiệp, quí phái, hảo tâm, hoạt bát, kiên cường và có nhiều nhân đức. Ngài là danh sư chuyên cần uyên bác luật Maisen, mặc dầu thực sự ngài không biết gì tới uyên nguyên luật đó như chính ngài thú nhận với ông Timôthy. Tất cả kiến thức của ngài trước đó đều chỉ có tính cách nhân thế cũng như hầu hết mọi người Do Thái khác. Thánh Phaolô chỉ hiểu luật Maisen cách thông thường bề ngoài, chứ không biết chút gì bề sâu, không được ơn Chúa soi sáng cần thiết để hiểu luật Maisen cách chính đáng, cũng không thấu triệt các huyền nhiệm trong luật đó.

 Thánh Phaolô không thể nào nhân nhượng sự khác biệt quan trọng với luật Maisen nên ngài tích cực dự phần triệt hạ tín hữu Chúa Kitô. Ngài nhìn nhận Mẹ Maria là Vị Phụ Nữ cao thượng đáng được tôn kính. Thánh Phaolô kính trọng Mẹ Maria, cùng với chút xót xa vì những đau buồn thống khổ của Mẹ, mà tính chất vĩ đại nơi những điều đó mọi người đều nhận biết. Vì thế thánh Phaolô chống lại những xúi giục vô nhân đạo và hỗn xược của ma quỉ tìm giết Mẹ Maria. Lòng thương xót Mẹ Maria đã không góp chút nào đẩy nhanh việc ngài trở lại. Ngài cũng không theo đuổi các mưu kế xảo trá chống lại các thánh Tông Đồ, mặc dầu Lucifer cố gắng làm cho việc sát hại các thánh Tông Đồ như là hành động xứng đáng của lòng can đảm. Tuy gạt bỏ ý tưởng ác độc giết Mẹ Maria và các thánh Tông Đồ, thánh Phaolô quyết định xúi giục người Do Thái đàn áp Giáo Hội, cho tới khi nào Giáo Hội bị tận diệt cùng với thánh danh Chúa Kitô. Nhưng Lucifer và đồng bọn không thể ngờ Saolê sẽ chấp nhận đức tin vào Chúa Kitô. Các biến cố đó được sự khôn ngoan vô cùng của Đấng Tối Cao an bài, ngõ hầu Satan, mù quáng vì chính những ý định ác độc quỉ quyệt, sẽ rơi vào các hố bẫy của chính nó.

 Đấng Khôn Ngoan vô cùng quyết định làm cho việc Saolê trở lại được kỳ diệu và vinh quang. Vì thế Thiên Chúa cho phép Satan, sau cuộc tử đạo của thánh Stêphanô, xúi giục Saolê đến gặp các trưởng tế với những ý kiến ác độc khủng khiếp chống lại các môn đệ Chúa Kitô đã rời khỏi Jerusalem. Saolê xin phép bắt giữ các môn đệ Chúa tại bất cứ đâu và áp giải về Jerusalem (Tđcv 9:1). Saolê dâng hiến tài sản và cả đến sinh mạng để thi hành chủ trương táo bạo nàỵ Tự túc mọi thứ, Saolê lên đường với ý định làm cho Luật Mới mà các môn đệ Người Bị Đóng Đanh rao giảng không thể thắng được Luật của tổ tiên ông ta. Hành động tự nguyện này được vị thượng tế và hội đồng cố vấn ưu ái tán thành. Họ lập tức cho Saolê ủy nhiệm thư, đặc biệt là tới Damascus, tại đây có một số môn đệ Chúa Kitô từ Jerusalem tới cư ngụ. Saolê chuẩn bị cuộc hành trình, mướn trinh sát và một số lính tháp tùng. Nhiều đoàn quân ma quỉ từ hoả ngục tới giúp Saolê trong âm mưu nàỵ Chúng hy vọng, qua sự phô trương lực lượng này và qua tay Saolê, có thể dứt điểm, hoàn toàn hủy diệt Giáo Hội bằng lửa và máu. Chúng ta tạm rời Saolê trên đường tới Damascus một lát.

 Mẹ Maria biết hết mọi việc. Các thánh Tông Đồ lo lắng thông báo Mẹ mọi điều xảy ra cho các người theo Con của Mẹ. Từ lâu trước, Chúa Cứu Thế đã cho Mẹ biết Saolê sẽ là Tông Đồ của Chúa, là một Tông Đồ rao giảng cho dân ngoại, một người lỗi lạc tuyệt vời trong Giáo Hội. Mẹ hết sức đau lòng khi thấy việc đàn áp trở nên dữ dội hơn, việc Saolê trở lại bị diên trì, các môn đệ Chúa Kitô vì không biết được thánh ý Chúa nhiệm mầu, đã bị đau khổ và phần nào thoái chí trước cơn cuồng nộ và cuộc đàn áp dai dẳng của Saolê. Vì biết việc này hết sức nghiêm trọng, Mẹ kiên trì tha thiết cầu nguyện cho hạnh phúc của Giáo Hội và cho Saolê trở lại.

 Chúa Cứu Thế hiện ra với Mẹ và nói: “Hiền Mẫu của Con, Đấng được tuyển chọn giữa toàn thể mọi thụ tạo, bây giờ điều Mẹ ước nguyện được chu toàn không chút chần chừ. Con sẽ làm cho Saolê như Mẹ xin. Con sẽ cải đổi Saolê, để từ giây phút này trở đi Saolê sẽ là người phòng vệ Giáo Hội (mà) nó đàn áp, rao giảng thánh danh và vinh quang của Con. Ngay bây giờ Con tiến hành việc thâu nhận Saolê vào hàng ngũ bằng hữu và ân sủng của Con.”

 Khi Saolê đang trên đường tới gần Damascus, Chúa hiện ra với ông trong đám mây rực rỡ. Đồng thời Saolê được ngụp lặn trong ánh sáng siêu nhiên cả trong ngoài, trái tim và ngũ quan bị áp đảo vô phương kháng cự (Tđcv 9:4). Thình lình Saolê từ trên ngựa ngã nhào xuống đất, đồng thời nghe tiếng từ trên cao phán: “Saolê, Saolê, tại sao con đàn áp Ta?” Quá sức sợ hãi và kinh ngạc, Saolê đáp lời: “Lạy Ngài, Ngài là Aỉ? Tiếng trả lời: “Ta là Giêsu mà con đàn áp hành hạ. Thiệt là khốn cho con đạp chân vào mũi nhọn quyền năng của Ta.”  Saolê, sợ hãi run rẩy hơn nữa, đáp lời: “Lạy Chúa, Chúa truyền điều gì và Chúa muốn con làm gì?” Những người đi theo Saolê nghe các lời vấn đáp này, mặc dầu chúng không nhìn thấy Chúa Cứu Thế. Chúng thấy ánh sáng rực rỡ vây bọc Saolê và tất cả những người đó sợ hãi kinh ngạc trước biến cố thình lình bất ngờ này đến độ chúng chết ngất đi một lúc.

 Việc kỳ lạ này, vượt qua hết mọi điều lạ lùng đã từng thấy trên trần gian, vĩ đại hơn và vượt quá khả năng ghi nhận của loài người. Saolê không những chỉ phủ phục về thân xác, bị mù và mất đi toàn lực đến độ, nếu quyền năng Thiên Chúa không duy trì cho, hẳn Saolê đã chết ngay tức khắc. Nội tâm Saolê còn phải chịu đau khổ hơn vì chuyển đổi chẳng khác gì từ bóng tối ra ánh sáng, từ đất thấp hèn nhất lên tới tầng trời cao. Saolê thay đổi từ hình ảnh ma quỉ trở thành hình ảnh thiên thần sốt mến Seraphim thượng đẳng. Cuộc chiến thắng này đánh bại Lucifer và ma quỉ được đặc biệt dành cho Sự Khôn Ngoan và Quyền Uy Vô Cùng của Thiên Chúa. Việc này xảy ra chỉ trong khoảnh khắc như khi Lucifer vì kiêu ngạo đã từ một thiên thần đổi thành quỉ, quyền năng Chúa Cứu Thế đã làm cho Saolê từ một tên quỉ trở nên thiên thần trong ân sủng. Sự đẹp đẽ tột đỉnh của bản chất thiên thần nơi Lucifer và các phản thần trở nên xấu xa tột cùng; còn tính ngoan cố của loài người trở nên sự trọn hảo lành thánh cao độ nhất nơi Phaolô. Lucifer, kẻ thù của Thiên Chúa, đã rơi từ thiên đàng xuống đáy hỏa ngục, và một người, là bằng hữu của Thiên Chúa, đã từ đất lên tới trời cao.

 Trong khi thánh Phaolô sấp mình trên đất, ngài được đổi mới hoàn toàn nhờ ơn thánh hoá cùng với các đặc ân khác, được phục hồi, soi sáng cách thích nghi mọi quan năng; ngài được chuẩn bị để được đưa lên tầng trời thứ ba. Chính thánh Phaolô nhìn nhận: không biết ngài được đưa cả thể xác hoặc chỉ có linh hồn lên thiên cung (2 Cor. 12:4). Nhưng tại đây, mặc dầu chỉ trong khoảnh khắc, ngài thấy Thiên Chúa bằng trực quan rõ ràng. Ngoài việc nhận biết Thiên Chúa, các bản tính vô cùng trọn hảo của Chúa, thánh Phaolô nhận biết mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, Ơn Cứu Chuộc, mọi mầu nhiệm thuộc về luật ân sủng và Giáo Hội. Thánh Phaolô nhận thấy ân sủng vô song cho lòng nhiệt thành của ngài và lời thánh Stêphanô cầu nguyện cho ngài. Ngài được cho thấy còn rõ ràng hơn nữa các lời Mẹ Maria cầu nguyện mà việc ngài trở lại được tiến hành mau lẹ. Thánh Phaolô nhận biết rằng sau Chúa Kitô, các công nghiệp Mẹ Maria làm cho ngài đáng được Thiên Chúa chấp nhận. Từ giờ phút đó trở đi ngài được lòng hiếu thảo tôn kính tận hiến đối với Đức Hiền Mẫu Chúa Kitô. Đồng thời ngài nhìn nhận rõ nhiệm vụ Tông Đồ ngài được kêu gọi thi hành, và với nhiệm vụ đó ngài sẽ phải vất vả khổ cực cho tới chết. Cùng với các mầu nhiệm này thánh Phaolô còn được cho biết nhiều điều khác nữa (mà ngài nói) không thể tiết lộ (2 Cor. 7:4). Thánh Phaolô tận hiến làm hy lễ theo thánh ý Thiên Chúa trong mọi sự, như về sau được biểu lộ trong suốt cuộc đời ngài. Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh chấp nhận hiến lễ này do thánh Phaolô dâng lên, và trước triều đình thiên đàng, đã nêu danh chỉ định thánh Phaolô làm nhà giảng thuyết, là thầy dạy dân ngoại, là công cụ được tuyển chọn để đem thánh danh Thiên Chúa tới khắp thế giới.

      Vào ngày thứ ba sau khi thánh Phaolô bị mù mắt và trở lại, Chúa nói qua thị kiến với một trong các môn đệ, ông Ananias, sinh sống tại Damascus (Tđcv 9:10). Chúa gọi đích danh Ananias, bảo ông tới nhà một người tên Juđa ở một khu vực trong thành Damascus tìm Saolê thành Tarsus, ông sẽ thấy Saolê đang chìm đắm cầu nguyện. Đồng thời Saolê cũng được thị kiến, thấy và nhận ra môn đệ Ananias tới đặt tay trên đầu để làm cho ông sáng mắt lại. Ananias không biết gì về thị kiến này của Saolê. Vì thế ông nói với Chúa: “Lạy Chúa, con nghe nói người này đã bách hại các thánh tại Jerusalem; người đó bây giờ tới đây với uỷ nhiệm của các thượng tế để bắt bất cứ ai tuyên xưng thánh danh Chúa. Chúa phái một con chiên hiền lành như con đi tìm sói dữ vốn từng muốn cắn xé con chiên đó sao?” Chúa đáp: “Con cứ đi đi, người mà con cho là kẻ thù của Ta đó lại là công cụ được tuyển chọn để đem thánh danh Ta tới cho mọi dân tộc, mọi quốc gia, và cho con cái Israel. Ta sẽ để cho người đó phải chịu đau khổ vì Danh Ta.” Môn đệ Ananias khi đó được Chúa cho biết mọi việc xảy ra.

 Ông Ananias lập tức đi tới nơi Saolê đang ở, thấy Saolê đang cầu nguyện, ông Ananias nói: “Huynh đệ Saolê, Chúa Giêsu Chúa chúng ta, Người hiện ra với huynh đệ trên đường, phái tôi tới đây để huynh đệ được sáng mắt và được ơn Chúa Thánh Thần.” Ananias cho Saolê rước Thánh Thể Chúa Kitô. Được làm cho mạnh sức và sáng mắt, Saolê tạ ân Đấng ban mọi đặc ân này. Kế đó Saolê dùng chút thực phẩm sau ba ngày ròng rã không ăn không uống. Saolê ở lại Damacus ít lâu, thảo luận và truyện trò với các môn đệ tại đó. Saolê quì nơi chân các môn đệ tại Damacus, xin mọi người tha lỗi, xin nhận ông là tôi tớ và huynh đệ. Được mọi người nhìn nhận và khuyến khích, Saolê công khai rao giảng Đức Kitô là Đấng Thiên Sai, là Chúa Cứu Thế của toàn thể nhân loại; ngài làm cho những người Do Thái không tin (Chúa Giêsu) tại nhiều hội đường ở Damacus lúng túng bối rối. Mọi người đều ngỡ ngàng trước sự thay đổi bất ngờ này và, hết sức lạ lùng, họ nói: Không phải đây là người đã bách hại đốt cháy và đâm chém những người tuyên xưng Danh Đức Kitô tại Jerusalem saỏ Không phải ông ta tới đây để bắt giải nộp những người đó cho các trưởng tế ở Jerusalem sao? Sự thay đổi lạ lùng chúng ta thấy nơi ông ta là gì?

 Bây giờ chúng ta trở lại với Mẹ Maria. Qua thị kiến Mẹ biết mọi việc xảy ra cho Saolê: tình trạng đầu tiên và khốn nạn nhất của trí khôn ngài, lòng cuồng nộ chống lại thánh danh Chúa Kitô, nguyên do và việc Saolê bất thình lình bị ném xuống đất, việc ngài trở lại, nhất là việc ngài được nâng cách lạ lùng và ngoại lệ lên thiên đàng thị kiến Thiên Chúa. Mẹ Maria cảm tạ Đấng Toàn Năng về đặc ân cao cả này.

 LỜI MẸ MARIA

 

 Con của Mẹ, không một tín hữu nào được quên sự kiện là đáng lẽ ra Thiên Chúa đã kéo và làm cho thánh Phaolô trở lại mà không cần đến những phép lạ của quyền năng vô cùng như thế. Thiên Chúa dùng các phép lạ đó để cho nhân loại thấy lòng nhân từ khoan dung Chúa hướng về tha thứ, nâng họ lên hàng bằng hữu, cho họ được ân nghĩa Chúa. Cũng do gương sáng của vị đại thánh Tông Đồ này, Chúa dạy họ phải cộng tác, đáp ứng các lời Chúa kêu gọi. Chúa thức tỉnh nhiều linh hồn, khuyến giục họ tiến tới do ơn soi sáng thúc đẩy và trợ giúp. Nhiều linh hồn đáp ứng và làm cho mình được ngay chính nhờ các Nhiệm Tích của Giáo Hội. Nhưng không phải tất cả đều kiên trì trong ơn nghĩa Chúa. Số người theo đuổi phấn đấu tiến tới trọn lành còn ít hơn nữa. Nhiều người bắt đầu hăng say, rồi xả hơi và chấm dứt trong sa ngã. Nguyên do việc họ thiếu lòng kiên trung bền đỗ trong ân nghĩa với Chúa, lại sa ngã phạm tội là vì họ không bắt chước tinh thần thánh Phaolô trong việc trở lại của ngài, khi ngài kêu lên: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì, con sẽ làm gì cho Chúa?” Có một số người kêu lên lời này, nhưng không phải với trót tâm can họ. Họ vẫn giữ lại phần nào tình yêu đối với chính mình, danh dự, của cải sở hữu, khoái lạc nhục thể và cơ hội nào đó của tội lỗi, vì thế họ lại sớm lầm lỡ vấp phạm rồi ngã gục.

 Thánh Tông Đồ Phaolô là gương sáng đích thực của một người ăn năn trở lại nhờ ánh sáng ân sủng. Ngài hết lòng tích cực cộng tác với ơn gọi. Việc thánh Phaolô hoàn toàn từ bỏ mình, qui phục thánh ý Chúa, gồm trong những lời này: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Thánh Phaolô nói lên những lời đó với tất cả lòng chân thành của con tim thống hối khiêm tốn. Ngài khước từ ý riêng, đặt mình tuân theo thánh ý Chúa. Ngài sẵn sàng hiến thân phụng sự Chúa theo mọi cách và phương hướng mà thánh ý Chúa chỉ dạỵ Thiên Chúa tìm kiếm các bí mật nơi trái tim người ta. Chúa nhìn thấy lòng chân thành mà thánh Phaolô đáp ứng lời Chúa gọi, vâng phục thánh ý Chúa an bài. Chúa không những chỉ rất hài lòng đón nhận thánh Phaolô, mà còn gia tăng thêm quá sức dồi dào ân sủng, muôn đặc ân và những ưu ái lạ lùng cho ngài. Thánh Phaolô hẳn đã chẳng bao giờ nhận được, cũng chẳng bao giờ xứng đáng hưởng các đặc ân này, nếu ngài không hoàn toàn tuân theo thánh ý Chúa.

 Con của Mẹ, Mẹ muốn con theo đúng những sự thực này, thi hành trọn vẹn các điều Mẹ thường nhắc đi nhắc lại là con phải quên đi mọi thứ hữu hình, hào nhoáng giả dối. Con hãy năng nhắc lại bằng trái tim hơn bằng môi miệng những lời thánh Phaolô: “Lạy Chúa, Chúa muốn (dùng) con làm gì?” Vì ngay khi con bắt đầu làm việc gì theo ý mình, con không còn thực sự chỉ tìm thánh ý Chúạ Công cụ không cử động hoặc hành động được gì trừ phi được người tạo ra nó tác động. Nếu công cụ có được ý riêng của nó, hẳn nó có thể cưỡng lại và hành động trái với ý người sử dụng nó. Điều đó thực đúng giữa Thiên Chúa và linh hồn nhân loại: nếu linh hồn thỏa mãn bất cứ ước nguyện nào của nó biệt lập đối với thánh ý Chúa, nó đối nghịch với Chúa. Thiên Chúa không xâm phạm quyền tự do hành động được ban cho nhân loại. Chúa sẽ để cho quyền tự do của người ta dẫn đưa người ta đi lạc đường ngay khi người ta tự quyết định cho mình mà không theo sự hướng dẫn của Đấng Tạo Thành.