PHẦN VI

CHƯƠNG 1

MẸ MARIA ĐỒNG HÀNH VỚI CHÚA GIÊSU TRÊN MỌI NẺO ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO

 

Mô tả các phép lạ, các việc làm vô cùng cao cả của Chúa Kitô trong Lịch Sử Cuộc Đời Mẹ Maria là điều hết sức thích hợp vì Mẹ Maria chia sẻ hầu hết các phép lạ và kỳ công đại cuộc cứu độ nhân loại. Nhưng tác giả không dám mạo muội làm một việc quá sức khó khăn, hết sức xa vời vượt trên khả năng loài người. Vì sau khi kể lại nhiều phép lạ Chúa Kitô đã làm, Thánh Sử Gioan kết thúc Sách Phúc Âm của ngài: “Chúa Giêsu đã làm nhiều việc khác, mà nếu kể lại hết, thì thế giới này không đủ chỗ chứa các sách ghi chép” (Gioan 21:25). Nếu nhiệm vụ như thế hầu như không thể nào thực hiện được đối với Thánh Sử Gioan, thì đối với một phụ nữ dốt nát, vô dụng hơn bụi đất là tác giả lại càng không thể nào làm được. Tất cả những điều cần thiết cho việc thiết lập và duy trì Giáo Hội đều đã được bốn Thánh Sử viết đầy đủ và không cần nhắc lại. Tuy nhiên cần ghi lại một vài trường hợp hết sức đặc biệt trong số rất nhiều việc vĩ đại Mẹ Maria đã làm nhưng chưa được đề cập tới trong Phúc Âm.

Tuy nhiên, để có thứ tự, tác giả phải sơ lược phép lạ đầu tiên Chúa làm tại Cana do lời Đức Hiền Mẫu xin. Sau khi kể lại việc Chúa kêu gọi môn đệ thứ năm là ông Nathanael, Thánh Sử Gioan mở đầu chương hai Sách Phúc Âm: “Vào ngày thứ ba, Thân Mẫu Chúa Giêsu dự tiệc cưới tại Cana xứ Galilea. Chúa Giêsu được mời cùng với các môn đệ” (Gioan 2:1). Đám cưới này của người cháu họ về phía thánh tổ mẫu Anna. Chúa nhận lời mời tham dự tiệc cưới cùng với năm môn đệ. Chúa đến dự tiệc cưới để công nhận và thánh hóa Hôn Nhân, để khởi đầu củng cố giáo huấn của Chúa. Chúa đã xưng mình là Thầy và nhận môn đệ, Chúa muốn củng cố ơn gọi và lòng tin của các ông bằng những phép lạ Chúa sẽ làm công khai.

Thầy hằng sống bước vào nhà có tiệc cưới, chào và chúc mọi người hiện diện: “Chúc mọi người bình an và ánh sáng Thiên Chúa.” Ngay sau đó, Chúa chỉ dạy và khuyến khích chú rể về sự trọn lành thánh thiện cuộc sống hôn nhân. Trong khi đó, Đức Hiền Mẫu dịu dàng nhưng hết sức hùng hồn chỉ dạy, khuyến khích cô dâu về các bổn phận của cô. Sau đó, Chúa Cứu Thế và Đức Hiền Mẫu chuyện trò với mọi người tới dự tiệc, trút đầy trái tim họ sự khôn ngoan và ơn soi sáng. Đức Hiền Mẫu nói rất ít, chỉ khi nào Người được hỏi hoặc hết sức cần thiết. Người luôn lắng nghe, theo dõi mọi việc làm và lời nói của Chúa Cứu Thế. Mẹ ghi nhớ trong trái tim và suy gẫm.

Tại bàn tiệc, Chúa Cứu Thế và Đức Hiền Mẫu dùng rất ít thực phẩm, nhưng mọi người không nhận ra sự tiết chế đặc biệt. Giữa buổi tiệc, rượu hết. Đức Hiền Mẫu nói với Chúa Cứu Thế: “Họ hết rượu rồi.” Chúa đáp: “Thưa Bà, điều đó can hệ gì đến Bà và Con? Giờ của Con chưa tới” (Gioan 2: 3-4). Lời Chúa đáp không chủ ý khước từ, nhưng tiềm ẩn một điều huyền nhiệm, vì Mẹ Maria không xin Chúa làm phép lạ chỉ vì họ hết rượu, nhưng do ánh sáng thần linh, Mẹ biết đã đến thời điểm thích hợp cho việc biểu lộ quyền năng Con Mẹ. Mầu nhiệm tiềm ẩn trong lời Chúa Kitô là củng cố lòng tin nơi các môn đệ vào Thiên Tính của Chúa và cho thấy Chúa là Thiên Chúa thực. Chúa nói: “Thưa Bà, điều đó can gì đến Bà...” cho hiểu: Quyền làm phép lạ của Con không phải từ Mẹ, mặc dầu Mẹ cho Con nhân tính mà qua đó Con làm phép lạ. Chỉ Thiên Tính của Con làm phép lạ và giờ Con làm phép lạ chưa tới. Từ đó Chúa đổ đầy trí khôn các Tông Đồ ánh sáng mới giúp các ngài hiểu sự kết hiệp hai bản tính của Chúa.

Đức Hiền Mẫu hiểu rõ mầu nhiệm này. Mẹ nhã nhặn nói với các người giúp việc: “Ngài bảo gì, các anh hãy làm theo” (Gioan 2:5). Và Chúa đã làm phép lạ biến nước lã thành rượu hảo hạng như thánh Gioan tường thuật (Gioan 2: 6-11).

Từ Cana, xứ Galilea, Chúa Kitô tới Capharnaum, một thành phố lớn đông dân cư gần biển hồ Tiberias. Theo thánh Gioan (Gioan 2:12), Chúa ở lại ít ngày. Vì gần tới Lễ Vượt Qua, Chúa đi dần đến Jerusalem để mừng lễ vào ngày Mười Bốn trăng tròn tháng Ba. Đức Hiền Mẫu Maria rời khỏi Nazareth, đồng hành với Chúa khắp nẻo đường rao giảng dạy dỗ và tới tận chân Thánh Giá. Mẹ chỉ không ở bên Chúa một vài dịp, chẳng hạn như lần Chúa nói chuyện với người phụ nữ Samaria, hoặc khi Mẹ Maria ở lại phía sau với một vài người để chỉ bảo và dạy họ giáo lý. Nhưng lần nào cũng vậy, chỉ trong thời gian ngắn, Mẹ Maria trở lại bên Chúa và Thầy của Mẹ, đi theo Mặt Trời Công Chính cho tới khi Mặt Trời đó lặn xuống mồ Kẻ Chết.

Suốt các hành trình này, Mẹ Maria đi chân trần, giống hệt Con cực thánh. Nếu ngay đến Chúa đã từng mỏi mệt vì lặn lội ngược xuôi (Gioan 4:61), thì Mẹ Maria còn mỏi mệt biết chừng nào? Có khó khăn vất vả nào Mẹ Maria lại không chịu đựng trong những hành trình như thế thuộc mọi loại thời tiết! Chỉ những khổ cực Mẹ Maria phải chịu vì những hành trình ngược xuôi này thôi cũng đã quá vĩ đại, nhân loại không thể đền đáp thỏa đáng. Đôi khi Chúa để cho Mẹ chịu những trạng thái suy nhược và đau đớn đến độ Chúa phải làm phép lạ để giảm bớt đau đớn cho Mẹ. Có những lần Chúa muốn Mẹ nghỉ ngơi tại địa điểm dừng chân nào đó vài ngày.

Như đã nói, Mẹ Maria có toàn bộ Tín Lý của Luật Phúc Âm được viết trong trái tim. Dẫu vậy, Mẹ Maria khao khát, chăm chú như một môn đệ mới tới ước mong nghe lời giảng dạy và giáo lý của Con cực thánh. Mẹ yêu cầu các thiên thần tường thuật lại, nếu cần, những lời Thầy chí thánh đã giảng bất cứ khi nào Mẹ không hiện diện bên Chúa. Mẹ Maria luôn luôn quì gối nghe lời Con chí thánh giảng dạy, như thế, bằng hết khả năng, Mẹ cho mọi người thấy lòng tôn kính phụng thờ phải được dành cho Ngôi Vị và Giáo Huấn của Chúa. Nhiều lần Mẹ Maria biết những hoạt động trong linh hồn Chúa Kitô, những lời cầu nguyện liên tục Chúa Giêsu dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu để xin cho việc chuẩn bị thích ứng tâm hồn người nghe giảng, xin cho hạt giống giáo lý mọc lên tới đời sống vĩnh cửu. Mẹ Maria, với lòng yêu mến tột đỉnh, lòng bác ái nồng nàn và chan hòa nước mắt, đã kết hợp với Thầy chí thánh trong lời cầu nguyện và xin mọi hồng ân cho các linh hồn.

Do sự chăm chú tôn kính, Mẹ Maria dạy và làm cho những người khác xúc động đánh giá cách chính đáng lời giảng dạy và giáo huấn của Chúa Cứu Thế. Mẹ Maria cũng biết nội tâm những người nghe Chúa giảng dạy, tình trạng ân sủng họ được, hoặc tội lỗi hoặc các tật xấu và thánh đức nơi họ. Sự hiểu biết đa dạng ẩn nhiệm này, vượt quá khả năng loài người, tạo ra trong lòng Mẹ Maria nhiều hiệu lực kỳ diệu của đức bác ái cao cả và các thánh đức khác. Sự hiểu biết này làm bừng cháy trong Mẹ Maria lòng khao khát mãnh liệt muốn vinh danh Chúa và xin cho thành quả Ơn Cứu Chuộc không bị lãng phí nơi các linh hồn. Việc cấp cứu các linh hồn lâm nguy hư mất vì tội lỗi thúc đẩy Mẹ Maria dâng lên những lời cầu nguyện tha thiết. Mẹ Maria cảm thấy đau buồn ác nghiệt xuyên thấu trái tim vì sợ rằng Thiên Chúa không được mọi thụ tạo nhận biết, thờ lạy và phụng sự. Sự phiền sầu của Mẹ tỉ lệ thuận với sự hiểu biết của Mẹ về tất cả mọi mầu nhiệm này. Đối với những linh hồn không đón nhận hồng ân Chúa và thánh đức, Mẹ buồn rầu khôn tả, và thường nhỏ huyết lệ khi nghĩ đến bất hạnh của họ. Những đau buồn lo âu này và những cực nhọc Mẹ Maria phải chịu vượt xa mọi mức độ đau đớn toàn thể các thánh tử đạo khắp thế giới trải qua.

Mẹ Maria đối xử hết sức khôn ngoan với tất cả những người theo và được nhận vào đoàn môn đệ Chúa. Những người được Mẹ tỏ lòng kính trọng quí mến đặc biệt là các Tông Đồ. Là Mẹ, Mẹ Maria săn sóc tất cả mọi người. Là Nữ Vương quyền thế, Mẹ xin được mọi ơn cần thiết, ơn an ủi và của nuôi thân xác cho mọi người. Đôi khi không còn nguồn tiếp tế nào khác, Mẹ Maria yêu cầu các thiên thần đem đồ tiếp tế đến cho các Tông Đồ và môn đệ nam nữ. Để giúp mọi người thăng tiến trong đời sống tinh thần, Mẹ Maria đã vất vả không phải chỉ bằng lời cầu nguyện liên tục cho mọi người mà còn do gương sáng và những lời chỉ bảo quí báu nữa. Bằng những sự việc đó, Mẹ Maria, Đấng là Hiền Mẫu và Giáo Sư cực khôn ngoan, nuôi dưỡng và củng cố sức mạnh cho mọi người. Khi các Tông Đồ hoặc môn đệ bị bất cứ sự hoài nghi nào xâm chiếm, việc này thường xảy ra vào thời kỳ đầu, hoặc khi các vị đó bị cám dỗ bí mật nào đó tấn công, Mẹ Maria lập tức tiếp sức soi sáng, khuyến khích các ngài bằng ánh sáng và lòng bác ái vô song. Các Tông Đồ và môn đệ được soi sáng nhờ sự khôn ngoan, được uốn nắn nhờ lòng khiêm nhượng, được làm cho trầm tĩnh nhờ sự nhún nhường, được làm cho sung túc nhờ mọi ân sủng tuôn tràn từ Mẹ. Bằng tâm tình tạ ân, Mẹ Maria vui mừng dâng lên Thiên Chúa mọi phúc lộc việc kêu gọi các môn đệ, thành quả ơn cải hoá và kiên trì cho người công chính, và mọi ân sủng vô cùng dư đầy khác.

Một số phụ nữ từ Galilea theo Chúa Cứu Thế trong các hành trình rao giảng. Các Thánh Sử Matthêu, Marcô và Luca kể lại một số bà, đã được Chúa chữa khỏi quỉ ám và những tật bệnh khác, đi theo phục vụ Chúa (Mt 27, Mc 15, Lc 8). Thầy hằng sống không phân biệt tính phái trong việc noi theo, bắt chước và giáo huấn của Ngài. Vì thế một số phụ nữ chăm sóc phục vụ Chúa ngay từ khi Chúa mới khởi đầu hành trình rao giảng. Sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa đã an bài điều đó để chuẩn bị sẵn những người đồng hành thích hợp với Mẹ rất thánh trong các hành trình này và những mục đích huyền nhiệm cao cả khác. Mẹ Maria đặc biệt săn sóc những phụ nữ nhiệt thành thánh thiện này. Mẹ qui tụ các bà, chỉ bảo, dạy giáo lý, hướng dẫn các bà về những lời Con cực thánh Mẹ giảng dạy. Mẹ Maria được soi sáng, được chỉ dẫn hoàn toàn đầy đủ về giáo lý Phúc Âm, Mẹ có thể dạy đường lối cuộc sống đời đời cách trọn hảo, nhưng Mẹ luôn dùng những lời Chúa giảng dạy công khai làm căn bản cho những điều Mẹ chỉ dạy và khuyến đức. Mẹ Maria chỉ bảo những điều này cho các phụ nữ hàng ngày theo Chúa trên đường rao giảng và cho các phụ nữ khác nữa, trước hoặc sau khi họ đã nghe Chúa giảng.

Tất cả những người được Chúa Cứu Thế thâu nhận đều tiếp xúc và đối xử thân mật với Mẹ. Chúa trút vào trái tim họ lòng tôn kính chân thành đặc biệt đối với Mẹ Maria. Tuy nhiên, cho dù lòng kính trọng này được ban chung cho mọi người, ơn đó không đồng đều nơi tất cả các môn đệ; vì Chúa ban phát ơn theo ý Ngài, tùy theo sự sẵn sàng của tâm hồn, tùy chức vụ và trách nhiệm người đó được chỉ định. Nhờ gặp gỡ đối thoại và thường xuyên tiếp xúc với Mẹ Maria, lòng kính yêu thành tâm của các Tông Đồ và Môn Đệ đối với Mẹ mỗi ngày mỗi gia tăng. Mẹ Maria nói với tất cả mọi người, chỉ dạy, giúp đỡ mọi nhu cầu, không bao giờ Mẹ để họ rời khỏi cuộc tiếp xúc đối thoại với Mẹ mà không được đầy ắp niềm vui trong lòng và an ủi lớn lao hơn họ xin. Tuy nhiên mức độ hiệu quả tốt lành từ những lần hàn huyên với Mẹ tùy thuộc vào sự sẵn sàng của trái tim người nhận các đặc ân này.

Mọi người đều được ban ơn khởi đầu tiếp xúc với Mẹ Thiên Chúa bằng lòng thán phục cao độ của họ đối với sự khôn ngoan, thông thái, trinh khiết, thánh thiện, cao cả của Mẹ; được làm cho cảm thấy sự dịu hiền nơi đức khiêm nhượng và vui vẻ khôn tả của Mẹ. Vì chưa tới thời điểm tiết lộ Hòm Bia huyền nhiệm Tân Ước cho nhân loại, nên chính Chúa Giêsu, dù rất ao ước ca tụng Mẹ Maria, đã không biểu lộ việc đó bằng lời mà giữ kín nơi trái tim. Các Tông Đồ cũng thế, đã sung sướng giữ kín lời ca tụng Mẹ trong tim; các ngài hướng những cảm giác nồng cháy trong tình yêu mãnh liệt đối với Mẹ Maria vào việc ca tụng Đấng tạo dựng Mẹ. Do sự hiểu biết vô song, Mẹ biết rõ tình trạng tự nhiên của từng môn đệ, biết rõ mức độ ân sủng của từng người. Mẹ thích nghi hoàn cảnh từng người trong lời Mẹ cầu nguyện, trong lời Mẹ chỉ dạy và nói chuyện với họ; và tùy theo những đặc ân Mẹ xin được cho từng người để hỗ trợ ơn gọi nơi người đó. Lòng hăng say yêu thương tột đỉnh trong cách cư xử của Mẹ Maria hầu thoả mãn trọn vẹn các ước vọng của Chúa như thế đã gợi lên sự thán phục vô bờ bến nơi các thiên thần.

Đặc biệt đáng kể trong việc tiếp nhận các ân sủng huyền nhiệm này là thánh Phêrô và Gioan. Thánh Phêrô được chỉ định làm Đại Diện Chúa Kitô, là Thủ Lãnh Giáo Hội chiến đấu, nên ngài xứng đáng được sự kính trọng và yêu mến đặc biệt của Mẹ Maria. Thánh Gioan thế vị Chúa Giêsu, sau khi Chúa chịu Khổ Hình Cứu Chuộc, săn sóc phụng dưỡng Mẹ Maria còn ở trần thế. Vì thế việc quản trị và coi sóc nhiệm thể Giáo Hội, như về Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, về Giáo Hội chiến đấu hữu hình và các tín hữu trần thế, phải được phân chia giữa hai thánh Tông Đồ này; không lạ gì thánh Phêrô và Gioan được Mẹ Maria dành cho biệt ân. Thánh Gioan, được chọn phụng dưỡng Mẹ Maria và được địa vị dưỡng tử, lập tức được hưởng những ơn thúc đẩy tận tụy phục vụ Mẹ. Mặc dầu tất cả các thánh Tông Đồ đều có lòng tận tụy đối với Mẹ Maria, thánh Gioan thấm nhuần sâu xa hơn vào những mầu nhiệm Thành Thánh Thiên Chúa và được ban ơn soi sáng siêu nhiên vượt trội hơn tất cả các Tông Đồ khác. Thánh Gioan nhận được qua Mẹ Maria tất cả mọi hiểu biết siêu nhiên ngài nói trong Phúc Âm, đặc biệt là tước hiệu đặc biệt “người môn đệ yêu dấu của Chúa Giêsu” vì ngài yêu mến Mẹ Maria. 

Ngoài đức trinh khiết, thánh Gioan còn có những thánh đức khác rất vui lòng Mẹ Maria là tính đơn sơ thật thà, như thấy rõ trong văn từ của ngài; sự tế nhị, khiêm nhượng cao độ, và thánh Gioan hiền lành, thuận thảo nhất. Mẹ Maria luôn coi những người hiền lành khiêm nhượng là những người bắt chước Con chí thánh Mẹ trung thành nhất. Vì thế Mẹ Maria ưu ái thánh Gioan hơn các Tông Đồ khác; và chính thánh Gioan lo lắng phục vụ Mẹ Maria bằng tình yêu thương quyến luyến kính trọng mãi tăng thêm. Ngay từ khởi đầu ơn gọi, thánh Gioan đã vượt hơn các Tông Đồ khác về lòng yêu mến sốt sắng đối với Mẹ Maria và hoàn thành những ước nguyện nhỏ nhặt nhất của Mẹ. Bất cứ khi nào có thể, thánh Gioan tìm đến Mẹ Maria và phụ giúp Mẹ. Đôi khi vị Tông Đồ tốt phước này tranh đua với các thiên thần về lòng hăng say phụng sự giúp đỡ Đức Nữ Vương cao cả. Vị môn đệ yêu dấu này hết sức chuyên cần kể lại cho Mẹ Maria các việc và phép lạ Chúa Cứu Thế đã làm mỗi khi Mẹ không hiện diện bên Chúa, và nói cho Mẹ biết những môn đệ mới trở lại nhờ lời Chúa giảng dạy.

Tuy nhiên cần phải kể đôi điều về những gì tác giả được dạy cho biết về Tông Đồ gian ác Juda Iscariot; vì các việc của y đều liên quan tới lịch sử này và ít được biết về hắn. Người Tông Đồ bất hạnh Juda Iscariot đã đi lạc xa chánh lộ tình yêu Thiên Chúa và những hồng ân của tình yêu đó. Trong đoạn sau đây tác giả sẽ trình bày những điều tác giả được cho biết liên quan đến sự phản bội này. Đây sẽ là lời cảnh cáo dành cho những người ngoan cố, bướng bỉnh, cứng lòng và ít yêu mến Mẹ Maria.

Juda Iscariot được lôi cuốn theo Chúa Kitô, Thầy chí thánh, do những giáo lý tuyệt vời của Chúa. Ngay từ đầu, Juda Iscariot đã được những ơn đặc biệt và tiến vượt một số môn đệ khác, xứng đáng được kể trong số mười hai Tông Đồ. Chúa Cứu Thế yêu thương ông ta theo tình trạng ân sủng linh hồn và những việc làm tốt lành của ông ta lúc đó, y như Chúa đối xử với mọi người khác. Đức Hiền Mẫu Maria cũng đối xử với Juda Iscariot y như thế, mặc dầu, với sự hiểu biết được Chúa soi dẫn, Mẹ lập tức nhận thấy sự phản bội xảo trá do đó sẽ chấm dứt chức Tông Đồ của y. Trong trường hợp này, Mẹ Maria cực độ bác ái đã không từ chối Juda Iscariot lời cầu bầu và tình yêu hiền mẫu. Mẹ hết sức biện minh sự nghiệp Con chí thánh Mẹ chống lại con người bất hạnh bội bạc này. Mẹ Maria biết rõ một tính tình như của Juda Iscariot không thể khắc phục được bằng sự nghiêm khắc vì chỉ có thể bị đưa tới trình trạng bướng bỉnh hơn nữa. Mẹ đã hết lòng lo lắng đến mức không một nhu cầu hoặc phúc lộc nào của Juda Iscariot bị bỏ qua. Mẹ bắt đầu săn sóc chữa trị ông ta; Mẹ nói và lắng nghe ông ta cách dịu dàng yêu thương hơn đối với những người khác. Mẹ Maria thi hành việc này cao độ đến mức có lần khi các môn đệ nói với nhau về vị thế của họ đối với Chúa Cứu Thế và với Mẹ (Lc 22:24) Juda Iscariot đã không bao giờ cho tỏ ra ghen tị hoặc hoài nghi chút nào. Ngay từ buổi đầu Mẹ Maria đã đặc biệt chiếu cố ông ta bằng những dấu của tình yêu thương đặc biệt và lúc đó chính Juda Iscariot cũng tỏ ra biết ơn về những đặc ân này.

Nhưng khi Juda Iscariot để cho khuynh hướng tự nhiên hoạt động (các môn đệ khi chưa được củng cố về thánh đức và ân sủng đều mắc phải một số lỗi lầm của loài người), con người thiếu khôn ngoan thận trọng đó bắt đầu tự phụ về sự trọn lành cá nhân và để ý đến lỗi lầm nơi anh em hơn của chính mình (Lc 4:41). Chính ông ta tự để mình bị lừa dối, không cố gắng sửa chữa hoặc ăn năn, để cho cái xà trong mắt mình lớn dần lên mãi trong khi để ý tìm kiếm cọng rác trong mắt người khác. Trong khi kêu ca những lỗi lầm nhỏ mọn của anh em khác và với lòng tự phụ hơn là thiện chí sửa chữa người khác, chính Juda Iscariot phạm những lỗi lầm lớn hơn. Trong số các Tông Đồ, ông ta tách riêng thánh Gioan ra, coi thánh Gioan là người hay xía vào chuyện người khác; ông ta kết tội thánh Gioan lập công với Thầy và Mẹ Maria. Thực ra Juda Iscariot đã nhận được rất nhiều đặc ân của Chúa Giêsu và Mẹ Maria mà không đem lại kết quả gì trong việc ngăn cản hắn khỏi kiêu căng. Tuy vậy tới nay Juda Iscariot chỉ mới phạm những lỗi nhẹ và chưa mất ơn thánh hoá. Nhưng các lỗi đó chứng tỏ tình trạng hết sức tồi tệ mà y nhất quyết theo đuổi. Từ đó hắn nuôi dưỡng một số điều tự mãn phù phiếm trong lòng. Lập tức điều này tạo ra một số đố kỵ nghi ngờ, dẫn tới tinh thần vu khống và tàn nhẫn trong việc bắt lỗi anh em. Những lỗi lầm này mở đường cho những lầm lỗi trầm trọng hơn. Lòng sốt sắng tận hiến nơi Juda Iscariot suy giảm, lòng yêu mến đối với Thiên Chúa và người ta trở nên nguội lạnh, ánh sáng soi trong lòng hắn bị mất dần rồi tắt hẳn. Juda Isacariot bắt đầu nhìn các Tông Đồ và Mẹ Maria với lòng chán ghét, ít hài lòng trong việc giao tiếp với Mẹ và các Tông Đồ.

Mẹ Maria nhìn thấy sự phản bội gia tăng trong lòng Juda Iscariot. Mẹ tha thiết tìm kiếm việc phục hồi và ơn cứu độ cho y trước khi y gieo mình hoàn toàn vào sự chết của tội lỗi. Với sự dịu dàng và sức mạnh lý luận, Mẹ nói và khuyến khích hắn như đứa con yêu dấu. Mặc dầu đôi khi trận bão tư tưởng xoáy lốc trong lòng Juda Iscariot được làm cho dịu đi, nhưng chỉ được thời gian ngắn, rồi cơn giông tố lại khơi dậy khiến y đảo điên. Y mở đường cho ma quỉ vào trái tim. Y để mình bị chiếm hữu bởi sự giận dữ sôi sục chống lại Mẹ Maria. Với sự giả hình xảo trá, hắn tìm cách chối hoặc làm nhẹ các lỗi lầm bằng cách viện dẫn những lý do khác để bào chữa hạnh kiểm, che giấu những bí ẩn trong tim, làm như thể hắn có thể lừa dối được Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Hắn mất lòng tôn kính bề trong đối với Mẹ Maria từ bi, ghét những lời khuyên bảo, và công khai chỉ trích những lời nói và lý luận dịu dàng của Mẹ. Lòng quá tự phụ bội bạc này làm cho y xa khỏi tình trạng ân sủng. Chúa hết sức buồn và để mặc hắn với những ý định ác độc của hắn. Việc Juda Iscariot chán ghét Mẹ Maria đã sớm phát sinh trong lòng ghét cay ghét đắng đối với Thầy chí thánh. Càng ngày Juda Iscariot càng bất mãn với những giáo huấn của Chúa, bắt đầu coi đời sống Tông Đồ và tiếp xúc với các môn đệ là quá sức nặng nề.

Dẫu vậy Chúa nhân từ không bỏ Juda Iscariot ngay, mà vẫn tiếp tục ban cho hắn ơn giúp đỡ trong lòng, mặc dầu nếu so với những ơn trước kia thì những ơn mới này chỉ là những ơn thông thường hơn. Tuy nhiên, chỉ những ơn đó cũng dư đủ cho việc cứu rỗi y, nếu y chịu sử dụng. Thêm vào với các ơn này là những lời của Vị Nữ Giáo Sư cực độ hiền từ khuyên nài hắn tự chế và hạ mình xin Thầy chí thánh tha thứ. Mẹ Maria đã cho Juda Iscariot lòng thương xót nhân danh Chúa Giêsu và sự giúp đỡ nhân từ của Mẹ để đạt được ơn tha thứ, hứa làm việc đền tội thay cho hắn, nếu hắn bằng lòng ăn năn hối lỗi, sửa lại đời sống. Mẹ Maria đã làm hết mọi việc này để ngăn cản sự sa ngã của Juda Iscariot. Mẹ Maria biết rõ nếu người ta không tìm cách chỗi dậy từ một lần sa ngã mà cứ lì lợm trong tội là điều ác độc lớn lao hơn việc sa ngã nhiều. Lương tâm người môn đệ kiêu căng này chẳng những đã không trách mắng hắn vì sự ác độc của mình, mà còn làm cho trái tim hắn trở nên chai đá. Hắn bắt đầu khinh ghét sự khiêm tốn, mà nhân đức này đáng lẽ ra phải là điểm tốt cho hắn. Vì kiêu căng, hắn khước từ các lời khuyên tốt lành của Mẹ Chúa Kitô và thích chọn việc chối lỗi, chống chế bằng miệng lưỡi ngụy biện dối trá rằng hắn yêu mến Thầy và những người khác, không có gì để phải sửa đổi cách cư xử về phương diện này.

Để không phải chịu lỗi vì che giấu những gì thuộc chương này, tác giả xin nêu ra thêm lý do khác nữa của việc Juda Iscariot sa ngã. Khi số lượng Tông Đồ và môn đệ gia tăng, Chúa Giêsu muốn một trong các Tông Đồ và môn đệ phụ trách các của bố thí nhận được để cung cấp nhu cầu chung và đóng thuế cho hoàng đế. Chúa Giêsu cho mọi người biết việc này, nhưng không phân biệt ai mà cũng không nhắm hẳn vào ai. Trong khi mọi người sợ tìm cách tránh khỏi chức vụ đó, Juda Iscariot cố gắng giành cho được. Để giành được việc chỉ định hắn vào chức vụ quản lý, hắn tự hạ tới mức yêu cầu thánh Gioan xin Mẹ Maria dàn xếp việc này với Chúa Giêsu cho hắn. Thánh Gioan nhận lời xin với Mẹ Maria, nhưng Mẹ không muốn đề nghị điều đó với Chúa, vì biết lời Juda Iscariot yêu cầu phát xuất từ tham vọng không chính đáng. Cùng cách như thế hắn nhờ thánh Phêrô và các Tông Đồ khác, nhưng không thành công. Vì nhân từ, Chúa muốn ngăn chận sự tự hủy diệt của hắn, và nếu Chúa ban cho điều hắn xin, Chúa biện hộ cho trường hợp của hắn trước loài người. Trước sự đề kháng này, trái tim Juda Iscariot đã bị sụp đổ vì tham lam, thay vì âm thầm qui phục, hắn bị thiêu đốt vì những ước muốn giành chức quản lý mà không thoả mãn. Vì thế tội lỗi càng nặng nề hơn nơi Juda Iscariot, người đã từng là môn đệ trong trường hợp trọn lành nhất, đã từng sống trong ánh sáng Mặt Trời công chính là Chúa Cứu Thế và Mặt Trăng xinh đẹp là Mẹ Maria! Vì hắn chạy trốn khỏi ánh sáng, tự ý gieo mình vào bóng tối, hắn đánh bạo xin Mẹ Maria trực tiếp dùng ảnh hưởng giành cho hắn chức quản lý. Hắn đã mất hết sợ hãi, ngụy trang lòng tham lam dưới tấm áo nhân đức. Đến với Mẹ Maria, hắn nói hắn đã đưa ra lời yêu cầu qua thánh Phêrô và thánh Gioan, với ước nguyện duy nhất là chuyên cần phục vụ Mẹ và Thầy chí thánh, vì không ai gánh vác những trách nhiệm đó với lòng lo lắng ân cần đúng mức, nên bây giờ hắn xin Mẹ Maria xin Thầy chí thánh giao chức quản lý cho hắn.

Mẹ Maria hết sức nhẹ nhàng trả lời Juda Iscariot: “Con hết sức yêu quí của Mẹ, con hãy suy nghĩ kỹ điều con xin, xem xét những ý định của con có ngay thẳng không. Con hãy đắn đo kỹ lưỡng, liệu có tốt cho con khi tìm kiếm điều mà tất cả các anh em con đều sợ và từ chối trừ phi họ bị bắt buộc do lệnh của Thầy chí thánh. Thầy chí thánh yêu thương con hơn con yêu chính con và nhất định Thầy biết điều gì có ích cho con. Con hãy tự nguyện vâng theo thánh ý Chúa. Con hãy thay đổi mục đích; tìm làm phong phú thêm lòng khiêm nhượng và khó nghèo. Con hãy chỗi dậy từ chỗ con vấp ngã, Mẹ sẵn sàng giúp con, Con Mẹ sẵn sàng cho con thấy lòng thương xót yêu thương vô cùng của Ngài.” Nhưng trái tim sôi sục ham muốn và chai đá của Juda Iscariot đã không mềm ra, cũng không cảm động chút nào. Trái lại, Juda Iscariot tức giận Mẹ Maria; hắn cho rằng hắn bị xúc phạm vì Mẹ đã cho hắn phương tiện thoát khỏi nguy cơ khủng khiếp. Cuồng vọng và lòng tham không đáy đã khiến y tăng thêm lòng giận dữ đối với Mẹ Maria; y cho rằng Mẹ là trở ngại cản trở các mục tiêu của y, coi lời khuyên tốt lành của Mẹ Maria là lời sỉ nhục.

Sau khi nói chuyện với Mẹ Maria, lòng tham lam của Juda Iscariot không để cho hắn nghỉ. Hắn gạt bỏ lòng khiêm tốn, sự xấu hổ tự nhiên và tàn lửa nhỏ nhoi nhất của đức tin, hắn nhất định trực tiếp xin điều đó với Chúa Cứu Thế. Tự khoác cho mình bộ mặt đạo đức giả điêu luyện trong lớp con chiên hiền lành, hắn nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, tôi muốn chu toàn những điều Thầy muốn và phục vụ Thầy với tư cách quản lý phân phát các của bố thí chúng ta nhận được. Tôi sẽ để ý tới phúc lợi người nghèo, chu toàn giáo lý của Thầy. Chúng ta sẽ làm cho người khác những điều chúng ta muốn người khác làm cho chúng ta. Tôi sẽ trông coi việc phân phát các của bố thí theo ý Thầy cách hữu ích hơn và trật tự hơn từ trước tới nay.” Lời lẽ mà tên giả hình liều lĩnh dùng đã gây ra nhiều tội ghê gớm trong cùng một hành động. Trước hết hắn nói dối, che giấu ý định thực. Kế đến, vì tham vọng được vinh dự mà hắn không xứng đáng, hắn không muốn xuất hiện trong ánh sáng thực của hắn, hắn cũng không muốn ở trong sự thực mà hắn chỉ làm bộ. Hắn đổ lỗi cho anh em, triệt hạ họ xuống và tự đề cao: việc làm thường tình của những kẻ tham vọng. Điều cần đặc biệt chú ý nơi thái độ Juda Iscariot là hắn cho thấy tình trạng mất đức tin đã được in trong linh hồn hắn; vì qua lớp áo giả hình hắn muốn lừa dối Chúa Kitô, Thầy hằng sống. Nếu hắn xác tín Chúa Kitô là Thiên Chúa thực và người thực, là Đấng biết hết các điều ẩn kín trong lòng mọi người, hắn đã chẳng nghĩ có thể lừa dối Chúa, hắn cũng không thể nào dám liều lĩnh chơi trò hai mặt như thế.

Chúng ta trở lại với câu trả lời Thầy chí thánh cho Juda Iscariot khi hắn xin Chúa cho hắn chức quản lý. Chúng ta thấy bí nhiệm và kinh khủng chừng nào các phán quyết của Đấng Tối Cao. Chúa Cứu Thế muốn gỡ cho Juda Iscariot khỏi nguy hiểm trầm luân đời đời, mà nguy hiểm này nằm sau lời yêu cầu của người Tông Đồ tham lam. Để Juda Iscariot không thể tự bào chữa là vì ngu dốt, Chúa trả lời hắn: “Juda Iscariot, anh có biết điều anh kiếm tìm và điều anh xin không? Anh đừng quá ác độc đối với chính anh khi khẩn khoản tìm kiếm để giành được thuốc độc và những vũ khí có thể làm cho anh chết.” Juda Iscariot đáp lời: “Thưa Thầy tôi ước ao phục vụ Thầy bằng việc tận lực phục vụ các người trung thành theo Thầy, mà tôi có thể hoàn tất tốt hơn bất cứ công tác nào khác. Tôi hứa chu toàn mọi trách nhiệm chức vụ này không thiếu sót.” Lòng tự phụ liều lĩnh này của Juda Iscariot trong việc tìm kiếm và thèm muốn sự nguy hiểm chứng minh là đúng nguyên do Chúa để cho hắn đi vào hủy diệt trong điều nguy hiểm hắn tìm kiếm ước ao. Nó chống lại ánh sáng (Kn 15:17), ngoan cố chống lại ánh sáng. Nước và lửa, sống và chết đã được chỉ rõ cho hắn, hắn đã đưa tay ra chọn lấy trầm luân đời đời.

LỜI MẸ MARIA

 

Con của Mẹ, tất cả những điều con viết trong chương này là lời cảnh cáo quan trọng nhất đối với những người sống theo xác thịt, trong sự nguy hiểm mất hạnh phúc đời đời. Cần phải dạy họ tìm kiếm lời cầu bầu nhân từ và mạnh thế nhất của Mẹ, dạy họ biết sợ những phán xét của Đấng Tối Cao. Điều này chứa đựng những phương tiện cứu độ có hiệu lực và đáng được Thiên Chúa thưởng. Mẹ muốn lần nữa nhắc con nhớ một trong những bí mật được tiết lộ cho thánh Gioan trong buổi Tiệc Ly là điều này. Thánh Gioan đã trở nên môn đệ yêu dấu Chúa Kitô vì ngài yêu mến Mẹ. Juda Iscariot sa ngã vì y khinh ghét lòng thương xót nhân từ Mẹ đã biểu lộ cho y. Đồng thời Thánh Sử cũng hiểu các mầu nhiệm vĩ đại khác được truyền thông và thực hiện trong Mẹ. Mẹ phải tham dự khổ cực đau đớn của Khổ Hình mà Chúa đặc biệt trao cho Mẹ. Con hết sức yêu dấu của Mẹ, sự tinh tuyền Mẹ đòi hỏi ở con phải lớn lao hơn sự tinh tuyền nơi các thiên thần. Nếu con cố gắng theo đuổi sự tinh tuyền đó con sẽ trở nên con yêu dấu nhất của Mẹ, như thánh Gioan, là bạn yêu dấu nhất và sủng ái nhất của Con và Chúa của Mẹ. Gương sáng thánh Gioan phải luôn luôn là điều khích lệ con, sự hủy diệt của Juda Iscariot phải luôn được coi như lời cảnh cáo cho con: chỉ tìm kiếm tình yêu thương của Mẹ và thành thực biết ơn về tình thương yêu được ban cho con mà con không xứng đáng công gì.

 

CHƯƠNG 2

 

* CHÚA HIỂN DUNG;

* CHÚA KHẢI HOÀN VÀO JERUSALEM

 

Chúa Giêsu đã dành gần ba năm ròng rã ngược xuôi rao giảng, làm muôn vàn phép lạ cho tới thời điểm được Thiên Chúa Cha hằng hữu ấn định để đền bù phép công thẳng Thiên Chúa, để cứu chuộc loài người bằng Khổ Hình Thập Giá, và trở về với Thiên Chúa Cha. Mọi việc Chúa Cứu Thế thực hiện đều được Thiên Chúa Cha an bài nhằm mục đích chỉ dạy và cứu độ nhân loại. Chúa Giêsu quyết định chuẩn bị, củng cố sức mạnh cho một số Tông Đồ trước sự nhục nhã mà thân xác Chúa sẽ chịu trong Khổ Hình Cứu Chuộc, cho các ông thấy trước vinh quang chính thân xác Chúa, mà thân xác đó sẽ sớm phô bày trong hình hài tan nát trên Thánh Giá. Như thế các ông được bảo đảm, bằng tư tưởng, rằng các ông đã thấy thân xác Chúa vinh hiển sáng láng trước khi bị tan nát trong khổ hình (Mt 17:1-13). Chúa chọn một ngọn núi cao, núi Tabor, giữa xứ Galilea, cách Nazareth khoảng tám dặm về phía đông làm nơi hiển dung. Đi lên đỉnh núi Tabor cùng với ba Tông Đồ ưu tuyển, ông Phêrô và hai anh em ông Giacôbê và Gioan. Tại đây Chúa hiển lộ Sự Uy Nghi Cả Sáng trước mắt các ông (Mt 17:1, Mc 9:1, Lc 9:28). Ba Thánh Sử cho biết ngoài ba Tông Đồ này, hai ông Maisen và Elias cũng hiện diện đàm đạo với Chúa về Cuộc Khổ Hình. Trong khi Chúa hiển dung, tiếng Thiên Chúa Cha từ trời vang lên: “Đây là Con Yêu Dấu của Ta, Ta hài lòng vì Con; các ngươi hãy nghe lời Ngài.”

Các Thánh Sử không nói Mẹ Maria hiện diện khi Chúa hiển dung lần này, các ngài cũng không nói Mẹ Maria không hiện diện tại đó vì việc này không nằm trong mục đích của các ngài. Vì mục đích việc ghi lại lịch sử này, tác giả được cho hiểu rằng một số thiên thần được lệnh đem linh hồn ông Maisen và ông Elias tới, cùng lúc đó các thiên thần khác được chỉ định đưa Mẹ Maria tới núi Tabor để chứng kiến Con Mẹ tỏ hiện Thiên Tính Uy Nghi Cả Sáng. Tuy nhiên không phải cần để củng cố đức tin của Mẹ Maria, như cần thiết đối với các Tông Đồ.

Khả năng loài người không thể mô tả những hiệu lực thị kiến vinh hiển của Con cực thánh trong linh hồn rất thánh Mẹ Maria. Với lòng biết ơn sâu thẳm và hiểu biết tường tận sâu xa nhất, Mẹ suy gẫm những điều Mẹ chứng kiến. Mẹ nhìn thấy tính chất rực rỡ trong vinh quang thân xác đã được tạo thành bằng chính máu Mẹ, được cưu mang trong dạ Mẹ, được nuôi dưỡng bằng sữa Mẹ. Chính tai Mẹ đã nghe tiếng Thiên Chúa Cha thừa nhận Con Mẹ là Con Thiên Chúa Cha, chỉ định Ngài là Thầy Dạy toàn thể nhân loại. Cùng với các thiên thần, Mẹ sáng tác những ca khúc tôn vinh mới để mừng biến cố chan chứa niềm vui đối với bản tính nhân loại của Con cực thánh Mẹ và đối với linh hồn Mẹ. Tác giả không viết nhiều về mầu nhiệm này, cũng không bàn về những điều mà việc Chúa hiển dung thực sự bao gồm. Điều chúng ta biết đủ là gương mặt Chúa bắt đầu rực sáng chói chang như mặt trời và y phục của Chúa trở nên trắng hơn tuyết (Mt 17:2).

Sau khi Chúa hiển dung, Mẹ Maria được đưa trở về Nazareth. Con cực thánh Mẹ xuống khỏi núi, lập tức về thăm Mẹ và từ biệt lần chót thị trấn quê hương để đi Jerusalem chịu Khổ Hình vào ngày Lễ Vượt Qua sắp tới. Sau khi ở lại Nazareth vài ngày, Chúa cùng với Mẹ Maria, các môn đệ và một số phụ nữ thánh thiện, đi qua khắp xứ Galilea, Samaria, trước khi vào Jerusalem. Thánh Sử Luca viết về cuộc hành trình này: “Ngài quyết định đi Jerusalem” (Lc 9:51). Chúa đi Jerusalem với nét mặt hân hoan tha thiết mong chịu khổ hình vì loài người. Trước khi rời khỏi Nazareth, Chúa tôn vinh Thiên Chúa Cha hằng hữu, và nhân danh nhân tính cực thánh của Chúa, dâng lời tạ ân trong ngôi nhà Nazareth, nơi Chúa đã nhận lấy hình hài và bản tính nhân loại mà trong ít ngày tới phải nạp mình để chịu đau khổ và chết.

Chúa Kitô dâng lên Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha hằng hữu của Con, theo thánh ý Cha, Con hoan hỉ mau mắn đền bù phép công thẳng của Cha bằng việc chịu khổ hình cho tới chết. Nhờ đó Con làm hòa Cha với tất cả con cháu Adong, trả hết mọi nợ nần thay cho họ và mở cửa thiên đàng đã từng bị đóng lại không cho họ vào. Con tìm kiếm những kẻ lạc đường hư mất, làm cho họ có thể hồi phục nhờ sức mạnh tình yêu của Con. Con tìm kiếm và tập hợp lại các con cái hư mất của nhà Jacob (Is 56:8), nâng những người sa ngã chỗi dậy, làm cho những kẻ nghèo khó nên giàu có, cho người đói khó được no thỏa, truất phế những kẻ kiêu căng và nâng người hèn mọn khiêm tốn lên. Con đánh bại Lucifer (1 Gíoan 3:8), chiến thắng các sự dữ mà Lucifer đã gieo rắc khắp thế gian. Con phất cao cờ Thánh Giá, mà dưới bóng cờ Thánh Giá là các thánh đức và những người phải chiến đấu tự nguyện đặt mình dưới sự bảo trợ của Thánh Giá. Con muốn chứa đầy trái tim Con những lời sỉ nhục khinh miệt, những thứ đó hết sức quí giá trước thánh nhan Cha. Con muốn hạ mình xuống cho tới chết trong tay kẻ thù Con, để các bạn hữu được tuyển chọn của Cha Con Ta được an ủi trong những đau khổ của họ, được tôn vinh bằng những phần thưởng cao quí, bất cứ khi nào họ tự hạ mình chịu cũng những đoạ đày như thế”.

Chúa nói với Thánh Giá: “Thánh Giá yêu dấu! Đến bao giờ ngươi mới đón nhận Ta trong cánh tay ngươi? Ôi những sỉ nhục ngọt ngào! Khi nào các ngươi mới phủ trên Ta để chiến thắng sự chết qua những đau khổ của thân xác hoàn toàn tinh tuyền của Ta? Hỡi những đau đớn, sỉ nhục đê hèn, đánh đập, mão gai, hành hạ đoạ đày, sự chết, hãy đến với Ta, Ta ước ao ôm ấp các ngươi; hãy vâng nghe lời Ta đón mời vì Ta hiểu rõ giá trị các ngươi. Nếu thế gian sợ ghét các ngươi, Ta trông chờ các ngươi. Nếu thế gian khinh miệt các ngươi vì sự ngu đần của nó, Ta, Đấng là chân lý và khôn ngoan, yêu thương ấp ủ các ngươi. Nào các ngươi hãy đến với Ta, vì khi hoan nghênh đón tiếp các ngươi, Ta đề cao các ngươi trong tư cách Ta là Thiên Chúa thực, sẵn sàng xóa mọi dấu vết tội lỗi khỏi các ngươi và tất cả những ai ôm ấp các ngươi. Hỡi những đau đớn, hãy đến với Ta, đừng làm Ta thất vọng; đừng chú ý tới uy quyền Thiên Chúa toàn năng của Ta, Ta cho phép các ngươi tác động toàn lực trên nhân tính của Ta, các ngươi sẽ không bị Ta khước từ hoặc khinh ghét như loài người từ chối ghét bỏ. Nếu loài người nhìn thấy Thiên Chúa thực, Đấng tạo dựng chúng, Thầy chí thánh và Cha của chúng, chịu sỉ nhục cùng độ, chịu đánh đập, bị hành hạ nhục nhã và chết trần truồng trên Thánh Giá, loài người sẽ hiểu sự sai lầm của chúng, sẽ coi là vinh dự được theo Thiên Chúa bị đóng đanh của họ.”

Tác giả không thể nào diễn tả xứng đáng tất cả các tư tưởng và cảm xúc của Mẹ Maria trong buổi từ biệt Nazareth, những lời cầu nguyện Mẹ Maria dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu, những đàm thoại yêu thương và đau buồn với Con chí thánh. Điều làm Mẹ đau lòng nhất là Mẹ không thể ngăn cản những đau khổ của Chúa, hoặc ít nhất được cùng chết với Chúa. Những đau buồn này của Mẹ Thiên Chúa vượt quá những đau khổ tất cả các thánh tử đạo đã hoặc sẽ chết vì yêu Chúa cho tới tận thế. Với lòng trí cùng tâm tình như thế, Chúa Cứu Thế và Mẹ Maria giong ruổi từ Nazareth qua Galilea tới Jerusalem. Vì thời điểm chấm dứt những vất vả của Chúa để cứu chuộc nhân loại đã gần tới, số phép lạ Chúa làm gia tăng nhiều. Sau khi mừng lễ Nhà Tạm, Chúa Cứu Thế vất vả giảng dạy ở Judea, chờ cho tới thời điểm Thiên Chúa Cha ấn định hiến mình làm hy lễ.

Chúa Cứu Thế tiếp tục làm nhiều phép lạ ở Judea. Trong số các phép lạ này là Chúa được hai chị em bà Martha và Maria mời tới Bethania cho ông Lazaro sống lại. Vì phép lạ này xảy ra quá gần Jerusalem, lời tường thuật về phép lạ này được loan truyền mau lẹ khắp thành phố này. Các tư tế và biệt phái, tức tối khó chịu vì phép lạ này, đã họp hội đồng (Gioan 9:17) quyết định cái chết của Chúa Cứu Thế và truyền cho bất cứ ai biết Chúa ở đâu phải báo cáo với họ; vì sau khi ông Lazaro sống lại, Chúa Giêsu tạm nghỉ tại thị trấn Ephrem, chờ tới ngày Lễ Vượt Qua. Khi thời điểm mừng lễ Vượt Qua bằng chính Cuộc Khổ Nạn tới gần, Chúa xuất hiện công khai cùng với mười hai Tông Đồ. Chúa nói riêng với các ông rằng lúc này các ông phải chuẩn bị sẵn sàng để đi Jerusalem, nơi đó Con người (chính Chúa) sẽ bị nộp cho các trưởng giáo và biệt phái, bị bắt trói như kẻ tội tù, bị đánh đập, bị hành hạ cho tới chết trên Thánh Giá (Mt 20:18). Trong khi đó các tư tế canh xét cẩn mật để tìm Chúa trong số những người đến mừng Lễ Vượt Qua. Sáu ngày trước đó Chúa lại viếng Bethania, nơi Chúa đã cho ông Lazaro sống lại, và được hai chị em bà Martha và Maria thết đãi. Trong số những người ngồi cùng bàn với Chúa, với Mẹ Maria và các môn đệ, là ông Lazaro, người đã được Chúa cho sống lại vài ngày trước đó.

Lúc bình minh ngày thứ Năm, áp ngày Khổ Hình Tử Nạn, theo lời Chúa Cứu Thế mời, Đức Hiền Mẫu Maria rất thánh tới quì nơi chân Chúa, Mẹ nói: “Chúa và Thầy của mẹ, xin hãy nói đi, tôi tớ Chúa đang lắng nghe.” Nâng Mẹ Maria lên, Chúa nói với Mẹ: “Thưa Mẹ của Con, bây giờ đã tới thời điểm được sự khôn ngoan của Thiên Chúa Cha hằng hữu ấn định để hoàn thành công cuộc cứu chuộc và phục hồi cho nhân loại, mà do ý muốn cực thánh của Ngài ấn định đặt trên vai Con phải vác. Thật là chính đáng Chúng Ta, Mẹ và Con, vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha, như Mẹ Con Ta vẫn hằng tận hiến thi hành. Mẹ là Mẹ thực của Con, xin Mẹ cho phép Con chịu khổ hình và chết. Xin Mẹ bằng lòng cho phép Con nạp mình cho kẻ thù Con để tuân theo thánh ý Thiên Chúa Cha. Con đã nhận được từ Mẹ hình hài con người biết đau khổ và chết mà qua đó Con sẽ chịu khổ hình, chịu chết để cứu chuộc thế giới, đền bù phép công thẳng Thiên Chúa, Con xin Mẹ vui lòng đồng công với Con trong công trình cứu độ đời đời. Mẹ đã tự nguyện ưng thuận nhận việc nhập thể của Con, bây giờ Con ước muốn Mẹ cũng bằng lòng việc Con chịu Khổ Hình và Chết trên Thánh Giá. Bây giờ Mẹ tự nguyện hy sinh hiến dâng Con, mà theo thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu, đây sẽ là phần đền đáp mà Con xin nơi Mẹ vì đã làm cho Mẹ trở nên Mẹ Con. Thiên Chúa Cha đã phái Con, để qua những đau đớn nơi thân xác Con, cứu vớt những con chiên lạc của Ngài là mọi con cái Adong” (Mt 18:11).

Những lời Chúa Cứu Thế xuyên thấu trái tim tột đỉnh yêu thương của Mẹ Maria, đẩy Mẹ vào niềm đau đớn dữ dội, đau đớn quá sức Mẹ từng chịu đựng. Thời điểm khủng khiếp đã tới, thời điểm đó đã được ấn định cho sinh mạng Con cực yêu dấu Mẹ. Mẹ Maria nhìn Chúa Giêsu là Thiên Chúa của Mẹ: Chúa vô cùng trong mọi phẩm chất và trọn lành, là Thiên-Chúa-làm-người thực trong hiệp nhất với Ngôi Lời Thiên Chúa. Mẹ thấy Chúa được thánh hóa, được tung hô khôn tả do sự kết hợp với Thiên Chúa. Mẹ nhớ sự vâng phục Chúa Giêsu đã biểu lộ đối với Mẹ suốt bấy nhiêu năm, những ân sủng Chúa ban cho Mẹ suốt thời gian dài sống bên Mẹ. Mẹ biết rõ chẳng bao lâu nữa Mẹ sẽ bị cướp mất cuộc sống chung hạnh phúc này, bị cướp mất sự đẹp đẽ nơi gương mặt Chúa, mất sự dịu ngọt vô giá của những lời Chúa nói. Mẹ biết sẽ không những chỉ mất tất cả những thứ này cùng một lượt, mà hơn nữa Mẹ sẽ phải nộp Chúa vào tay những kẻ thù ác độc ghê gớm, phải trao Chúa cho những sỉ nhục hành hạ, phải dâng hiến Hy Lễ Đẫm Máu chết trên Thánh Giá. Tất cả mọi ưu tư và cảnh huống này sâu sắc biết chừng nào. Lúc này tất cả đều hiện ra rõ ràng trước mắt, xuyên thấu trái tim hiền từ đầy yêu thương của Mẹ, làm cho trái tim Mẹ đau đớn khôn lường! Nhưng với lòng cao thượng, Mẹ đánh bại nỗi đau thương bất khả kháng này, quì nơi chân Con chí thánh và Thầy của Mẹ, với lòng tôn kính sâu thẳm nhất Mẹ nói:

 

“Lạy Chúa và Thiên Chúa tối cao, Đấng tạo dựng muôn loài, mặc dầu Chúa là Con lòng mẹ, mẹ là nữ tì của Con. Tình thương vô biên của Con chiếu cố đã nâng mẹ từ bụi đất lên địa vị mẹ của Con. Mẹ, một con trùng hèn hạ, nhìn nhận và cảm tạ lòng nhân từ đại lượng của Con bằng việc vâng theo thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu và của Con. Mẹ tự hiến thân mẹ và tuân phục điều làm vui lòng Thiên Chúa Cha, để trong mẹ, cũng như trong Con, thánh ý đáng tôn thờ của Thiên Chúa Cha hằng hữu được chu toàn. Hy lễ lớn lao nhất mẹ có thể dâng là mẹ sẽ không thể chết cùng với Con, số phận đau khổ của chúng ta sẽ không bị đảo lộn. Vì chịu đau khổ trong việc bắt chước Con, liên kết đồng hành với Con sẽ làm dịu bớt rất nhiều những đau đớn của mẹ, tất cả những hành hạ sẽ trở nên ngọt ngào nếu chịu đựng trong liên kết với những thống khổ của Con. Việc Con sẽ chịu mọi hành hạ thống khổ này để cứu độ nhân loại sẽ là niềm an ủi duy nhất đối với những đau đớn của mẹ. Hỡi Thiên Chúa của mẹ, xin hãy nhận hy lễ này của lòng mẹ ước nguyện được chết cùng với Con, hy lễ do việc mẹ còn tiếp tục sống, trong khi Con, Con Chiên cực tinh khiết vô tội và là hình ảnh trung thực bản thể Thiên Chúa Cha hằng hữu, phải chịu chết (Dt 1:3). Xin Con cũng nhận những quằn quại buồn phiền của mẹ khi nhìn thấy sự ác độc vô nhân đạo nơi những kẻ thù đối với Ngôi Vị cao cả của Con.

“Hỡi các tầng trời các tinh tú và mọi tạo vật tại các nơi đó, hỡi các thiên thần trên trời, hỡi các thánh Tổ và các Tiên Tri, xin phụ giúp tôi than khóc Cái Chết của Con cực yêu dấu của tôi, Đấng đã tạo dựng các người. Tất cả hãy cùng tôi than khóc sự khốn khổ của nhân loại mà họ là nguyên nhân Cái Chết này, khóc những người không hưởng được các hồng ân cao cả Ơn Cứu Chuộc, nhưng bị mất sự sống đời đời vốn được chuộc bằng giá vô cùng! Ôi bất hạnh thay các người, những kẻ được biết trước sẽ bị luận phạt đời đời! Và hỡi những người được tiền định hạnh phúc, những người sẽ giặt áo trong máu Con Chiên (Kh 7:14), cácngười, những kẻ biết cách hưởng phúc lộc nhờ Hy Lễ cực thánh này, hãy ca tụng Thiên Chúa toàn năng!

“Hỡi Con và niềm hoan lạc linh hồn mẹ, xin ban ơn can đảm chịu đựng kiên trì và sức mạnh cho mẹ đau khổ của Con. Xin thâu nhận mẹ làm môn đệ, làm bạn đồng hành của Con, để mẹ có thể dự phần những Khổ Hình và Thánh Giá của Con, để Thiên Chúa Cha hằng hữu vui lòng nhận hy lễ mẹ kết hợp với Hy Lễ của Con.”

Được Chúa Cứu Thế cho phép, Mẹ Maria xin thêm một điều nữa: “Con cực yêu dấu của linh hồn mẹ, ánh sáng mắt mẹ, mẹ không xứng đáng xin Con những điều mẹ ước nguyện từ đáy linh hồn mẹ. Nhưng Con là Chúa, là sự sống mẹ, lòng cậy trông của mẹ, trong niềm tín thác này, nếu vui lòng Con, xin cho mẹ dự phần Nhiệm Tích Mình và Máu thánh vô cùng cao siêu của Con. Con đã quyết định lập Phép Thánh Thể làm bằng chứng bảo đảm vinh quang của Con. Khi rước Con trong Nhiệm Tích Thánh Thể, trái tim mẹ được chia sẻ những hiệu lực Nhiệm Tích mới đáng ca ngợi này. Lạy Chúa, mẹ biết rõ không một thụ tạo nào có thể xứng đáng được hưởng hồng ân vô cùng cao siêu vượt trên mọi kỳ công cao cả của Con. Để xin Con ban ơn đó cho mẹ, mẹ không có thứ gì khác để dâng ngoại trừ chính Con và tất cả công nghiệp vô cùng của Con. Nếu những công nghiệp nhờ nhân tính mà Con đã nhận từ lòng mẹ tạo cho mẹ đặc ân nào đó, xin cho đặc ân này không cản trở việc ban chính mình Con cho mẹ trong Nhiệm Tích Thánh Thể, làm cho mẹ nên của Con trong sự chiếm hữu mới này; việc này phục hồi cho mẹ tình thân ái dịu ngọt nhất của Con. Từ khi Con cho mẹ biết quyết định bất khả chuyển dịch việc Con ở lại trong Giáo Hội dưới hình bánh và rượu được thánh hiến, Mẹ đã chuẩn bị tất cả mọi ước nguyện và nỗ lực để xứng đáng tiếp rước sự Hiệp Thông chí thánh này. Vì thế hỡi Con, Chúa và Thiên Chúa của mẹ, Con hãy trở lại nơi cư ngụ đầu tiên mà Con đã tìm thấy nơi mẹ yêu dấu và nô lệ của Con, người đã được chuẩn bị để tiếp nhận Con bằng việc giữ cho không vương một tì vết tội lỗi. Khi đó mẹ sẽ đón rước trong mẹ nhân tính, mà mẹ đã hiệp thông với Con từ máu mẹ, như thế mẹ Con Ta sẽ hiệp nhất trong liên kết khắng khít và canh tân. Viễn ảnh này đốt cháy trái tim mẹ với tình yêu thương nồng nàn cực độ, ước chi mẹ không bao giờ chia lìa Con, Đấng là Thiên Chúa muôn thuở và Yêu Dấu của linh hồn mẹ.”

Chỉ ít phút trước giờ ngọ ngày thứ Năm Tiệc Ly, Chúa Cứu  Thế, cùng với Mẹ Maria cực yêu dấu và sầu bi, ra đi đem theo các Tông Đồ tới Jerusalem. Ngay lúc khởi đầu, Chúa ngước mắt nhìn lên Thiên Chúa Cha hằng hữu dâng lời cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa Cha hằng hữu và Thiên Chúa của Con, vâng theo thánh ý Cha bây giờ Con đi chịu khổ hình và chết để giải phóng nhân loại, anh em Con và thụ tạo của tay Cha. Con nạp mình để cứu chuộc họ để qui tụ những người đã bị phân tán chia ly vì tội Adong.”

LỜI MẸ MARIA

 

Con của Mẹ, vì linh hồn con đã được trang bị những ơn soi sáng đặc biệt, Mẹ kêu gọi và mời con lần nữa đắm mình trong biển mầu nhiệm gồm trong Khổ Hình và Tử Nạn của Con chí thánh Mẹ. Con hãy vận dụng mọi khả năng trái tim và linh hồn con để xứng đáng hiểu biết tối thiểu, suy gẫm những khổ nhục và buồn phiền Con Thiên Chúa Cha hằng hữu phải chịu trên Thánh Giá; suy gẫm những hành động và những đau đớn của Mẹ liên kết với Thống Khổ Cay Đắng của Chúa. Con của Mẹ, Mẹ ước ao con nghiên cứu, học hỏi sự khôn ngoan này, vốn từng bị loài người quá sức dửng dưng, để có thể theo Đấng Yêu Dấu của con, bắt chước Mẹ và Thầy của con. Con hãy ghi chép lại và cảm hiểu thiệt sâu xa tất cả những điều Mẹ dạy con về các mầu nhiệm này. Con phải tự mình xa lánh mọi tình cảm loài người, thế tục và của riêng con, để con hoàn toàn tự do theo chân Chúa Cứu Thế và Mẹ.

Mẹ cũng ước mong con đánh giá đúng mức việc người ta khinh thường chểnh mảng không năng rước Thánh Thể, rước Thánh Thể mà thiếu chuẩn bị và thiếu lòng mộ mến nồng nàn là tội ác kinh khủng đối với Chúa, đối với Mẹ và các thánh. Mẹ đã cho con thấy các việc Mẹ làm trong dịp này, Mẹ chuẩn bị ròng rã bao nhiêu năm để rước Con cực thánh Mẹ trong Nhiệm Tích Thánh Thể và các Nhiệm Tích khác, để con ghi lại lời cảnh cáo, lời giáo huấn và gương cho nhân loại soi mà xấu hổ vì cách họ cư xử.

Mặc dầu Mẹ không vương một chút dấu vết tội lỗi nào và tràn đầy mọi ân sủng, Mẹ đã bằng những hành động yêu mến nồng cháy, khiêm nhượng và biết ơn, tìm kiếm để gia tăng sự xứng đáng đối với Ơn trọng đại này. Phần con và các con cái khác của Giáo Hội, những người hàng ngày hàng giờ mắc thêm tội lỗi mới, phải thi hành những nỗ lực nào để xứng đáng với vẻ đẹp của Thiên Tính và nhân tính của Con cực thánh Mẹ? Trong ngày chung phán, những người đam mê tìm kiếm phù vân trần thế có thể đưa ra lời bào chữa nào vì tội đã khinh miệt tình yêu khôn sánh và hồng ân này luôn hiện diện trong Giáo Hội, sẵn sàng tuôn tràn đầy cho họ muôn vàn ân sủng của Chúa? Con cũng hãy sửng sốt vì sự điên khùng này của loài người như các thiên thần đã sửng sốt ngỡ ngàng, và con hãy tự giác để khỏi vấp phạm cũng điều sai lầm đó.

 

CHƯƠNG 3

 

TIỆC LY

Chúa Kitô ăn bữa tối sau cùng với các môn đệ theo phong tục Do Thái: mọi người nằm dài trên sàn nhà chung quanh chiếc bàn cao khoảng nửa thước. Nhưng sau khi rửa chân các Tông Đồ, Chúa yêu cầu dọn chiếc bàn khác cao hơn, như bàn ăn ngày nay. Do cách sắp xếp này, Chúa muốn chấm dứt những bữa ăn tối theo luật cũ có tính cách hình bóng để thiết lập Bữa Ăn mới theo Luật Ân Sủng. Từ đó trở đi Chúa muốn các mầu nhiệm thánh hiến được cử hành trên bàn cao như được thực hiện trong Giáo Hội từ thời kỳ đầu tới nay. Chiếc bàn này được phủ vải dày. Trên bàn có đĩa và chén. Chén này có chân (chalice) và lớn đủ để chứa rượu nho. Tất cả những thứ này được chuẩn bị theo ý Chúa Cứu Thế. Ông chủ nhà, được ơn linh hướng, đã dâng ba chiếc bình lớn bằng đá quí, hình như bằng ngọc lục bảo. Về sau các thánh Tông Đồ, mỗi khi có cơ hội, thường dùng các bình này khi dâng Thánh Lễ. Chúa Giêsu ngồi ở bàn này cùng với các tông đồ, Chúa yêu cầu đặt một ít bánh không men và rượu nho trên bàn, kế đó Chúa rót rượu đủ để chuẩn bị lập máu thánh.

Thầy hằng sống nói với các Tông Đồ những lời yêu thương nồng cháy. Mặc dầu lời Chúa nói luôn xuyên thấu trái tim, những lời Chúa nói lần này tựa như lửa từ đám cháy lớn của lòng yêu thương đốt cháy tâm hồn người nghe. Lần nữa Chúa cho các Tông Đồ và môn đệ thấy rõ những mầu nhiệm cao cả nhất về Thiên Tính và nhân tính của Chúa, và những việc của Ơn Cứu Chuộc. Chúa đổ trên các Tông đồ và môn đệ hiện diện ơn bình an và yêu thương; Chúa để lại lời bảo đảm những ơn này trong các mầu nhiệm sắp được cử hành. Chúa nhắc các ông nhớ nếu các ông thương yêu nhau, các ông sẽ được Thiên Chúa Cha hằng hữu yêu thương bằng chính tình yêu Ngài yêu thương Chúa. Chúa Giêsu cho các ông hiểu lời hứa này được chu toàn trong việc Chúa chọn các ông để thiết lập Giáo Hội mới và Luật Ân Sủng. Chúa canh tân trong tâm trí các ông ơn soi sáng liên quan tới địa vị cao cả, sự tuyệt vời và các đặc quyền của Đức Hiền Mẫu Maria.

Ngay sau đó, Chúa Kitô cầm bánh trong tay cực thánh, thầm lặng, xin được Thiên Chúa Cha hằng hữu ưng thuận rằng bây giờ và mãi mãi đến muôn đời nhờ những lời Chúa sắp xướng lên, mà về sau được nhắc lại trong Giáo Hội, Chúa sẽ thực sự và trọn vẹn hiện diện trong hình bánh, chính Chúa vâng phục những lời thánh hiến này. Khi dâng lời cầu nguyện, Chúa Giêsu ngước nhìn lên trời bằng cử chỉ uy nghi tuyệt vời, truyền sang cho các Tông Đồ và môn đệ, cho các thiên thần và Đức Trinh Mẫu Maria lòng kính thờ sâu thẳm nhất. Chúa đọc lời dâng hiến trên bánh, đổi bản chất bánh trở nên bản chất thực thân xác Chúa; tiếp theo đó Chúa đọc lời dâng hiến trên rượu nho, đổi rượu thành máu Chúa thực. Để đáp lại những lời dâng hiến này, tiếng Thiên Chúa Cha phán nghe được rõ ràng: “Đây là Con Yêu Dấu của Ta, Ta hài lòng vì Con, Ta sẽ giữ sự hài lòng của Ta cho tới tận thế; và Con Ta sẽ ở với loài người mọi ngày suốt thời gian lưu đày của chúng.” Cũng một cách như thế, lời này được Chúa Thánh Thần xác nhận. Nhân tính cực thánh Chúa Kitô trong Ngôi Vị Ngôi Lời đã thờ lạy thẳm sâu Thiên Tính của Chúa trong Nhiệm Tích Mình và Máu Chúa. Trong phòng cầu nguyện, Đức Trinh Mẫu Maria phủ phục trên đất, và thẳm sâu tôn kính thờ lạy Con của Mẹ trong Phép Thánh Thể. Cũng khi đó, các thiên thần hộ vệ Mẹ Maria, tất cả các thiên thần trên thiên đàng, ở giữa các thiên thần là các tiên tri Enoch và Elias, cũng quì thờ lạy Chúa trong Phép Thánh Thể. Riêng hai vị tiên tri đã nhân danh riêng các ngài, nhân danh các thánh Tổ và các thánh Tiên Tri của Luật Cũ thờ lạy Chúa trong Phép Thánh Thể.

Tất cả các Tông Đồ và môn đệ, trừ kẻ phản bội, đều tin Phép Thánh Thể, thờ lạy Thánh Thể với lòng khiêm nhượng và cực kỳ tôn kính tùy theo điều kiện riêng từng người. Chúa Kitô, Vị Thượng Tế cao cả, đưa cao Mình và Máu Chúa đã được hiến tế để tất cả mọi người hiện diện trong Thánh Lễ đầu tiên này đặc biệt cung kính thờ lạy. Khi Mình và Máu cực châu báu Chúa được dâng lên cao, Đức Trinh Mẫu Maria, thánh Gioan, tiên tri Enoch và Elias, được đặc ân thấu triệt mầu nhiệm Chúa hiện diện trong hình bánh và rượu nho. Trong cả hai hình thức này sự hợp nhất bất khả ly của Linh Hồn với Thân Xác và Máu Chúa Kitô hằng sống đích thực hiện diện, Ngôi Vị của Ngôi Lời hợp nhất với Ngôi Vị Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Phép Thánh Thể, Phép Thánh Thể chứa đựng nhân tính toàn hảo của Chúa Kitô cùng với Ba Ngôi Thiên Chúa. Tất cả các mầu nhiệm này được Mẹ Maria và các vị khác hiểu tùy theo mức độ riêng mỗi người. Các ngài cũng hiểu hiệu lực tính của các lời dâng hiến lúc này được phú cho bản tính siêu nhiên. Từ đó về sau, ngay khi những lời đó, được bất cứ người nào có chức tư tế đích thực đọc lên trên bánh và rượu hợp lệ với ý định thực hiện việc Chúa Giêsu làm lúc này, (những lời đó) làm cho bánh trở nên Mình Chúa Kitô và rượu nho trở nên Máu Chúa Kitô, làm cho các chất liệu bánh và rượu nho đó tồn tại theo cách mới mà không có chủ thể riêng của chúng nữa. Các ngài thấy sự thay đổi này xảy ra hết sức chắc chắn không thể sai lầm, trời đất có thể vỡ tung ra từng mảnh chứ hiệu lực các lời (truyền phép) thánh hiến này không thể nào thất bại khi được đọc lên bởi một thừa tác viên có chức linh mục của Chúa Kitô.

Do một thị kiến đặc biệt, Mẹ Maria cũng hiểu cách nào Thánh Thể Chúa Kitô ẩn dưới hình bánh và rượu nho mà không làm thay đổi hình thức bề ngoài những thứ đó hoặc biến đổi nhân tính được thánh hiến. Thánh Thể không thể lệ thuộc những vật chất đó, mà những vật chất đó cũng không thể nào là hình thể của thân xác được. Bánh miến và rượu nho vẫn còn nguyên sức giãn nở và phẩm chất của các chất liệu này như trước. Các thành phần của bánh và rượu vẫn còn nguyên vị thế sau khi đã được thánh hiến. Thánh Thể Chúa hiện diện vô hình, cũng vẫn giữ nguyên tầm vóc bình thường chứ không trộn lẫn các cơ phận. Trọn vẹn thánh thể Chúa ở trong khắp cả toàn tấm bánh và ở trong từng mẩu nhỏ bánh thánh, mà không bị bánh thánh làm cho lệch lạc hình hài, Thánh Thể Chúa cũng không làm méo mó hình bánh. Vì sự co giãn của Thánh Thể Chúa không tương quan với hình bánh và rượu nho, mà bánh miến và rượu nho cũng không lệ thuộc vào Thánh Thể Chúa để hiện hữu. Vì thế bánh miến và rượu nho có thể thức khác nhau về thực chất, Thánh Thể Chúa thấm nhập các chất liệu đó mà không bị chút cản trở.

Tác giả còn ngỡ ngàng thán phục lớn lao hơn nữa sau khi Chúa Giêsu nâng cao Thánh Thể để mọi người thờ lạy, đã chính tay cực thánh bẻ Bánh Thánh Thể ra, chính Chúa trước tiên ăn Thánh Thể vì Chúa là Linh Mục Đầu Tiên và Thủ Lãnh mọi linh mục. Nhìn nhận chính mình là loài người, thấp hèn đối với Thiên Tính, mà bây giờ Chúa rước lấy Thiên Tính gồm trong chính Mình và Máu đã được dâng hiến của Chúa. Để bằng cách này, Chúa không những chỉ dạy chúng ta lòng tôn kính phải có khi rước Thánh Thể, mà Chúa cũng cho chúng ta thấy Chúa buồn phiền chừng nào vì sự táo bạo cả gan và tính tự phụ của nhiều người khi rước và trao thánh thể Chúa. Các hiệu lực của Thánh Thể nơi chính Chúa Kitô hết sức lạ lùng và siêu nhiên. Tức khắc những ân vinh quang chảy chan hòa trong thân xác Chúa y hệt trên núi Tabor, mặc dù những hiệu lực việc Chúa hiển lộ Sự Cả Sáng Uy Nghi lần này chỉ một mình Mẹ Maria được chứng kiến; cũng tỏ một phần cho thánh Gioan, tiên tri Enoch và Elia. Đây là niềm an ủi cuối cùng Chúa để cho nhân tính của Chúa vui hưởng trong cuộc đời trần thế. Từ lúc đó cho tới khi Chịu Chết, Chúa khước từ mọi sự làm khuây khoả như thế. Đức Trinh Mẫu Maria, do một thị kiến đặc biệt, cũng hiểu sự huyền nhiệm việc Chúa Kitô đã rước chính Chúa trong Phép Thánh Thể và Thánh Thể hiện diện trong Trái Tim Thiên Chúa của Chúa. Tất cả những điều này tạo nên lòng yêu mến khôn lường nơi trái tim Mẹ Maria.

Trong khi rước Thánh Thể và Máu của chính mình, Chúa Kitô chúc tụng Thiên Chúa Cha hằng hữu, hiến dâng chính Chúa trong Phép Thánh Thể làm hy lễ cứu chuộc nhân loại. Chúa lấy một miếng bánh đã được dâng hiến trao cho Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel đem tới cho Mẹ Maria. Nhờ đặc ân như thế được ban cho một trong các thiên thần, các thiên thần tự coi là được đền bù xứng đáng việc không được hưởng chức linh mục vì đã nhường cho loài người. Đặc ân chỉ một vị trong toàn thể các thiên thần được cầm thánh thể Chúa và Thiên Chúa đích thực của mình đã làm cho các thiên thần hết sức vui mừng. Mắt đẫm lệ, Mẹ Maria chờ đợi Thánh Thể Chúa Kitô. Khi Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel và vô số thiên thần khác tới nơi Mẹ Maria, sau Con cực thánh, Mẹ là người đầu tiên rước Thánh Thể, theo gương Con cực thánh, Mẹ tôn kính thờ lạy tột độ thẳm sâu và cực kỳ nồng nàn. Thánh Thể Chúa ngự trong ngực bên tả phía trên trái tim Mẹ Maria, chẳng khác gì ở thánh điện chính thống và ngai tòa Thiên Chúa Tối Cao. Tại đó Bí Tích Thánh Thể nhiệm mầu còn nguyên vẹn cho tới sau khi Chúa Phục Sinh, khi thánh Phêrô cử hành Thánh Lễ đầu tiên và cử hành mầu nhiệm Thánh Thể theo lời Chúa di trối.

Sau khi biệt đãi Mẹ Maria như thế rồi, Chúa Cứu Thế phân chia bánh thánh cho các Tông Đồ (Lc 22:17), truyền cho các ông chia nhau ăn. Qua lệnh truyền này Chúa phong cho các Tông Đồ chức Linh Mục. Các Tông Đồ thi hành chức vụ đó bằng việc ban thánh thể Chúa cho chính mình. Các Tông Đồ hết sức kính trọng khi chia nhau bánh thánh thể Chúa, các ngài thờ lạy Mình và Máu Chúa các ngài đang rước lấy. Do quyền lực của chức linh mục, các Tông Đồ được làm cho trở nên những người xây dựng Giáo Hội và hưởng sự biệt đãi hơn mọi người khác (Ephesô 2:20). Khi đó thánh Phêrô, do lệnh Chúa truyền, đã trao hai miếng Bánh Thánh Thể cho hai vị Thánh Tổ Enoch và Elia. Được rước Thánh Thể Chúa Kitô làm cho hai vị Thánh Tổ này vui mừng khôn tả. Hai ông lại được khuyến khích trong niềm hy vọng hưởng thị kiến hạnh phúc, mà đối với hai ông, đã bị trì hoãn quá nhiều thế hệ; hai ông được tăng thêm sức mạnh để sống tiếp trong niềm hy vọng này cho tới tận thế. Sau khi dâng lên Đấng Tối Cao những lời cảm tạ nồng nàn khiêm tốn vì hồng ân này, hai ông được các thiên thần đưa trở lại nơi các ông ở. Chúa Giêsu làm Phép Lạ này để cam kết là chính Chúa gom các luật tự nhiên và luật thành văn vào với các phúc lợi của việc Ngôi Lời nhập thể, Ơn Cứu Chuộc và sự sống lại chung cho mọi người; vì tất cả mọi mầu nhiệm này đều được bao hàm trong Nhiệm Tích Thánh Thể. Do việc ban Thánh Thể Chúa cho hai vị Thánh Tổ Enoch và Elia, hai vị vẫn còn sống trong thân xác phàm trần, Chúa cho thấy các hồng ân này được rộng ban cho cả loài người, đúng như khi loài người hiện hữu dưới luật tự nhiên và luật cũ, cho tất cả các thế hệ nối tiếp bao gồm trong Luật Ân Sủng Mới, mà các Tông Đồ đứng đầu.

 LỜI MẸ MARIA

 

Con của Mẹ! Ước gì các tín hữu Công Giáo mở rộng trái tim chai đá của họ để đạt được sự hiểu biết đích thực về hồng ân thánh hiến và huyền diệu của Phép Thánh Thể! Ước gì họ tự tách mình ra khỏi và từ bỏ các hướng chiều trần thế, kiềm chế các đam mê, mặc lấy Đức Tin sống động để, nhờ ơn Chúa soi sáng, tìm hiểu niềm hạnh phúc vô biên của việc chiếm hữu Thiên Chúa hằng hữu trong Phép Thánh Thể; để do việc rước Thánh Thể và liên tiếp hiệp thông, các tín hữu có thể tham dự đầy đủ hiệu lực Bánh Bởi Trời! Ước gì họ đánh giá xứng đáng hồng ân cao quí này, nếm hương vị ngọt ngào của nó, và chia sẻ quyền năng tiềm ẩn của Thiên Chúa Toàn Năng! Khi đó họ sẽ không thiếu thốn thứ gì ở đời lưu đày này. Trong Phép Thánh Thể, thời đại hạnh phúc của Luật Ân Sủng, loài người không còn một lý do nào để kêu ca về sự yếu đuối và các đam mê của họ; vì nơi Bánh Bởi Trời này người ta có sẵn trong tay sức mạnh siêu nhiên. Bất chấp họ bị ma quỉ cám dỗ hoặc đàn áp, nhờ việc rước Thánh Thể thường xuyên, họ có khả năng chế ngự ma quỉ cách vẻ vang. Các tín hữu phải tự trách mình về tất cả những nghèo nàn vất vả của họ, vì họ không đếm xỉa gì tới Nhiệm Tích này của Thiên Chúa, họ cũng không lợi dụng các sức mạnh siêu nhiên được Con cực thánh Mẹ chuẩn bị sẵn cho họ. Mẹ nói thực với con, con rất yêu quí của Mẹ, Lucifer và các ma quỉ hết sức khiếp sợ Phép Thánh Thể, đến mức việc tới gần Phép Thánh Thể gây ra cho chúng những đau đớn khủng khiếp hơn là ở trong chính hỏa ngục. Chúng bất đắc dĩ và miễn cưỡng phải vào thánh đường để cám dỗ một linh hồn, vì chúng phải chịu những đau đớn cùng cực, đặc biệt tại những nơi thánh (cung thánh) và trước Thánh Thể. Chỉ có lòng giận dữ chống lại Thiên Chúa và muốn tiêu diệt các linh hồn mới có thể làm cho chúng gồng mình chịu sự hành hạ trước sự hiện diện đích thực của Chúa trong Phép Thánh Thể.

Khi Thánh Thể Chúa được rước đi qua các đường phố, ma quỉ thường vội vã chạy trốn tán loạn, chúng không dám tới gần những người đi theo Chúa (kiệu Chúa trong mình hoặc trên tay). Nếu do việc những người này tiếp xúc lâu ngày với Phép Thánh Thể mà họ không ý thức, ma quỉ xúi giục họ quên đi sự tôn kính phải có đối với Chúa. Vì thế ma quỉ tận lực cám dỗ các tín hữu khi họ ở trong nhà thờ, vì chúng biết có thể làm cho Chúa đau đớn biết chừng nào. Chúa, Đấng mà trong tình yêu thánh hiến, đang ở đó chờ đợi để thánh hoá nhân loại và nhận sự đền đáp lại tình yêu dịu ngọt nhất vô tận của Chúa. Vì thế con cũng có thể hiểu sức mạnh của những người dọn mình ăn bánh các thiên thần cách sốt sắng xứng đáng, và những linh hồn phấn đấu giữ mình trong sự thuần khiết này cho tới khi rước Thánh Thể lần kế tiếp. Vì thế ma quỉ không ngừng cảnh giác trong việc đẩy các linh hồn trở lại tình trạng quên lãng hững hờ, để Lucifer không bị bắt buộc phải đương đầu với những khí giới uy lực như thế trong tay loài người. Con hãy ghi khắc lời nhắc nhở này nơi trái tim con, vì mặc dầu con bất xứng, Chúa đã ban cho con ơn được rước Thánh Thể hàng ngày, bằng mọi cách có thể con hãy tìm giữ mình trong tâm tình tốt lành từ khi rước Thánh Thể lần này tới lần sau.

Chúa và Mẹ muốn rằng với thanh gươm này con chiến đấu những trận chiến đấu của Thiên Chúa Toàn Năng nhân danh Giáo Hội chống lại kẻ thù vô hình. Trong thời đại chúng ta, ma quỉ không ngừng chồng chất thống khổ và buồn phiền trên Giáo Hội, trong khi đó chẳng ai an ủi hoặc để tâm tới (Thren. 1:10). Con hãy khóc và để cho trái tim con tan nát buồn phiền vì lý do đó. Trong khi Đấng Phán Xét Tối Cao và Công Chính bị làm cho hết sức thịnh nộ đối với các tín hữu Công Giáo vì họ xúc phạm Phép Công Thẳng của Ngài bằng những vi phạm không thể lường và liên tục, không thấy một ai suy xét và cân nhắc sự tổn thất kinh khủng, cũng không một ai tìm linh dược điều trị là việc rước Thánh Thể với trái tim thống hối khiêm nhượng; cũng chẳng có ai xin Mẹ cầu bầu cho.

Mặc dầu phần đông con cái Giáo Hội mắc tội này, nhưng những người đáng bị khiển trách hơn cả là các linh mục bất xứng và ác độc. Do sự bất kính các linh mục đó đối với Phép Thánh Thể làm cho nhiều tín hữu Công Giáo bị lôi kéo theo coi thường Chúa trong Nhiệm Tích Thánh Thể. Nếu người ta thấy các linh mục đến với các Mầu Nhiệm của Thiên Chúa với lòng kính trọng và rung động lành thánh, người ta học đối xử và rước Chúa cũng cách như thế. Những ai làm vinh danh Chúa sẽ được sáng chói trên thiên đàng như mặt trời giữa các tinh tú. Vinh quang nhân tính của Con cực thánh Mẹ sẽ thưởng lại bằng mức độ đặc biệt cho những ai đã cư xử khéo léo đối với Chúa trong Phép Thánh Thể, đã rước Chúa với hết lòng tôn kính. Nhưng việc này sẽ không xảy ra cho những người không năng đến Bàn Thánh với lòng sốt mến. Hơn nữa những người sốt mến sẽ mang trong trái tim họ những ghi khắc đẹp đẽ nhất, tỏ ra họ là những nhà tạm xứng đáng nhất để Chúa ngự. Đây sẽ là phần thưởng vĩ đại dành cho họ, là nguồn hoan lạc ngỡ ngàng đối với các thiên thần và mọi thần thánh. Họ cũng sẽ được hưởng hồng ân đặc biệt chìm đắm trong mầu nhiệm Chúa hiện diện trong Nhiệm Tích Thánh Thể, hiểu được tất cả những sự lạ lùng khác tiềm ẩn trong đó. Đây là một đặc ân hết sức cao cả, đến độ chỉ một điều này thôi cũng đủ là hạnh phúc vĩnh cửu của họ, cho dù không có sự hoan lạc nào khác trên thiên đàng.

Con yêu quí của Mẹ, Mẹ ước mong con cũng nghe từ chính miệng Mẹ nói về những tình cảm của Mẹ khi còn ở trần thế Mẹ đã chuẩn bị rước Thánh Thể Chúa như thế nào. Để con có thể hiểu rõ hơn những điều Mẹ nói, có thể phản ánh mọi điều Mẹ đã dạy con viết về những hồng ân Mẹ được, các công nghiệp và những vất vả của Mẹ khi còn ở trần gian. Mẹ được giữ cho không mắc tội nguyên tổ và, ngay giây phút bẩm thai, Mẹ đã nhận được sự hiểu biết và thị kiến Thiên Chúa, như con đã thường ghi lại. Mẹ hiểu biết hơn tất cả các thánh. Mẹ vượt qua các thiên thần sốt mến cao cấp nhất về tình yêu mến. Mẹ không bao giờ mắc phải lỗi lầm nào. Mẹ luôn luôn thực hành mọi thánh đức với mức độ anh hùng cả trong những điểm nhỏ bé nhất về các thánh đức. Mẹ cũng cao cả hơn tất cả các thánh về sự trọn lành tột đỉnh. Chủ ý và mục đích mọi việc Mẹ làm đều đáng ca ngợi. Các tính tình và năng khiếu của Mẹ đều cao quí khôn lường. Mẹ bắt chước Con cực thánh Mẹ hết sức cặn kẽ, Mẹ chịu mọi vất vả với lòng trung kiên tột đỉnh. Mẹ chịu đau khổ với lòng nhiệt thành và cộng tác với các việc Chúa làm cách chính xác theo mức độ thích hợp với Mẹ. Mẹ không ngừng phát huy đức yêu thương và đạt được thêm công phúc tuyệt vời. Dẫu vậy, Mẹ tự nghĩ Mẹ đã được ban thưởng lại đầy đủ do việc Mẹ được phép rước Chúa trong Phép Thánh Thể dẫu chỉ một lần. Đúng vậy, Mẹ không tự cho rằng Mẹ xứng đáng hưởng đặc ân này.

Như thế, con hãy suy nghĩ xem tình cảm của con và của tất cả các con cái khác của Adong phải thế nào, khi được phép rước Nhiệm Tích vô cùng thần diệu này. Và nếu chỉ một lần rước Thánh Thể là phần thưởng quá sức dư đầy đối với vị đại thánh hơn hết các thánh, các linh mục và tín hữu phải nghĩ gì khi họ được phép rước Thánh Thể rất thường xuyên? Hãy mở rộng cặp mắt của con trong bóng tối dày đặc và sự mù quáng mà những thứ này chôn vùi loài người chung quanh con. Hãy hướng cặp mắt con về ánh sáng Thiên Chúa để con hiểu các mầu nhiệm này. Con hãy coi mọi việc con làm như không đầy đủ, mọi đau khổ con chịu đều tầm thường, mọi lời con tạ ân đều quá thiếu sót đối với những món nợ con mắc vì đặc ân tuyệt vời như thế sẵn có trong Giáo Hội: Chúa Kitô Con cực thánh Mẹ hiện diện trong Phép Thánh Thể để làm cho các tín hữu nên giàu có. Nếu con không bằng cách đó dâng lời tạ ân vì hồng ân này và các ân sủng khác con đã được, ít nhất con hãy hạ mình xuống như bụi đất, phủ phục trên đất, với tất cả lòng chân thành của trái tim con xưng thú rằng con bất xứng. Hãy làm vinh danh Thiên Chúa Tối Cao, chúc tụng ngợi khen Chúa, luôn luôn giữ mình con xứng đáng rước Chúa và chịu đau khổ của nhiều cuộc tử đạo để đáp lại hồng ân cao cả như thế.

 

CHƯƠNG 4

 

* CHÚA GIÊSUCẦU NGUYỆN TRONG VƯỜN CÂY DẦU;

 

* MẸ MARIA CHIA SẺ MỌI KHỔ HÌNH ĐAU ĐỚN PHIỀN SẦU CỦA CHÚA

Vương quyền Thiên Chúa Cha hằng hữu ủy thác cho Chúa Giêsu được thiết lập vững vàng nơi các mầu nhiệm cực thánh Chúa cử hành tại Nhà Tiệc Ly. Khuya đêm Thứ Năm sau Bữa Tiệc Ly, Chúa Cứu Thế quyết định tiến hành trận chiến kinh hoàng là chịu Khổ Nạn hoàn tất Công Cuộc Cứu Chuộc. Chúa Giêsu chỗi dậy rời khỏi đại sảnh nơi có Bữa Tiệc thánh huyền nhiệm. Mẹ Maria cũng rời khỏi phòng tĩnh tâm đón gặp Chúa. Tại cuộc đối diện này giữa Thiên Chúa hằng hữu và Mẹ Maria, lưỡi gươm đau buồn xuyên thấu trái tim Con và Mẹ, tạo ra sự đau đớn vượt trên mọi sức tưởng tượng của loài người và các thiên thần. Mẹ Maria sầu bi phủ phục nơi chân Chúa Giêsu, thờ lạy Chúa là Thiên Chúa và Chúa Cứu Thế đích thực của Mẹ. Chúa Giêsu nhìn Mẹ Maria bằng vẻ uy nghi Thiên Chúa, đồng thời với tình yêu dạt dào của người Con, và Chúa chỉ nói với Mẹ: “Thưa Mẹ của Con, Con sẽ ở với Mẹ trong sự đau khổ. Mẹ Con Ta hãy chu toàn thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu và việc cứu chuộc nhân loại.” Với trọn trái tim Mẹ, Mẹ Maria dâng mình làm hy lễ và xin Chúa chúc lành. Sau khi được Chúa chúc lành, Mẹ Maria trở lại phòng cầu nguyện, tại dây, do đặc ân Chúa Giêsu, Mẹ Maria thấy tường tận mọi việc xảy ra liên quan đến Con cực thánh. Nhờ đó Mẹ Maria có thể đi theo và đồng công trong mọi việc Chúa làm như được ủy thác cho Mẹ. 

Chủ nhân nhà Tiệc Ly, cũng hiện diện khi Mẹ Con gặp nhau, xúc động nhờ ơn Chúa, đã dâng ngôi nhà và mọi thứ trong nhà cho Mẹ Maria, xin Mẹ sử dụng mọi thứ trong nhà khi Mẹ ở Jerusalem. Với lòng khiêm nhượng cảm tạ, Mẹ nhận lời vị chủ nhà. Hàng ngàn thiên thần hộ vệ Mẹ hiện ra rõ ràng và cùng với một số phụ nữ thánh thiện ở lại với Mẹ.

Chúa Cứu Thế rời khỏi nhà Tiệc Ly cùng với các Tông Đồ và năm Môn Đệ hiện diện khi Chúa cử hành Bữa Ăn mầu nhiệm. Nhưng chỉ có mười hai Tông Đồ đi theo Chúa Giêsu thẳng về hướng núi Cây Dầu ở sát bên ngoài tường thành phía đông Jerusalem. Juda Iscariot, cảnh giác trong âm mưu phản bội để nộp Thầy chí thánh, phỏng đoán Chúa Giêsu có ý cầu nguyện suốt đêm như Chúa thường làm. Đây là cơ hội tốt để nạp Thầy cho những ký lục và biệt phái đồng mưu. Sẵn có ý định tàn khốc khủng khiếp này, hắn đi lùi lại phía sau, để cho Chúa Giêsu cùng với các Tông Đồ khác đi tới. Không bị các Tông Đồ để ý, hắn vội vàng đi tới địa điểm đổ vỡ và hủy diệt chính hắn. Trong lòng Juda Iscariot bất chợt bùng lên cơn rối loạn sợ hãi lo âu mà đây là nhân chứng trong lòng hắn về hành động tàn ác khủng khiếp hắn sắp mắc phạm. Bị đẩy đi trong cuồng phong dữ dội về những ý nghĩ do lương tri khốn nạn của hắn đưa ra, hắn tới nhà vị thượng tế mà như đứt hơi.

Nhìn thấy Juda Iscariot vội vàng hấp tấp trong việc mưu đạt được cái chết của Chúa Giêsu Kitô, Lucifer sợ rằng rốt cuộc Chúa Giêsu có thể đích thực là Chúa Cứu Thế. Nó hiện ra với Juda Iscariot đội lốt một người hết sức ác độc, người mà y quen biết trong âm mưu phản bội. Đội lốt người này, Lucifer có thể nói với Juda Iscariot mà không sợ bị nhận diện. Lucifer cố gắng thuyết phục Juda Iscariot rằng lúc đầu ý đồ bán Thầy của hắn có vẻ đáng khuyến khích vì những việc ác độc gán cho Chúa Giêsu. Nhưng sau khi suy xét vấn đề đó tường tận hơn, lúc này nó thấy không nên nộp Chúa Giêsu cho các tư tế và biệt phái. Chúa Giêsu không đến nỗi tệ như Juda Iscariot đã tưởng, Chúa Giêsu không đáng phải chết. Hơn nữa Chúa có thể tự giải phóng bằng một vài phép lạ và gây cho kẻ phản bội những khó khăn hết sức lớn lao.

Trong khi đó Chúa Giêsu cùng với mười một Tông Đồ tiến hành công cuộc cứu chuộc nhân loại gồm cả những kẻ đang âm mưu giết Chúa. Cuộc tranh sức cực kỳ lạ lùng vô tiền khoáng hậu giữa ác tâm cực độ của loài người và lòng nhân từ yêu thương vô cùng của Thiên Chúa! Nếu cuộc tranh đấu lạ lùng giữa thiện và ác khởi đầu từ nguyên tổ, cuộc tranh đấu đó hiển nhiên đã tới cực điểm trong cái chết của Đấng Cứu Chuộc vì lúc này thiện và ác đối diện và đưa ra sức lực mạnh nhất của mình. Lòng ác độc của loài người trong việc lấy đi mạng sống và danh dự của Đấng Tạo Hóa và Cứu Chuộc đối đầu với tình yêu thương vô cùng của Chúa tự hiến dâng mạng sống và danh dự mình cho nhân loại. 

Theo cách suy luận của loài người chúng ta, có thể là linh hồn cực châu báu Chúa Kitô, cả Thiên Tính của Chúa nữa, trở lại với Mẹ Maria, để Chúa có thể tìm được một thụ tạo, mà ở đó tình yêu của Chúa có thể được đền đáp và nhận được những lời xin tha thứ vì tội coi thường các lệnh truyền của đức công chính. Duy nhất nơi Mẹ Maria, Chúa có thể thấy Cuộc Khổ Hình Tử Nạn đem lại thành quả toàn hảo. Nơi sự thánh thiện khôn lường của Mẹ Maria, đức công thẳng Chúa gặp được sự đền bù cho lòng ác độc của loài người. Nơi đức khiêm nhượng và yêu thương bác ái vô bờ của Mẹ Maria, kho tàng công nghiệp Chúa Cứu Thế được ký thác, để về sau Giáo Hội có thể vươn lên từ sự hy sinh của Chúa như phượng hoàng mới nở từ lớp tro ủ nóng. Sự thánh thiện tột đỉnh của Mẹ Maria là điều an ủi đem lại cho nhân tính Chúa Giêsu sức mạnh và nghị lực mới để chiến thắng ác tâm loài người; và Chúa Giêsu coi mình đã được đền đáp xứng đáng cho những đau khổ cực kỳ tàn bạo Chúa phải chịu do sự kiện là Mẹ rất thánh cũng thuộc về nhân loại.

Chúa Cứu Thế đi ngang qua suối Kidron (Gioan 8:1), vào vườn Gethsemani ở Núi Cây Dầu. Tại đây Chúa nói với mười một Tông Đồ: “Anh em hãy ngồi nghỉ tại đây chờ Thầy, trong khi Thầy đi xa hơn một chút để cầu nguyện (Mt 26:36); anh em cũng cần phải cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ” (Lc 22:40). Thầy chí thánh cho các Tông Đồ lời khuyên này để các ông có thể vững vàng trong cơn cám dỗ mà Chúa đã nói cho các ông biết trong Bữa Tiệc Ly: tất cả các ông đều bị vấp phạm vì những tủi nhục cực hình Chúa chịu đêm đó, Satan sẽ tấn công để sàng sảy, khích động các ông bằng những lời giả dối; vì Mục Tử bị bạc đãi đánh đập bị thương tích, đàn chiên tan tác (Zach. 13:7).

Thầy hằng sống để lại đó tám Tông Đồ, đem theo các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê tới một nơi xa hơn (Mc 14:33). Chúa Giêsu ngước mắt nhìn lên và dâng lời chúc tụng Thiên Chúa Cha hằng hữu như thường lệ. Chúa âm thầm cầu nguyện xin cho việc hoàn thành lời tiên tri Zacharia, cho phép cái chết đến với Đấng cực thánh giữa loài người; truyền lệnh cho lưỡi gươm phép công thẳng của Thiên Chúa thi hành đối với Vị Mục Tử và giáng xuống trên “Đấng Thiên Chúa làm người” toàn lực chí tử. Chúa Giêsu lại dâng chính mình đền bù phép công thẳng Thiên Chúa Cha và cứu chuộc nhân loại. Chúa Giêsu ưng thuận rằng tất cả mọi đau đớn hành hạ nhục nhã trong Cuộc Khổ Hình và Chết của Chúa phải được để tự nhiên đối với thân xác có khả năng chịu đau khổ. Từ lúc đó Chúa Giêsu ngưng và chặn lại mọi nguồn an ủi thoa dịu từ Thiên Tính không biết đau đớn tràn qua nhân tính, để trong hoàn cảnh bị bỏ rơi này những thống khổ đau đớn Chúa chịu có thể lên tới tột đỉnh. Thiên Chúa Cha chấp nhận các lời cầu xin và toàn thể hy lễ nhân tính thánh hiến của Chúa Cứu Thế.

Lời cầu nguyện này khác chi mở đập nước mà qua đó những dòng sông thống khổ của Chúa tìm được lối vào như cơn sóng thần bất khả kháng cự của đại dương (Tv 68:2). Lập tức, Chúa Giêsu buồn phiền, cảm thấy thống khổ trong linh hồn vì vậy Chúa nói với các Tông Đồ: “Linh hồn Thầy buồn phiền đến nỗi chết” (Mc 14:34). Chúa phủ phục trên đất dâng lên Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu có thể xin cất chén này khỏi Con” (Mt 24:38). Chúa Kitô thốt lên lời cầu nguyện này, mặc dù Chúa từ trời xuống trần gian với mục đích rõ ràng là thực sự chịu đau khổ và chết vì loài người. Chúa không kể gì đến sự sỉ nhục trong Cuộc Khổ Hình, sẵn sàng chấp nhận Khổ Hình và khước từ mọi an ủi của loài người. Bằng tình yêu mãnh liệt cực độ Chúa mau lẹ đi tới cái chết, tới với những nhục mạ, những đau đớn và ưu phiền. Chúa đặt giá loài người quá sức cao, đến mức Chúa quyết định cứu chuộc loài người bằng việc đổ chính Máu thánh Chúa.  Cơn buồn phiền của Chúa Kitô gia tăng tương ứng với sự cao cả của tình thương vô cùng trong khi nhân loại sẽ vẫn cứng lòng hững hờ đối với phúc lộc do Cuộc Khổ Hình và Tử Nạn của Chúa (Lc 22:44). Nỗi buồn phiền của Chúa gia tăng mãi tới mức những giọt mồ hôi lớn trộn máu từ thánh thể Chúa toát ra nhỏ xuống đất. Lời cầu nguyện “Lạy Cha, nếu có thể, xin cất chén đắng này khỏi Con” được thốt lên chính vì đau lòng xót thương các người tội lỗi bị trầm luân vì họ quyết tâm chà đạp lên tình thương vô cùng và công nghiệp Ơn Cứu Chuộc. Chúa đã đạt được từ lời cầu nguyện này nguồn ân huệ tràn đầy bao la hơn cho loài người. Qua đó, các ân sủng do Ơn Cứu Chuộc được gia tăng gấp bội cho các thánh và người công chính. Nhiều đặc ân và thánh sủng, mà những kẻ tội lỗi tự làm cho chúng không xứng đáng hưởng, được chuyển qua cho các người được tuyển chọn. Ước nguyện của nhân tính Chúa Kitô phù hợp với thánh ý Thiên Tính, chấp nhận chịu đau khổ vì từng loại người. Các người tội lỗi được ban đủ ơn giúp đỡ cần thiết nếu họ sử dụng Công Nghiệp Ơn Cứu Chuộc. Những người được tiền định lợi dụng được Ơn Cứu Chuộc làm phương tiện vô song do việc họ cộng tác với ân sủng. Để phê chuẩn thánh ý này, khi Thầy chí thánh của chúng ta đang lịm đi trong buồn phiền, Thiên Chúa Cha hằng hữu, lần thứ ba, phái Tổng Lãnh Thiên Thần Michael đến an ủi Chúa Giêsu bằng thông điệp hết sức yêu dấu, xác nhận những điều Chúa Giêsu đã biết do sự hiểu biết được thông cho linh hồn cực thánh Chúa.

Chúng ta trở lại Nhà Tiệc Ly, nơi Mẹ Maria hiện diện cùng với các phụ nữ thánh thiện. Từ Nhà Tiệc Ly, nhờ quyền năng Thiên Chúa, Mẹ thấy rõ ràng mọi mầu nhiệm và các việc của Con cực thánh trong vườn Cây Dầu. Khi Chúa Cứu Thế đi xa khỏi ba Tông Đồ Phêrô, Gioan và Giacôbê, Mẹ Maria cũng tách rời khỏi các phụ nữ thánh thiện đi tới một phòng khác. Khi rời khỏi các bà, Mẹ Maria khuyên các bà cầu nguyện và cảnh giác để khỏi sa chước cám dỗ, nhưng ba bà cùng tên Maria đi theo Mẹ. Rời xa ba bà thân tín này, Mẹ Maria xin Thiên Chúa Cha hằng hữu ngưng mọi nâng đỡ an ủi cả thể xác cả tinh thần, để không điều gì cản trở Mẹ kết hiệp với Con cực thánh cùng chịu những đau đớn cực độ. Mẹ Maria xin Chúa cho Mẹ được phép cảm thấy, chịu nơi thân xác Mẹ mọi đau đớn, mọi thương tích và hành hạ Chúa Giêsu phải chịu. Lời Mẹ Maria xin được Thiên Chúa Ba Ngôi chấp nhận và Mẹ lần lượt chia sẻ mọi đau đớn hành hạ y hệt như Con cực thánh phải chịu. Những đau đớn thống khổ đó hết sức kinh khủng đến mức, nếu Thiên Chúa Cha không gìn giữ hẳn Mẹ Maria đã chết nhiều lần, nhưng những đau khổ này, do chính Thiên Chúa gây ra, lại là bảo đảm và niềm vui sống mới. Vì trong tình yêu thương cực kỳ mãnh liệt, Mẹ cho rằng nhìn thấy Con cực thánh Mẹ chịu Khổ Hình và Chết mà không được phép chia sẻ những thống khổ đó thực sự là nỗi đau đớn cực độ.

Ba bà Maria được Mẹ Maria yêu cầu đi theo phụ giúp trong nỗi đau đớn của Mẹ, để thi hành mục đích này, ba bà được ban cho ơn soi sáng và ân sủng lớn lao hơn các bà khác. Khi ở trong phòng tĩnh tâm với ba bà Maria này, Mẹ Maria bắt đầu cảm thấy lo âu phiền sầu khác thường và nói với các bà: “Linh hồn Mẹ đau buồn vì Con cực thánh Mẹ sắp sửa chịu đau khổ và chết, mà Mẹ không được phép chịu đau khổ và chết với Chúa. Các bạn của Mẹ, hãy cầu nguyện để các bạn không bị sa chước cám dỗ.” Sau khi nói lời này, Mẹ Maria đi xa các bà một khoảng ngắn và phục xuống đất như Chúa Giêsu. Mẹ Maria cảm thấy cũng nỗi buồn phiền Chúa Cứu Thế chịu trong vườn Cây Dầu. Mẹ Maria cũng trở lại với các bạn đồng hành của Mẹ để an ủi các bà vào những lúc Chúa Cứu Thế trở lại với các Tông Đồ, vì Mẹ biết cơn phẫn nộ ma quỉ đối với các bà. Mẹ Maria khóc thương các linh hồn biết trước bị trầm luân. Vì được soi dẫn cao xa, Mẹ thấu hiểu các mầu nhiệm về số phận được hạnh phúc vĩnh cửu và bị trầm luân đời đời. Để bắt chước và đồng công với Chúa Cứu Thế trong mọi sự, Mẹ Maria cũng đau buồn toát mồ hôi máu, y như Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu. Do ý Thiên Chúa, Mẹ được Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel viếng thăm, như Chúa Kitô Con Mẹ được Tổng Lãnh Thiên Thần Michael an ủi. Thiên Sứ Gabriel giải thích cho Mẹ biết thánh ý Thiên Chúa Tối Cao cùng cách Thiên Sứ Michael chuyển đến Chúa Kitô. Lời cầu nguyện, nguyên do sự buồn phiền nơi Chúa Kitô và Mẹ Maria y hệt như nhau.

Khi Juda Iscariot và đồng bọn đang tới gần. Chúa Giêsu trở lại với các Tông Đồ lần thứ ba mà thấy các ông đang ngủ, Chúa nói với ba Tông Đồ ưu tuyển: “Anh em ngủ nghỉ được sao? Đủ rồi, thời điểm đã tới; hãy coi Con người bị phản bội, bị nộp cho kẻ tội lỗi. Đứng lên nào, chúng ta cùng đi. Coi kìa kẻ sẽ phản bội Thầy tới nơi rồi” (Mc 14:41). Chúa không quở trách các ông nặng lời hơn những lời hiền lành và yêu thương này. Tâm tư nặng chĩu, các ông không biết phải đáp lại lời Thầy chí thánh như thế nào (Mc 14:40). Các ông đứng dậy đi theo Chúa Giêsu đến với tám môn đệ kia. Chúa thấy các ông cũng cùng cảnh tâm tư nặng chĩu do nỗi buồn phiền lớn lao và ngủ vì mệt mỏi. Khi Thầy chí thánh ra lệnh, tất cả các ông cùng nhau mau mắn và huyền nhiệm tạo thành một thân thể mà Chúa Giêsu là Đầu, đi tới phía các kẻ thù. Bằng cách đó Chúa dạy các ông sức mạnh của sự hỗ tương đoàn kết để chiến thắng ma quỉ và những kẻ theo nó và tránh khỏi bị chúng đánh bại. Vì theo lời Sách Thánh “Sợi dây ba tao khó đứt” (Gv 4:12), và mãnh hổ nan địch quần hồ, đó là sức mạnh của sự đoàn kết. Chúa Giêsu lại an ủi các Tông Đồ và nói cho các ông biết trước mọi việc sẽ xảy ra. Tiếng ồn ào của bọn lính và tay sai tiến bước bắt đầu nghe thấy. Chúa Cứu Thế tiến ra đón gặp họ trên đường. Với tình yêu khôn sánh, can đảm tuyệt vời và nhân từ thương xót vô cùng, Chúa âm thầm cầu nguyện: “Ôi những đau khổ Ta bao ngày khao khát mong đợi, hỡi những đau đớn, thương tích, sỉ nhục, hành hạ và cái chết nhục nhã, hãy tới, hãy tới, hãy mau tới, vì lửa yêu thương, luôn luôn bừng cháy ước ao việc cứu chuộc nhân loại, nóng lòng thấy các ngươi gặp Đấng Vô Tội trong tất cả loài người. Ta biết rõ giá trị các ngươi. Ta đã tìm kiếm, ước mong, khẩn khoản các ngươi, Ta tự ý hoan hỉ gặp các ngươi. Ta đã mua các ngươi bằng sự lo lắng tìm kiếm các ngươi và quí trọng giá trị các ngươi. Ta muốn chuộc và làm tăng giá trị các ngươi, nâng các ngươi lên địa vị cao cả nhất. Hỡi cái chết hãy đến, để do việc Ta chấp nhận ngươi, mà đúng ra Ta không phải chết, Ta có thể chiến thắng ngươi, giành lại sự sống cho những kẻ bị luận phạt phải chết vì tội lỗi của họ (Hosea 13:14). Ta cho phép các bạn hữu của Ta bỏ rơi Ta; vì chỉ một mình Ta ao ước và có thể dự trận chiến này để giành được cho họ chiến thắng vinh quang” (Is 53: 3).

Trong khi Đấng tạo thành sự sống nói những lời này và dâng lên lời cầu nguyện, Juda Iscariot tiến lên để ra hiệu như nó đã thỏa thuận với đồng bọn (Mt 26:48). Hôn chào nhau là tập quán tốt, nhưng đây là cái hôn hòa bình giả tạo, bằng cái hôn này bọn lính và tay sai các thượng tế chắc chắn nhận được Chúa Giêsu là người chúng phải bắt giữ tức thời. Những dự liệu cẩn thận được tên môn đệ phản bội bất hạnh này áp dụng, không những chỉ vì tham tiền và ghét Thầy nó, mà cũng còn vì sự sợ hãi. Juda Iscariot lo sợ gặp Chúa, phải đương đầu với Chúa trong tương lai, nếu Chúa Kitô không bị giết trong dịp này. Nó sợ điều đó hơn cái chết linh hồn nó, hoặc cái chết của Thầy chí thánh. Để chặn trước việc nó lo sợ, Juda Iscariot hấp tấp hoàn thành việc phản bội, muốn nhìn thấy Đấng tạo thành sự sống phải chết trong tay kẻ thù. Tên phản bội chạy tới Chúa, Đấng hiền lành vô cùng; làm bộ che giấu lòng căm thù, nó in lên mặt cực thánh Chúa cái hôn hòa bình và nói: “Lạy Thầy, xin Thiên Chúa giữ gìn Thầy.”

Sự luận phạt đời đời của Juda Iscariot đã chín mùi do hành động phản bội quá sức trắng trợn này. Về phần tên môn đệ bất trung Juda Iscariot, sự quỉ quyệt và liều lĩnh đã tới tột đỉnh. Nó chối bỏ hoặc không tin Chúa Kitô biết rõ nó phản bội. Bất chấp quyền năng của Chúa, nó ngụy trang âm mưu ác độc dưới lớp áo bằng hữu của người môn đệ đích thực. Nó làm tất cả điều này chỉ vì mục đích đổi lấy cái chết hãi hùng dữ dằn của Đấng Tạo Thành và Thầy nó, Đấng mà nó bị ràng buộc bởi biết bao nhiêu bổn phận. Chỉ trong một hành động phản bội này mà thôi, Juda Iscariot đã phạm quá nhiều tội kinh khủng không thể nào lường. Nó là tên phản bội, sát nhân, phạm thánh, vong ân bội nghĩa, bất nhân, không vâng lời, xảo trá, gian dối, bất hiếu, giả hình độc nhất vô nhị, mà mọi thứ này đều gồm trong một và cùng một trọng tội phạm đến Ngôi Vị Thiên Chúa làm người.

Mẹ Maria hết sức lưu tâm đến mọi việc xảy ra trong việc Chúa bị bắt giữ, và do thị kiến, Mẹ nhìn thấy mọi việc rõ ràng hơn là nếu Mẹ đích thân ở tại chỗ. Nhờ các thị kiến, Mẹ thấu vào những lời nói việc làm của Chúa. Khi thấy đám lính và đầy tớ phát xuất từ nhà vị thượng tế, Mẹ Maria thấy trước các bất kính sỉ nhục chúng sẽ đối xử với Đấng tạo dựng và cứu chuộc chúng. Mẹ mời các thiên thần và các phụ nữ thánh thiện ở Nhà Tiệc Ly kết hợp với Mẹ dâng lên Chúa việc tôn thờ chúc tụng để đền bù những đau đớn sỉ nhục Chúa phải chịu trong tay bọn tôi tớ ma quỉ. Mẹ nói cho các bà biết bây giờ Con cực thánh Mẹ cho phép kẻ thù bắt và hành hạ Ngài, chúng sắp sửa sử dụng sự cho phép này cách bất kính và độc ác nhất. Được các thiên thần và các phụ nữ đạo đức giúp đỡ, Mẹ Maria trung tín thực hành các việc bề trong và bề ngoài về Đức Tin và Đức Yêu Mến nhiệt thành, tuyên xưng, thờ lạy, chúc tụng, tôn vinh Thiên Tính hằng hữu và nhân tính cực thánh Đấng Tạo Thành và Chúa của Mẹ. Các phụ nữ thánh thiện bắt chước Mẹ Maria bái gối và sấp mình xuống đất thờ lạy Chúa. Các thiên thần đáp xướng những ca vịnh mà Mẹ Maria tán tụng, hiến dâng, tôn vinh Thiên Tính và nhân tính Chúa Kitô. Tỉ lệ thuận với mức độ con cái sự quỉ quyệt gia tăng sự bất kính và hành hạ đối với Chúa Kitô, Mẹ Maria tìm cách đền chuộc những xúc phạm đó bằng việc chúc tụng tôn thờ.

Mẹ Maria không chỉ làm nguôi ngoai Vị Quan Phán chí công, mà còn xin được đặc ân, thánh sủng và lòng khoan dung nhân từ Thiên Chúa cho chính những kẻ hành hạ Chúa. Do đó Mẹ xin được sự lấy ân báo oán cho những kẻ không ngừng chồng chất chống đối sai lầm trên Chúa Kitô vì giáo lý và ân sủng Chúa. Lòng thương xót của Mẹ Maria lên tới tột đỉnh đối với tên ngoan cố phản bội Juda Iscariot. Mẹ Maria thấy nó nạp Chúa Giêsu bằng cái hôn bằng hữu giả dối. Mẹ suy gẫm sự kiện là chỉ thời gian hết sức ngắn trước đây miệng nó đã rước Thánh Thể Chúa, gương mặt cực thánh Chúa chỉ sau đó không lâu đã để cho đôi môi dơ bẩn của Juda Iscariot được chạm vào. Trái tim Mẹ bị sự đau buồn xuyên thấu và lòng bác ái xót thương làm cho tan nát. Mẹ Maria nhân từ xin Chúa Giêsu ban những ân sủng mới, nhờ đó tên phản bội này, đã được đặc ân chạm vào mặt Chúa mà các thiên thần ước mong ngắm nhìn, có thể tự cứu khỏi bị trầm luân đời đời nếu nó chịu dùng các ân sủng đó. Để đáp lại lời cầu nguyện này từ Mẹ Maria, Chúa Giêsu đã ban cho Juda Iscariot những ơn mãnh liệt ngay sau khi nó hoàn thành việc phản bội. Nếu con người bất hạnh đó tuân theo, đáp ứng các ân sủng này, Mẹ nhân từ hay xót thương hẳn đã xin cho nó được nhiều ơn khác nữa và sau cùng là ơn tha thứ tội lỗi. Mẹ Maria đã từng làm như thế cho nhiều người tội lỗi kinh khủng, những người này đã sẵn sàng làm vinh danh Mẹ, nhờ đó đã giành được vinh quang đời đời cho chính họ. Nhưng Juda Iscariot đã không thực hiện điều này vì thế mất mọi cơ may được cứu rỗi.

Khi các đầy tớ của vị thượng tế ra tay bắt trói Chúa Cứu Thế, Mẹ Maria cảm thấy nơi hai bàn tay Mẹ những đau đớn gây ra do dây thừng (chão) và xích sắt, chẳng khác gì chính Mẹ đang bị trói và bị đánh đập. Cùng cách như thế Mẹ Maria cảm thấy trên thân thể Mẹ những đấm đá hành hạ giáng xuống thánh thể Chúa Giêsu, vì đặc ân này được Chúa ban cho Mẹ trong suốt tiến trình Khổ Hình Cứu Chuộc. Việc Mẹ Maria chia sẻ các đau đớn của Chúa Cứu Thế là cách làm nhẹ bớt những đau đớn hẳn Mẹ đã phải chịu trong linh hồn vì ý nghĩ là không được ở bên Chúa trong những hành hạ thống khổ Chúa phải chịu.

 LỜI MẸ MARIA Con của Mẹ, từ những điều con được cho hiểu và viết ra liên quan đến các mầu nhiệm này, con rút lấy cho chính con (và cho cả loài người) một án phạt nặng nề nếu con không chế ngự tính hèn nhát và sự vô ân bạc nghĩa cùng bản tính hèn hạ của con bằng việc ngày đêm suy gẫm Khổ Hình và Tử Nạn của Chúa Giêsu trên Thánh Giá. Việc suy gẫm này là sự khôn ngoan tuyệt vời của các thánh, là bánh hằng sống, là lương thực tinh thần và sự khôn ngoan cho các linh hồn nhỏ bé. Rất ít người trần gian nghe theo sự khôn ngoan này, mà vì thiếu việc suy gẫm đó làm cho những kẻ yêu mến thế gian kiêu căng này chết đói (Kn 15:3). Mẹ muốn con chuyên cần và khôn ngoan trong khoa học này, vì với việc suy gẫm Khổ Hình và Tử Nạn của Chúa Cứu Thế, con có thể sắm cho con mọi thứ tốt lành (Kn 7:11). Con và Chúa của Mẹ đã dạy chúng ta sự khôn ngoan này khi Chúa phán: “Thầy là đường, là chân lý và là sự sống: không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Gioan 14:6). Con của Mẹ, con hãy nói Mẹ nghe: Nếu Chúa Cứu Thế, qua Khổ Hình và Tử Nạn, đã hiến mình làm sự sống và là đường cho nhân loại, thì không phải rõ ràng là nhân loại phải theo Chúa Kitô chịu đóng đanh, chịu đau buồn, chịu đánh đòn và chịu sỉ nhục sao? Con hãy nhìn xem sự ngu dại nơi những người muốn đến với Thiên Chúa Cha mà không theo Chúa Kitô. Nhiều người hy vọng được cai trị với Thiên Chúa nhưng lại không muốn chịu đau khổ, không muốn bắt chước nỗi thống khổ của Chúa. Họ không có lấy một chút ý nguyện chấp nhận phần nào Sự Thống Khổ và Tử Nạn của Chúa. Họ cũng không hề nghĩ đến việc cảm tạ Chúa vì đã chịu chết cho họ. Họ muốn việc Chúa chịu chết đem lại cho họ hoan lạc ở đời này cũng như đời sống vĩnh cửu. Nhưng họ không muốn bắt chước Chúa Kitô đã phải chịu đựng những đau đớn đày đọa đắng cay nhất để vào thiên đàng và cho họ gương sáng ngõ hầu họ biết phải làm thế nào tìm ra được con đường ánh sáng.

Hạnh phúc đời đời đối nghịch với sự xấu hổ vì đã không chịu khổ để đạt được hạnh phúc đó. Một người không thể đích thực là con cha, nếu nó không bắt chước cha; cũng không thể là môn đệ tốt nếu không theo Thầy mình; cũng không thể là đầy tớ tốt nếu không đi theo chủ. Mẹ cũng không kể người đó là con tận tình của Mẹ nếu y không chịu đau khổ với Mẹ và Con chí thánh Mẹ. Nhưng tình yêu của Chúa và của Mẹ đối với phần rỗi đời đời của loài người bắt buộc Chúa và Mẹ, vì nhìn thấy họ xao lãng chân lý này và quá sức chống đối việc chịu đau khổ, phải gởi đến cho họ những vất vả và hình phạt để giúp họ đi vào con đường cứu độ. Tuy nhiên ngay cả mọi thứ này cũng không đủ, vì các khuynh hướng và tình yêu mù quáng của họ đối với các thứ hữu hình cản trở, làm cho họ trở nên cứng lòng nặng nề. Những thứ ở trần thế làm cho họ không thể nhớ đến để yêu mến những điều vô cùng cao cả này, những điều có thể nâng họ lên trên chính họ và mọi thụ tạo. Vì thế người ta không tìm thấy niềm vui trong sự thống khổ, không thấy thoải mái trong những vất vả cực nhọc, không tìm được an ủi trong các điều buồn phiền, cũng không tìm được bình an trong nghịch cảnh. Những người này khác hẳn các thánh, các thánh hãnh diện vì thống khổ buồn sầu, coi những thứ này như là việc hoàn thành các ước nguyện tha thiết nhất. Người trần thế không thể ao ước một chút đau khổ nào và ghét tất cả mọi thứ đau đớn. Nơi nhiều tín hữu, sự ngu dại này còn đi xa hơn nữa. Một số người ước mong được tình yêu mật thiết nhất của Chúa làm cho họ nổi bật, những người khác ước mong được tha thứ mà không làm việc đền tội, những người khác ước mong được Thiên Chúa ưu ái. Những người đó sẽ không được một thứ nào trong các thứ này, vì họ không xin nhân danh Chúa Kitô, vì họ không muốn bắt chước và theo Chúa trong Khổ Hình của Ngài.

Vì thế, con của Mẹ, con hãy yêu mến ẵm lấy Thánh Giá và không nhận bất cứ sự an ủi nào ngoài Thánh Giá. Bằng suy gẫm và cảm nhận trong lòng con Nỗi Thống Khổ được thánh hiến, con sẽ đạt tới đỉnh trọn lành và đạt được tình yêu của một hiền thê. Con hãy chúc tụng và làm vinh danh Con chí thánh Mẹ vì tình yêu mà Chúa đã hiến thân mình để cứu chuộc nhân loại. Loài người nghe theo mầu nhiệm này ít ỏi chừng nào! Mẹ, là một chứng nhân, bảo đảm với con rằng sau việc ngự lên bên hữu Thiên Chúa Cha hằng hữu, Chúa Giêsu không quí trọng và tha thiết ước mong điều gì cho bằng nộp mình cho các kẻ thù của Chúa, hiến thân chịu đau khổ và chết để cứu chuộc nhân loại. Mẹ cũng ước mong con than khóc đau buồn vì sự kiện là Juda Iscariot, với âm mưu ác độc và phản bội của nó, lại có nhiều người theo hơn Chúa Kitô. Trong số những người theo Juda Iscariot, nhiều người là những kẻ bất trung, là những tín hữu Công Giáo xấu xa, là những kẻ giả hình, mang danh một Kitô hữu, bán và nộp Chúa Giêsu và lại muốn đóng đanh Chúa vào Thánh Giá. Con hãy khóc than tất cả những sự ác độc này, như con hiểu biết, để con có thể bắt chước và theo Mẹ trong vấn đề này.

 

CHƯƠNG 5

 

CHÚA GIÊSU BỊ ĐIỆU TỚI TRƯỚC THƯỢNG TẾ ANNAS VÀ CAIPHA

 

Con Chiên Giêsu hiền lành vô cùng bị bắt, bị trói tàn bạo, bị lôi đi từ Vườn Cây Dầu tới nhà thượng tế Annas (Gioan 18:13). Juda Iscariot khuyến cáo đám lính cùng đầy tớ các thượng tế rằng Thầy của y là một tay phù thủy, có thể thoát khỏi tay chúng dễ dàng, nếu chúng không trói, xiềng xích, cẩn thận trước khi điệu Ngài đi. Chúng đã áp dụng mọi biện pháp đề phòng theo lời tên phản bội (Mc 14:44). Lucifer và ma quỉ xúi giục những tên đầy tớ đó tăng thêm những hành hạ bất kính phạm thượng đối với Chúa Giêsu vượt quá mọi mức độ về nhân đạo và luân lý. Chúng không bỏ sót một lời nhục mạ nào, trong phạm vi được Thiên Chúa Toàn Năng cho phép, đối với Ngôi Vị của Đấng tạo dựng chúng. Chúng trói Chúa bằng sợi xích sắt lớn, quấn quanh thắt lưng, bó chặt hai cánh tay và quàng lên cổ. Hai đầu dây xích còn thừa ra được móc vào những chiếc vòng lớn dùng để khoá hai tay Chúa. Hai tay Chúa bị trói, bị khóa cứng không phải ở phía trước, mà bị bắt quặt ra sau lưng. Nhưng bọn lính không hài lòng với cách trói tù chưa bao giờ nghe nói này, và vì sợ rằng chưa đủ chắc, chúng tăng cường hai sợi thừng khác nữa. Chúng quấn một sợi quanh cổ, bắt tréo trước ngực, cột lại thành những nút thắt lớn quanh mình Chúa, buông hai đầu dây thòng dài ở phía trước, để dọc đường chúng có thể lôi Chúa đi những lối khác nhau. Sợi thứ hai trói hai cánh tay, quấn quanh thắt lưng, hai đầu dây này buông lơi để hai lên lý hình giữ và lôi Chúa từ phía sau.

Chúa Cứu Thế, che giấu quyền năng tiêu diệt các kẻ thù để Công Cuộc Cứu Chuộc nhân loại được dư dật hơn, cam chịu mọi cường độ cơn giận dữ lồng lộn phạm thượng của những người bị Lucifer và đồng bọn xúi giục. Chúng lôi Chúa, vẫn còn bị xiềng xích tàn bạo, đến nhà thượng tế Annas. Tại đây, chúng vu khống Chúa là tên bất lương gian ác đáng phải chết. Theo phong tục Do Thái chỉ có những trọng phạm đáng tử hình mới bị trói như thế; mà bây giờ chúng áp dụng cách thức này đối với Chúa Giêsu để tuyên án Chúa trước khi xét xử.

Thượng tế Annas ngồi nơi đại sảnh, ngạo nghễ hỏi Chúa về các môn đệ và giáo lý Chúa rao giảng (Gioan 18:19). Câu hỏi này đưa ra chỉ nhằm mục đích bóp méo lời Chúa đáp lại, nếu Chúa nói ra bất cứ lời nào đem lại cho chúng cơ hội như thế. Nhưng Chúa Cứu Thế dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu sự khiêm nhượng vì được coi như một trọng phạm trước mặt viên thượng tế, bị hạch hỏi như một kẻ nói quanh co và giảng dạy giáo lý giả dối. Chúa Cứu Thế, với vẻ mặt khiêm nhượng, đã bình tĩnh trả lời câu hỏi về các giáo lý của Chúa: “Tôi giảng dạy công khai cho mọi người, Tôi luôn giảng dạy trong hội đường và đền thờ, nơi mọi người Do Thái lui tới, Tôi không nói điều gì nơi kín đáo. Tại sao ông lại hỏi Tôi? Hãy hỏi những người này, họ đã nghe những lời Tôi nói, họ biết những điều Tôi đã dạy.” Vì giáo lý của Chúa Kitô từ Thiên Chúa Cha mà đến, Chúa nói và bênh vực danh dự giáo lý đó. Chúa qui những lời Chúa giảng dạy cho những người nghe Chúa. Một phần vì chính những người đó, lúc này đang đứng vây quanh Chúa, không tin mà muốn bóp méo lời Chúa, phần khác cũng vì chân lý, vì sức mạnh các lời Chúa giảng dạy, bằng chính sự tuyệt vời của các chân lý và giáo huấn đó, gợi lại và đè nặng trên lương tâm những kẻ thù ghét Chúa sâu đậm nhất.

Chúa không nói một lời nào về các Tông Đồ, vì không cần thiết, vả lại các Tông Đồ không gợi lên uy tín gì nhiều đối với Thầy các ông, do cách cư xử của các ông lúc này. Mặc dầu lời Chúa đáp lại quá dư đầy khôn ngoan, quá thích hợp với câu hỏi, một trong các đầy tớ của thượng tế đã ào tới đưa cao bàn tay, cả gan đánh vào Mặt cực thánh đáng phải tôn thờ của Chúa, y nói: “Mày dám trả lời vị thượng tế như thế sao?” Chúa Giêsu chấp nhận sự sỉ nhục vô cùng này, cầu nguyện cho kẻ đã đưa ra cái tát đó; và sẵn sàng, nếu cần, đưa má bên kia chịu cái tát thứ nhì, theo giáo huấn Chúa đã dạy (Mt 5:39). Nhưng để cho tên đầy tớ cả gan liều lĩnh phạm thượng đó không thể vô liêm sỉ khoác lác sự ác độc của nó, Chúa Giêsu bình tĩnh và hiền lành trả lời: “Nếu Tôi nói sai, hãy chứng minh điều sai trái đó; nếu Tôi nói đúng, tại sao lại đánh Tôi?” Ôi cảnh tượng quá sức lạ lùng đối với các thiên thần! Vì đây chính là Chúa, mà chỉ với âm thanh lời Chúa phán, các bầu trời rúng động!

Trong khi việc hành hạ Chúa vẫn tiếp diễn, thánh Phêrô và người môn đệ kia, không ai khác hơn là Gioan, tới nhà thượng tế Annas. Thánh Gioan, vì quen biết tại đó, được nhận cho vào, trong khi thánh Phêrô còn ở ngoài. Sau đó người nữ tì, vốn quen biết thánh Gioan, cũng để cho thánh Phêrô vào theo dõi những việc xảy ra (Gioan 18:16). Hai vị môn đệ dừng lại ở chỗ cửa ra vào dinh thượng tế Annas. Thánh Phêrô đến bên đống lửa bọn lính đốt để sưởi ấm ở gần cửa ngõ. Một nữ tì nhận ra dáng vẻ phiền muộn của ngài, y thị tiến lại gần và nhận ra ngài là môn đệ Chúa Giêsu, y thị nói: “Ông không phải là một trong các môn đệ Người này sao?” Người nữ tì đưa ra câu hỏi này với giọng thách thức khinh miệt. Vì yếu đuối, thánh Phêrô đầu hàng cảm tưởng nhục nhã đó, và cũng vì sợ hãi, ngài trả lời: “Tôi không phải là môn đệ Ông Ấy.” Sau khi nói lời này, ông Phêrô rời khỏi nơi đó để khỏi phải nói thêm. Nhưng liền sau đó ông Phêrô đi theo Thầy tới nhà thượng tế Caipha, tại đó ông lại chối Chúa vào hai dịp khác.

Sau khi thánh Phêrô chối Chúa lần thứ nhất, Chúa Kitô cầu nguyện xin Thiên Chúa Cha cho ngài, và nhờ Mẹ Maria cầu bầu, ngài được ơn tha thứ mặc dù sau ba lần chối Chúa. Từ phòng cầu nguyện, Mẹ Maria chứng kiến mọi việc. Vì Mẹ Maria chứa trong Trái Tim Mẹ khả năng đền tội và sự hy sinh của Con cực thánh Mẹ trong Nhiệm Tích Thánh Thể, Mẹ Maria hướng các lời cầu xin và khát vọng đầy yêu thương trực tiếp tới Chúa Giêsu, dâng lên những hành động anh hùng nhất về lòng trắc ẩn, tạ ân, tôn thờ. Mẹ Maria đã đau đớn khóc việc ông Phêrô chối Chúa, và không ngừng khóc cho tới khi Mẹ thấy rõ là Chúa Giêsu ban cho ngài ơn cứu giúp cần thiết để từ chỗ vấp ngã chỗi dậy cách kết quả.

Toàn thể ma quỉ và các kẻ thù độc ác của Chúa Kitô đã rời khỏi nhà thượng tế Annas, chúng lôi Chúa Cứu Thế qua các đường phố tới dinh thượng tế Caipha. Chúng trút trên Thánh Thể Chúa tất cả sự ác độc cuồng nộ đê tiện. Các thượng tế và phụ tá lớn tiếng nhạo báng giễu cợt khi thấy Chúa Giêsu bị điệu đến trước mặt họ giữa tiếng ồn ào huyên náo, thấy Chúa lúc này bị khuất phục quyền xét xử của họ mà không hy vọng trốn thoát. Ôi nhiệm mầu khôn ngoan đáng ca tụng của thiên đàng! Ôi sự điên khùng, ngu dốt của hoả ngục, sự ngu dại mù quáng của loài người! Ôi khoảng cách xa khôn lường giữa các việc làm của Đấng Tối Cao đối với các việc làm của hỏa ngục và loài người!

Thượng tế Caipha, lòng đầy đố kị chết người thù ghét Thầy Dạy Lời Hằng Sống, ngồi trên ngai của ông ta. Kế bên Caipha là Lucifer và lũ quỉ từ nhà thượng tế Annas kéo tới. Các ký lục, biệt phái, tựa như đàn sói khát máu, vây quanh Con Chiên hiền lành. Bọn này hả hê khi thấy đối tượng lòng đố kị của chúng bị thất bại, bị hạ nhục. Chúng thoả thuận tìm những người làm chứng gian vu khống Chúa Cứu Thế (Mt 26:59). Những lời cáo buộc do nhân chứng đưa ra không ăn khớp nhau, cũng không thể kết án Chúa, Đấng mà bản chất hoàn toàn vô tội và thánh thiện (Mc 25:26, Dt 7:26).

Chúa Giêsu không một lời đáp lại những vu khống dối trá đó. Tức giận vì sự im lặng kiên nhẫn của Chúa Giêsu, Caipha đứng dậy nói: “Tại sao Ông không đáp lại các nhân chứng cáo buộc Ông?” Nhưng Chúa Giêsu vẫn không nói một lời. Caipha và đồng bọn đều không muốn tin lời Chúa, nhưng dùng lời Chúa đáp lại để vu khống và thoả mãn dân chúng trong những hành động chống lại người Galilea, để họ không bị qui trách là kết án tử cho Chúa mà không có lý do. Sự im lặng khiêm nhượng của Chúa Cứu Thế, đáng lẽ ra làm nguôi lòng vị thượng tế ác độc, đã chỉ làm cho ông ta tức giận hơn nữa vì mục đích quỉ quyệt của ông ta bị đảo lộn. Lucifer khích thích thượng tế Caipha và những người khác, chăm chú quan sát cách Chúa Cứu Thế cư xử. Nhưng ý định của Lucifer khác với ý định của vị thượng tế. Lucifer chỉ muốn chọc khuấy Chúa để nghe được lời nào mà do đó nó có thể xác định được Chúa Giêsu có phải là Thiên Chúa thực hay không.

Nhằm mục đích này Satan xúi giục thượng tế Caipha nổi giận bừng bừng và kiêu căng, ông ta lớn tiếng chất vấn Chúa: “Nhân Danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền Ông nói cho chúng tôi biết Ông có phải là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không.” Câu hỏi này của vị thượng tế đã làm cho ông ta cùng một lúc phạm tội tột cùng dại dột, phạm thượng kinh khủng nhất. Vì nếu câu hỏi đó thành thực, ông ta đã không để Chúa Giêsu bị điệu tới trước mặt ông ta chỉ vì nghi vấn Chúa là Thiên Chúa thực hoặc không, mà hành động đó hẳn làm cho ông ta mắc trọng tội ghê ghớm nhất, táo bạo nhất. Sự nghi ngờ về trường hợp đó hẳn đã phải được giải quyết theo cách hoàn toàn khác hẳn, phù hợp với những đòi hỏi của lý luận ngay thẳng và công lý. Vì kính trọng Thánh Danh Thiên Chúa, Chúa Giêsu đáp: “Ông đã nói đúng: Tôi là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Nhưng Tôi nói với các ông, sau này các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng, và đến từ mây trời” (Mt 26:64).

Thượng tế Caipha giận dữ vì lời Chúa Giêsu đáp lại. Thay vì nhìn nhận đó là giải đáp cho sự hoài nghi của ông ta, lần nữa Caipha đứng dậy, xé phẩm phục, lớn tiếng nói: “Nó đã nói phạm thượng. Chúng ta còn cần thêm bằng chứng chi nữa? Đó, tất cả các ông đều đã nghe lời phạm thượng, bây giờ các ông nghĩ sao?” (Mt 26:65). Tuy nhiên lời phạm thượng đích thực chính là những lời Caipha vừa mới nói, vì ông ta từ chối sự thực Chúa Kitô là Con Thiên Chúa do chính Bản Tính Chúa, vì ông ta gán cho Bản Tính Thiên Chúa sự tội lỗi, mà sự tội thì trực tiếp mâu thuẫn với bản tính Thiên Chúa. Đó là sự điên rồ dại dột của vị thượng tế ác độc, người mà do chức vụ đáng lẽ ra đã phải nhìn nhận, tuyên xưng chân lý ngàn đời đó. Caipha làm cho mình thành kẻ phạm thượng bỉ ổi bằng việc khăng khăng cho rằng Chúa Giêsu, Đấng là chính sự thánh thiện, đã lộng ngôn phạm thượng. Trước kia Caipha lạm dụng địa vị cao cả của mình khi nói trước rằng cái chết của một người thì tốt hơn sự sụp đổ toàn dân, lúc này ông ta bị tội lỗi cản trở không hiểu được lời tiên tri chính mình đã nói. Toàn thể đám dân chúng tụ họp tại đó, bị khích động mãnh liệt vì các hành động cùng ý kiến của những người có địa vị và giáo chủ, đều khinh ghét Chúa Giêsu, đồng thanh la lên: “Nó đáng tội chết, hãy đóng đanh Nó, hãy đóng đanh Nó!” (Mt 26:66). Bị thúc đẩy bởi cơn cuồng nộ ma quỉ, mọi người đều trút lòng hận thù lên Chúa, Đấng vô cùng hiền lành. Một vài người trong bọn chúng đánh vào Mặt Chúa. Những người khác đạp đá Chúa. Những người khác giựt tóc và râu Chúa. Những người khác khạc nhổ nước miếng và đờm dãi vào Mặt Cực Thánh Chúa. Những người khác đấm đánh vào Cổ Chúa mà đó là cách đối xử dành cho trọng phạm hèn hạ nhất theo tục lệ Do thái.

Mẹ Maria thấy tường tận mọi hành động sỉ nhục này, đồng thời cảm thấy nơi xác thánh Mẹ cũng những đau đớn đánh vào Thân Xác cực thánh Chúa. Sự khác biệt duy nhất là, trên Thánh Thể Chúa Giêsu, những cái tát, đấm đá, đánh đập đều do loài người gây ra; trong khi đó trên thân thể cực trinh khiết Mẹ Chúa, những đau đớn hành hạ được Thiên Chúa Toàn Năng gây ra cách nhiệm mầu theo Mẹ xin. Theo tự nhiên, sự đau buồn lo lắng tột cùng đã đủ làm cho Mẹ chết, nhưng được sức mạnh Thiên Chúa nâng đỡ để có thể tiếp tục chịu đau khổ cùng với Con và Chúa của Mẹ.

Chúng ta không thể nào hình dung, đo lường các việc Chúa Cứu Thế thực hiện âm thầm trong khi chịu những hành hạ dã man vô tiền khoáng hậu này. Chỉ một mình Mẹ Maria thấu triệt và bắt chước các hành động của Chúa Cứu Thế cách trọn hảo. Chúa giành được cho những người muốn theo thực hành giáo lý Chúa vô cùng nhiều ân sủng và hồng phúc. Chúa dạy những người này “con đường nhỏ tới đỉnh trọn lành” bằng chính gương sáng. Giữa các thương tích vì những đợt hành hạ ác độc, Chúa Giêsu thiết lập cho các linh hồn được tuyển chọn đại hồng phúc Chúa đã hứa.

Chúa nói với những người bắt chước Chúa trong thánh đức khó nghèo:

 

“Phúc thay các con những kẻ bị lột hết mọi của cải trần thế; vì qua Khổ Hình Tử Nạn của Cha, Cha sẽ cho các con thừa kế nước trời làm sản nghiệp bảo đảm chắc chắn cho sự khó nghèo tự nguyện.”

“Phúc thay các con những kẻ khiêm tốn nhẫn nhục chịu đau khổ, chịu đựng mọi nghịch cảnh và thống khổ, bởi không kể sự vui sướng vì bắt chước Cha, các con sẽ chiếm được đất nơi mọi con tim và thiện chí của mọi người qua tính cách an hòa trong việc giao tiếp và sự ngọt ngào thánh đức của các con.”

 

“Phúc thay các con những kẻ than khóc khi gieo trồng trong nước mắt; vì trong nước mắt, các con sẽ nhận được bánh hiểu biết trường sinh, sau đó các con sẽ gặt hái những kết quả của niềm vui và hạnh phúc vĩnh cửu.”

 

“Phúc thay những người đói khát sự công chính và chân lý; vì Cha cho các con no thoả vượt quá lòng các con ước mong, được ngự trị trong ân sủng và vinh quang.”

 

“Phúc thay những ai bắt chước Cha trong việc tha thứ và yêu thương, xót thương những kẻ xúc phạm, đàn áp mình; Cha hứa cho các con dồi dào tình thương xót của Thiên Chúa.”

 

“Phúc thay những người trong sạch trong lòng, theo gương Cha đóng đanh xác thịt để bảo vệ sự tinh tuyền linh hồn. Cha hứa cho các con hoà bình và thấy Thiên Tính của Cha, trở nên giống Cha, cùng chia sẻ với Cha.”

 

“Phúc thay những người hiền lành hy sinh quyền lợi của mình, không chống lại những kẻ ác độc mà đối xử với chúng bằng lòng thành thực và trái tim hiền hoà không hận thù; các con sẽ được gọi là con của Cha, vì các con bắt chước Cha, Cha sẽ viết tên các con trong thánh tâm Cha.”

 

“Những người chịu đau khổ bạc đãi vì công lý sẽ là những thừa kế tốt phúc được hưởng nước trời của Cha, vì các con cùng chịu đau khổ với Cha; Cha ở đâu, các con cũng sẽ ở đó với Cha đời đời.”

 

“Hãy reo mừng, hỡi những người khó nghèo, hãy được an ủi hỡi những người đang và sẽ chịu đau khổ; vinh quang là phần của các con.”

 

“Hỡi những người bé nhỏ và những người bị bạc đãi khinh miệt ở đời này, những người chịu đau khổ cách khiêm nhượng nhẫn nại, chịu đau khổ mà trong lòng vui mừng, vì tất cả các con đang đi theo Cha trên đường chân lý.”

 

“Các con hãy từ bỏ phù vân, khinh chê phù hoa và ngạo mạn của thành Babylon giả trá dối gạt; các con hãy đi qua lửa và nước đau khổ cho tới khi nào các con đến được với Cha, Đấng là ánh sáng, là chân lý, là người hướng dẫn các con tới nơi nghỉ ngơi và no thỏa đời đời.”

Do sự hành hạ Chúa Giêsu phải chịu trước mặt thượng tế Caipha và hội đồng, mà cơn phẫn nộ của viên thượng tế, các phụ tá, thừa tác của ông ta được nguôi ngoai rất nhiều mặc dầu chưa hoàn toàn thỏa mãn. Nhưng vì lúc đó đã quá nửa đêm, toàn thể hội đồng những người ác độc này quyết định Chúa Cứu Thế phải bị giam giữ cẩn thận cho tới sáng, sợ rằng Chúa trốn thoát trong khi họ ngủ. Vì thế họ ra lệnh nhốt giam và khóa Chúa Cứu Thế, vẫn còn bị trói như lúc đầu trong những hầm tù dưới đất, loại phòng nhỏ hẹp nhốt tù dành riêng cho những tên trộm cướp táo bạo nhất và những đại trọng phạm. Hầm tù này dơ dáy hôi thối có thể làm cho dinh thượng tế bị xú uế, nếu như căn hầm tù này không ở sâu dưới mặt đất, cách xa nhà ở và cửa đóng kín.

 LỜI MẸ MARIA Con của Mẹ, nhờ ơn Chúa, con được mời gọi đến với những việc trọng đại liên quan các mầu nhiệm về các thống khổ Con cực thánh Mẹ và Mẹ phải chịu vì loài người. Con cũng biết loài người vô tâm bội bạc đã đền đáp quá ít đối với tình yêu vô biên và những đau đớn của Chúa Cứu Thế. Con có biết Mẹ, các thiên thần và các thánh nghĩ gì khi thấy thế giới ngày nay đang lâm vào tình trạng nguy hiểm khủng khiếp do sự cẩu thả của họ, mặc dầu họ có Khổ Hình Tử Nạn của Con cực thánh Mẹ ở trước mắt; có Mẹ là Mẹ và là Đấng Bầu Cử; có cuộc sống cực trong sạch của Chúa Giêsu và của Mẹ là gương sáng?

Mẹ nói cho con biết: chỉ có công nghiệp Con Một Chúa Cha và lời cầu bầu mà Mẹ dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu có thể diên trì được hình phạt, làm nguôi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa Cha, có thể trì hoãn việc hủy diệt thế giới và trừng phạt nặng nề các con cái hư đốn của Giáo Hội, những người biết thánh ý Chúa mà không thi hành (Gioan 15:15). Nhưng Mẹ hết sức buồn vì tìm được quá ít người chia sẻ nỗi buồn của Mẹ và cố gắng an ủi Con cực thánh Mẹ trong những thống khổ của Ngài (Tv 68:21). Sự cứng lòng này gây ra nhiều xấu hổ cho những người đó trong ngày chung thẩm. Khi đó với nỗi đau đớn không thể đền bù, họ sẽ thấy không những họ chỉ vong ân bội nghĩa, mà họ còn bất nhân dữ dằn ác độc đối với Con cực thánh Mẹ, đối với Mẹ và đối với chính họ nữa.

Vì thế, con hãy cân nhắc bổn phận của con, con yêu quí nhất của Mẹ, hãy nâng con lên vượt trên mọi thứ trần thế này, trên chính bản thân con nữa. Mẹ chọn gọi con bắt chước Mẹ, theo Mẹ vào cảnh cô đơn, nơi đó Mẹ bị bỏ rơi bởi chính những người mà Con Mẹ và Mẹ đã từng đeo đuổi kêu mời bằng quá nhiều ân sủng đặc biệt. Con hãy cân nhắc trong trái tim con, Chúa của Mẹ đã phải trả giá bao nhiêu để làm hòa nhân loại với Thiên Chúa Cha hằng hữu, giành lại cho họ tình thân hữu của Ngài (Col 1:22). Con hãy khóc thương quá nhiều người sống bội bạc vong ân như thế cùng quá nhiều người làm hết sức họ để tiêu diệt và làm mất đi những gì được mua bằng Máu chính Thiên Chúa. Họ cũng bỏ mất tất cả những gì mà, ngay từ giây phút đầu tiên bẩm thai, Mẹ đã tìm kiếm để đạt được cho việc cứu rỗi họ.

Con hãy làm thức dậy trong tim con sự buồn phiền sâu thẳm nhất vì trong Giáo Hội có quá nhiều người theo các linh mục phạm thánh, dưới lớp áo đạo đức giả, vẫn còn lên án Chúa Kitô. Sự kiêu căng, xa hoa cùng với những thói xấu nặng nề khác được nâng lên hàng chức quyền và được ca tụng, tính tham lam và phù vân giả tạo thắng thế. Trái lại sự khiêm nhượng, chân lý, sự công chính và tất cả các thánh đức bị đàn áp sỉ nhục. Ít người biết đến đức khó nghèo của Chúa Kitô, số người yêu mến thánh đức này càng ít hơn. Đức tin thánh thiện bị cản trở không được loan truyền giữa các dân tộc vì tham vọng vô bờ của những người quyền thế. Nơi nhiều người Công Giáo, đức tin thánh thiện trở nên thụ động và chết; dầu chút nào đức tin còn sót lại thì cũng hầu như chết và hư mất đời đời. Những lời Phúc Âm khuyên răn chỉ dạy bị quên lãng. Giáo huấn Phúc Âm bị chà đạp dưới chân. Đức bác ái hầu như tắt hẳn. Con của Mẹ là Thiên Chúa đích thực đã bình tĩnh nhẫn nhục đưa má ra để bị đánh đập và làm thương tổn (Thren. 3:30). Có ai chịu sỉ nhục vì bắt chước Chúa? Chỉ có sự đối nghịch được làm thành luật lệ ở thế giới này, không phải chỉ do những kẻ bất trung, mà còn do cả chính những con cái đức tin và ánh sáng nữa.

Khi thấy những tội lỗi này, Mẹ ước ao con bắt chước các việc Mẹ thi hành trong Cuộc Khổ Hình của Chúa và suốt đời Mẹ, đó là thực hành các thánh đức chống lại những thói xấu này. Để đền bù tội những người đó phạn thượng, Mẹ chúc tụng Thiên Chúa. Để đền bù lời thề của họ xúc phạm Thánh Danh Chúa, Mẹ ca ngợi Chúa. Để đền tạ tội họ không tin, Mẹ thi hành các hành động đức tin, và cũng như thế đối với mọi thứ tội lỗi khác của loài người. Đây là điều Mẹ ước mong con thi hành khi còn ở trần gian.

Con hãy cao bay xa chạy việc tiếp xúc nguy hiểm với các thụ tạo. Con hãy học gương thánh Phêrô vì con không vững mạnh hơn ngài, vị Tông Đồ của Chúa Kitô. Nếu con ngã vì yếu đuối, con hãy khóc tội con và lập tức xin Mẹ cứu giúp. Con hãy đền bù các tội lỗi và sự yếu đuối thông thường của con bằng việc kiên nhẫn chịu đựng, vui vẻ bình tĩnh chấp nhận mọi nghịch cảnh, bất kể nghịch cảnh đó là gì, có thể là bệnh tật hoặc những phiền nhiễu do tạo vật đưa tới, hoặc đó là những chống đối của xác thịt đối với linh hồn, hoặc từ những xung đột với kẻ thù hữu hình hoặc vô hình. Con có thể chịu đau khổ trong mọi thứ này, con phải chống đỡ bằng đức tin, đức cậy và tình yêu cao thượng. Mẹ nhắc con nhớ không có việc thực hành nào ích lợi cho các linh hồn bằng việc chịu đau khổ, vì chịu đau khổ đem lại ánh sáng, giải thoát khỏi sự lừa dối, tách rời trái tim ra khỏi những vật hữu hình, nâng trái tim lên với Thiên Chúa. Chúa sẽ đến gặp những người đau khổ, Chúa luôn ở với những người lâm cảnh buồn phiền đau khổ, gởi tới cho họ ơn bảo vệ và giúp đỡ của Ngài (Tv 40:15).

 

CHƯƠNG 6

 

* CHÚA GIÊSU BỊ GIẢI NẠP CHO PHILATÔ;

 

* CHÚA GIÊSU BỊ ĐÁNH ĐÒN VÀ ĐỘI MÃO GAI Theo lời các Thánh Sử (Mt 27:1, Mc 15:1, Lc 22:66, Gioan 11:47), sáng sớm ngày thứ Sáu, các kỳ lão, trưởng giáo và ký lục tụ họp để chung quyết án tử hình Chúa Giêsu. Tất cả những người đó đều muốn Chúa Giêsu phải chết; họ mưu mô làm cách nào cho có vẻ công lý trước mắt dân chúng. Hội đồng này tụ họp tại nhà thượng tế Caipha, nơi Chúa Giêsu bị giam giữ. Lần nữa họ cho lệnh điệu Chúa từ hầm tù dưới đất lên hội đường để chịu xét xử. Bọn lính lôi Chúa lên, vẫn còn bị trói và bị hành hạ như trước. Họ lại bắt Chúa nói cho họ biết Chúa có phải là Chúa Cứu Thế, là Đấng Được Xức Dầu không (Lc 22:67). Cũng y như lời chất vấn trong đêm thứ Năm, lời chất vấn hôm nay được đưa ra với ý định hiểm độc: không phải để nghe hoặc nhận biết sự thực, mà để vu khống và thêu dệt tội trạng chống lại Chúa. Nhưng Chúa Giêsu đã không chối cãi điều đó. Đồng thời Chúa không muốn tuyên bố theo cách mà họ có thể khinh thị lời Chúa, hoặc mượn từ đó ít màu mè cho lời họ vu khống. Chúa trả lời theo cách mà nếu các người biệt phái chọn chịu khuất phục cho dù đối với tình cảm ít tử tế nhất, hẳn họ có thể tìm ra được mầu nhiệm tàng ẩn trong lời Chúa. Nếu họ không có được tình cảm như thế, thì hiển nhiên qua lời họ: tội ác họ gán cho Chúa là kết quả những ý định ác độc của họ chứ không nằm trong lời Chúa đáp lại. Vì thế Chúa nói với họ: “Nếu Tôi nói với các ông (rằng) Tôi là Đấng Mà các ông hỏi, các ông cũng không tin lời Tôi; và nếu Tôi hỏi các ông, các ông cũng không trả lời, cũng không tha Tôi. Nhưng từ giờ phút này Con Người sẽ ngự bên hữu Đấng Toàn Năng”. Mọi người đồng thanh: “Vậy Ông là Con Thiên Chúa?” Chúa Giêsu đáp: “Các ông nói đó: Chính Là Tôi.” Lời này như là Chúa nói: Các ông suy diễn chính xác, Tôi là Con Thiên Chúa; vì mọi việc Tôi làm, các giáo lý của Tôi, và chính Sách Thánh, cũng như những điều các ông đang làm đối với Tôi, chứng minh sự thực Tôi là Chúa Cứu Thế, Đấng đã được hứa trong Sách Lề Luật.

Nhưng hội đồng những người ác độc này không có thiện chí nghe và hiểu lời chân lý Chúa nói, mặc dầu chính họ có thể suy luận rất đúng về sự thực đó rút từ Sách Thánh, và có thể dễ dàng tin lời Chúa. Họ không đồng ý, cũng không tin; nhưng thích gọi đó là lộng ngôn phạm thượng đáng phải chết. Vì lúc này Chúa Giêsu tái xác nhận những lời Chúa đã nói chiều hôm trước, họ đồng thanh kêu lên: “Chúng ta còn cần thêm chứng cớ gì nữa, vì chính miệng Nó xác nhận điều đó?” Họ lập tức đồng thanh kết luận rằng Chúa đáng phải chết, phải bị giải nạp cho Pontiô Philatô, đại diện Hoàng Đế La Mã làm Tổng Trấn xứ Judea.

Mặt trời đã mọc khi những việc này xảy ra, từ phòng cầu nguyện Mẹ Maria chứng kiến mọi việc. Mẹ quyết định rời khỏi phòng tĩnh tâm, đi theo Con cực thánh tới dinh Philatô, cho tới khi Chúa chết trên Thánh Giá. Khi Mẹ Maria sắp sửa rời khỏi Nhà Tiệc Ly, thánh Gioan tới tường trình với Mẹ mọi việc. Thánh Gioan không biết gì về các thị kiến mà qua đó Đức Hiền Mẫu Maria thấy rõ mọi sự việc và những đau khổ Con cực thánh Mẹ phải chịu. Sau khi thánh Phêrô chối Chúa, thánh Gioan rút ra xa theo dõi mọi diễn tiến. Ngài cũng nhìn nhận sự yếu đuối của mình vì chạy trốn trong Vườn Cây Dầu. Ngay khi gặp lại Mẹ Maria, thánh Gioan đã thú tội đó và xin Mẹ tha thứ. Ngài kể lại mọi việc xảy ra trong vườn Cây Dầu, các việc ngài đã làm và những điều ngài thấy trong khi đi theo Thầy chí thánh. Thánh Gioan nghĩ rằng cần phải chuẩn bị Mẹ Maria đau khổ cho cuộc tương phùng Con cực thánh, để Mẹ không bị tràn ngập bởi cảnh tượng hãi hùng trong hoàn cảnh hiện tại của Chúa. Thánh Gioan tìm cách nói với Mẹ Maria về một vài hình ảnh khổ hình Chúa phải chịu: “Thưa Mẹ yêu dấu, Thầy chí thánh của chúng ta phải chịu đau khổ biết chừng nào! Trái tim không thể nào không tan nát khi nhìn thấy Thầy; vì những đánh đập và đờm dãi, Khuôn Mặt cực đẹp của Thầy sưng húp và dơ dáy đến mức Mẹ khó mà nhận được Thầy.” Mẹ Maria lắng nghe thánh Gioan tường thuật; Mẹ khóc cay đắng đau đớn; Trái Tim Mẹ tan nát. Các phụ nữ thánh thiện, cùng đi với Mẹ Maria, cũng nghe các lời thánh Gioan tường thuật, các bà đều phiền sầu và kinh hoàng. Mẹ Maria yêu cầu thánh Gioan cùng đi với Mẹ và các phụ nữ: “Chúng ta hãy rảo bước, để chính mắt mẹ có thể nhìn thấy Con Thiên Chúa Cha hằng hữu, Đấng mặc thân xác loài người nơi lòng mẹ. Các bạn chí thiết của mẹ, các bạn sẽ thấy Chúa bị thúc đẩy bởi tình yêu thương nhân loại đến chừng nào, Chúa phải trả giá đắt chừng nào để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi, khỏi chết đời đời, và mở cửa thiên đàng cho họ.” 

Mẹ Maria đi qua đường phố Jerusalem, có thánh Gioan và một số phụ nữ thánh thiện đi theo. Nhưng chỉ có thánh Gioan, ba bà cùng tên Maria và một số bà rất đạo đức khác đã theo Mẹ tới cùng. Mẹ đã nhờ các thiên thần mở lối đến với Con chí thánh. Dọc đường Mẹ nghe người ta diễn tả ý kiến và tình cảm khác nhau về các việc lúc này đang xảy ra cho Chúa Giêsu Nazareth. Rất ít người có lòng trắc ẩn khóc thương Chúa. Những người khác nói tới việc các người thù ghét Chúa muốn đóng đanh Chúa. Những người khác nói lúc này Chúa đang ở đâu, bị điệu đi qua các đường phố, bị trói như tên đại trọng phạm. Người khác nữa nói tới những hành hạ thống khổ Chúa đang phải chịu. Có người hỏi Chúa đã làm điều gì tàn ác đến nỗi bị hành hạ quá sức như thế. Nhiều người sửng sốt và hoài nghi, la lên: “Những phép lạ Ông Ấy đã làm đem lại cho Ông Ấy đến thế này sao! Rõ ràng những phép lạ ấy chỉ là lừa đảo, vì Ông Ấy không tự bào chữa hoặc giải thoát!”

Các thiên thần hướng dẫn Mẹ Maria, qua những đám đông lũ lượt hỗn loạn, tới một góc phố, nơi đây Mẹ gặp Con cực thánh. Với lòng tôn kính sâu thẳm, Mẹ Maria quì sụp xuống đất thờ lạy Ngôi Vị Thiên Chúa, dâng lên Chúa việc tôn thờ thẳm sâu và nhiệt thành hơn như đã được hoặc sẽ được các thụ tạo thi hành đến muôn đời. Mẹ Maria chỗi dậy; Mẹ Con nhìn nhau vô cùng trìu mến, huyền nhiệm trao đổi sự đau buồn khôn tả. Mẹ Maria bước sang một bên đi theo, tiếp tục từ xa việc đàm thoại huyền nhiệm với Chúa Cứu Thế và với Thiên Chúa Cha hằng hữu. Không ai có thể diễn tả những lời linh hồn Mẹ Maria đối thoại với Chúa Cứu Thế và với Thiên Chúa Cha trong dịp này. Hình ảnh Con Thiên Chúa bị thương tích, bị làm cho dơ bẩn, bị trói, bị hành hạ ghi khắc vĩnh viễn không bao giờ phai mờ nơi linh hồn Mẹ, luôn hiện lên rõ ràng trước mắt Mẹ.

Chúa Cứu Thế bị điệu tới dinh Philatô, nhiều người trong hội đồng và vô số dân chúng đi theo. Những người đó, vì muốn giữ mình sạch theo luật để mừng Lễ Vượt Qua, đã cáo lỗi với Philatô, không vào dinh Tổng Trấn để nạp Chúa Giêsu. Philatô, mặc dầu là người ngoại giáo, đã nhượng bộ những thận trọng quá đáng về nghi lễ của họ. Khi thấy họ ngần ngại không vào trong dinh Tổng Trấn, Philatô đã đi ra gặp họ. Theo tập quán nghi lễ của người La Mã, Philatô hỏi họ: “Các ông cáo buộc Người Này tội gì?” Họ đáp: “Nếu Nó không phải là trọng phạm, chúng tôi đã không điệu Nó bị trói và đánh đập như thế này đến cho ông.” (Gioan 18:28). Nhưng Philatô gằn hỏi: “Những tội ác mà các ông cáo buộc Ông Ta là những tội gì?” Họ đáp: “Nó bị buộc tội phá rối công ích, Nó muốn tự mình làm vua chúng tôi và cấm nạp thuế cho Caesa (Lc 23:2); Nó tự xưng mình là Con Thiên Chúa, rao giảng giáo lý mới, khởi đầu từ Galilea, qua miền Judea và Jerusalem.” Philatô nói: “Tự các ông hãy đưa Ông Ta đi mà xét xử theo luật của các ông; tôi không tìm thấy nguyên cớ gì kết tội Ông Ta.” Nhưng các người đó đáp lại: “Chúng tôi không được phép kết tội chết cho ai, cũng không được thi hành bản án như thế.” Mẹ Maria, cùng với thánh Gioan và các phụ nữ đi với Mẹ, hiện diện tại cuộc đối chất này; các thiên thần đã sắp đặt cho Mẹ và các ngài chỗ đứng để có thể nghe và thấy mọi việc xảy ra. Mẹ Maria, núp trong khăn choàng đầu, đã khóc huyết lệ tuôn tràn vì nỗi đau đớn xuyên thấu Trái Tim cực trinh khiết. Bằng những hành động thánh đức âm thầm, Mẹ Maria đã trung thành lặp lại các hành động được Con cực thánh Mẹ thực hiện, trong khi đó Mẹ cũng chịu những đau đớn thống khổ y như trên Thân Xác cực thánh Chúa Giêsu. Mẹ Maria đã xin Thiên Chúa Cha hằng hữu cho Mẹ đặc ân luôn nhìn thấy Con cực thánh Mẹ, càng tự nhiên càng tốt, cho tới khi Chúa Giêsu chịu chết. Thiên Chúa Cha ban cho Mẹ đặc ân này, ngoại trừ thời gian Chúa Giêsu ở trong hầm tù.

Một trong những lời các người Do Thái và tư tế hiện diện cáo buộc Chúa Giêsu trước mặt Philatô là Chúa Giêsu đã khuấy động dân chúng bằng việc Chúa khởi sự giảng dạy ở xứ Galilea (Lc 23:6). Lời tố cáo này khiến Philatô hỏi có đúng Chúa Giêsu là người xứ Galilea không. Philatô nghĩ đây là cơ may có thể giúp ông ta giải quyết những khó khăn về Chúa Giêsu và thoát khỏi việc chọc giận những người Do Thái hiện diện, những người này cương quyết đòi Chúa phải chết. Herode dịp đó đang ở Jerusalem mừng Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Herode này là con của Herode I, người đã tàn sát các Thánh Anh Hài để mưu giết Chúa Giêsu ngay sau khi Chúa giáng sinh (Mt 2:16). Tên hôn quân sát nhân Herode I là người tòng Do Thái giáo khi cưới một phụ nữ Do Thái. Vì thế con ông ta, Herode (thứ) đã từ Galilea, nơi ông ta là Toàn Quyền, tới Jerusalem mừng Lễ theo luật Maisen. Philatô thù nghịch với Herode vì hai người cai trị hai miền chính của nước Palestine là Judea và Galilea, và trước đó không lâu Philatô, vì nhiệt thành với quyền tối thượng của đế quốc La Mã, đã tàn sát một số người Galilea khi họ thi hành phận sự chung trong đền thờ. Herode hết sức tức giận vì hành động phạm thánh này. Philatô, để làm hài lòng Herode một chút mà không mất mặt gì nhiều, đã quyết định gởi Chúa Giêsu tới cho Herode xét xử vì Chúa Cứu Thế là người thuộc vùng ông ta quản trị. Philatô cũng hy vọng Herode phóng thích Chúa Giêsu vì Chúa là Nạn Nhân của ác tâm đố kị của các tư tế và ký lục.

Herode rất hoan hỉ khi được thông báo Philatô sẽ gởi Đức Giêsu Nazareth tới cho ông ta. Herode biết Chúa Giêsu là bạn chí thiết của thánh Gioan Tẩy Giả, người mà Herode đã ra lệnh chặt đầu (Mc 6:27), và ông ta đã nghe nói nhiều về việc Chúa giảng dạy. Vì tò mò và điên khùng, Herode nuôi ảo vọng được thấy Chúa Giêsu làm phép lạ để thoả mãn lòng hiếu kỳ của ông ta (Lc 23:8). Vì thế, Đấng tạo dựng muôn loài đã đến trước mặt tên sát nhân Herode. Nhưng tên hôn quân bất hạnh đó, không biết được sự phán xét kinh sợ của Đấng Toàn Năng, đã đón Chúa bằng tiếng cười lớn ngạo nghễ chẳng khác gì Chúa là thầy bùa làm trò ảo thuật. Herode hạch hỏi Chúa, y tin chắc có thể bắt Chúa làm phép lạ để thoả mãn hiếu kỳ của y. Nhưng Chúa sự khôn ngoan thận trọng, đứng đó với thái độ kín đáo khiêm tốn trước mặt viên quan toà bất xứng nhất, đã không nói một lời. Vì những việc ác độc ông ta đã làm, ông ta đáng bị hình phạt không đáng được nghe lời hằng sống.

Các chức sắc và tư tế Do thái hiện diện không ngừng nhắc lại cũng những lời cáo buộc họ đã nói với Philatô. Nhưng Chúa vẫn im lặng trước những vu khống này, càng làm cho Herode thất vọng. Chúa Giêsu không hề hé môi trả lời các câu hỏi của ông ta, Chúa cũng không hé môi bác bỏ những lời cáo buộc. Herode hoàn toàn không xứng đáng nghe chân lý, đây là hình phạt nặng nhất dành cho ông ta và là hình phạt đáng kinh sợ nhất đối với các thế lực trần gian. Herode lúng túng bực bội vì sự im lặng hiền lành của Chúa Cứu Thế và thất vọng vì tính hiếu kỳ hão huyền của ông ta. Nhưng viên quan toà bất công đó cố gắng che giấu sự bối rối bằng cách đã cùng với đám lính hầu giễu cợt, chế nhạo, đánh đấm, cho khoác áo lụa trắng lên mình Chúa, rồi cho điệu trả lại cho Philatô. 

Philatô lại phải đối diện với Chúa Giêsu, lại bị áp lực buộc kết án Chúa chết trên thập giá. Tin chắc Chúa Cứu Thế vô tội nhưng bị giới lãnh đạo Do Thái thù ghét, Philatô bối rối vì Herode trao lại việc phán quyết bất công cho ông ta. Thấy mình phải xét xử và đưa ra phán quyết, Philatô tìm nhiều cách làm nguôi lòng hận thù của những người đó. Một trong những cách đó là tiếp xúc riêng với một số tay chân, bạn bè của các thượng tế và biệt phái. Philatô thúc giục những người này thuyết phục chủ và bạn hữu của họ đừng xin tha tên bất lương Barabas nữa mà xin tha Chúa Cứu Thế; và thuyết phục họ bằng lòng với hình phạt nào đó mà Philatô sẵn sàng cho áp dụng trước khi phóng thích Chúa Cứu Thế. Philatô đưa ra đề nghị chọn lựa phóng thích hoặc Barabas hoặc Chúa Giêsu, không phải chỉ một lần, mà tới hai hoặc ba lần. Lần thứ nhất trước khi gởi Chúa tới cho Herode, lần thứ nhì sau khi Chúa bị điệu trở lại; các Thánh Sử tường thuật sự kiện này hơi khác đôi chút, tuy nhiên không trái với sự thực (Mt 27:17). Philatô nói với những người tố cáo Chúa Giêsu: “Các người đưa Vị Này đến trước mặt tôi, cáo buộc Ông Ấy đưa dân chúng vào con đường lầm lạc vì những giáo lý mới; tôi đã xét xử trước mặt các người, tôi không tìm thấy sự thực trong lời các người cáo buộc. Tôi đã gởi Vị Này tới cho Herode. Các người lặp đi lặp lại cũng những lời tố cáo đó, nhưng Herode đã từ chối không kết tội Vị Này. Hẳn là đủ nếu sửa phạt Ông Ta lần này để Ông Ta có thể sửa đổi. Vì một đại phạm nhân sẽ được phóng thích dịp Lễ Vượt Qua, tôi sẽ phóng thích Ông Kitô, các người có bằng lòng phóng thích Ông Ấy và xử Barabas không?” Nhưng những người hiện diện, vì bị xúi bẩy, đồng thanh la lên: “Không phải, không phải, không phải Kitô, mà hãy phóng thích Barabas cho chúng tôi.”

Trong khi Philatô đang nói với dân Do thái ở tiền đường, vợ ông ta, bà Procula, nhắn nói với ông ta: “Ông làm gì với Vị Này vậy? Hãy để cho Ngài đi tự do; vì hôm nay tôi có nhiều giấc mơ về Ngài!” Bà Procula hết sức sợ hãi vì những điều thấy trong giấc mơ. Ngay khi nghe biết các việc đang xảy ra giữa người Do thái và chồng bà, bà gởi đến ông chồng lời cảnh cáo: “Đừng dính líu gì tới Vị Này, cũng đừng kết án Ngài phải chết” (Mt 27:19). Philatô bắt đầu cuộc mặc cả lần thứ ba, khẳng định Chúa Kitô vô tội và nhấn mạnh nhiều lần rằng ông ta không tìm thấy nơi Chúa lỗi lầm nào để đáng phải chết, vì thế ông ta sẽ cho đánh đòn rồi phóng thích (Lc 23:22). Philatô đã thực sự trừng phạt đánh đòn Chúa Kitô để xem những người Do Thái hiện diện đó có hài lòng không. Nhưng những người đó nhất quyết đòi Chúa Kitô phải chịu đóng đanh thập giá. Vì thế Philatô sai lấy nước rửa tay và phóng thích Barabas. Philatô rửa tay trước mặt mọi người và nói: “Tôi không dính dáng gì tới cái chết của Người Công Chính Này do các ngươi kết án. Các ngươi phải chịu trách nhiệm mọi việc các ngươi đang làm. Tôi rửa tay để các ngươi hiểu rằng tôi không bị dơ vì máu Người Vô Tội.” Philatô nghĩ rằng với nghi thức rửa tay, ông ta có thể hoàn toàn được xá miễn, có thể trút trách nhiệm tội ác đó lên đầu các chức sắc và người Do Thái đòi giết Chúa Cứu Thế. Những người hiện diện quá sức mù quáng điên khùng dại dột, đến mức để đạt được việc Chúa Giêsu chịu đóng đanh trên thập giá, họ đã thoả thuận với Philatô, tự nhận lấy cho mình và cho con cháu trách nhiệm về tột độ đại trọng tội này.

Trong dinh Philatô, các thiên thần sắp đặt để Mẹ Maria đứng tại địa điểm mà từ đó có thể nghe những lời thương lượng của viên quan tòa bất công bất lực Philatô với các ký lục và tư tế liên quan đến sự vô tội của Chúa Cứu Thế, về việc họ muốn phóng thích Barabas hơn Chúa Kitô. Y hệt Con chí thánh, Mẹ Maria đã im lặng nhẫn nhục nghe tất cả những tiếng gầm rống giận dữ của lũ cọp người này. Mặc dầu Mẹ bình tĩnh, khiêm tốn, mọi lời nói ác độc của những người đó đã đâm thủng trái tim đau khổ Mẹ. Những tiếng nói của nỗi thống khổ không cất thành lời của Mẹ Maria được Thiên Chúa Cha hài lòng âu yếm lắng nghe hơn lời than khóc của mỹ nhân Rachael không ngừng khóc các con bà vì chúng không được hồi sinh (Jer. 31:15). Mẹ Maria, Rachael tuyệt vời của chúng ta, đã không oán hận, nhưng xin ơn tha thứ cho các kẻ thù, bọn này đã cướp đi Con Một vô cùng yêu dấu Thiên Chúa Cha và của Mẹ. Mẹ Maria bắt chước mọi hành động của linh hồn cực thánh Chúa Kitô, theo Chúa trong các việc làm cực kỳ thánh thiện trọn lành. Những đày đọa thống khổ Mẹ phải chịu không thể cản trở lòng Mẹ yêu thương. Sự đau đớn không làm giảm bớt lòng nhiệt thành của Mẹ. Sự bối rối không thể làm Mẹ bớt chú ý. Những hành hạ tàn bạo của đám đông cũng không cản được Mẹ tập trung nội tâm. Dưới bất cứ hoàn cảnh nào Mẹ cũng thực hành các thánh đức cao cả nhất với mức độ siêu việt nhất.

Lucifer xúi giục các tư tế và biệt phái bằng tất cả mưu mô ác độc kinh khủng dã man tàn ác. Philatô bị đặt giữa chân lý và các nhận xét có tính cách nhân loại của mình đã chọn theo những chỉ dẫn lầm lạc của loài người. Ông ta ra lệnh Chúa Giêsu phải chịu đánh đòn hết sức dã man, mặc dầu chính ông ta đã từng tuyên bố Chúa không có tội tình gì (Gioan 19:1). Bọn tay sai của Satan cùng với nhiều người khác đưa Chúa Giêsu tới nơi hành hình tra tấn. Đây là cái sân dành riêng cho việc tra tấn trọng phạm để bắt thú nhận tội trạng. Sân này có tường thấp vây quanh, có lối ra vào để ngỏ, có những trụ đá, một số cột cao chống đỡ mái nhà, và một vài cột thấp hơn rải rác.

Trước hết chúng lột áo dài màu trắng, hành động này cũng sỉ nhục không kém khi chúng khoác lên mình Chúa áo lụa này tại dinh của tên hôn quân sát nhân Herode (thứ). Khi cởi dây thừng và xích sắt trói tay Chúa liên tục từ lúc khởi đầu trong vườn Cây Dầu, bọn lý hình đã ác độc mở rộng các thương tích do dây trói tạo ra nơi cánh tay và cổ tay Chúa. Sau khi đã thả lỏng hai bàn tay Chúa, chúng hỗn hào ra lệnh cho Chúa tự mình lột áo dài không có đường may Chúa mặc lót bên trong. Đây chính là chiếc áo Mẹ Maria đã mặc cho Chúa ở Ai Cập ngày Chúa chập chững biết đi.

Bọn lý hình ác độc trói Chúa trần truồng vào một trong các trụ đá và đánh vô cùng tàn nhẫn. Cặp lý hình thứ nhất khởi sự đánh Chúa bằng roi tua gồm những sợi dây thừng to cứng, có nhiều nút thắt. Với thú tính tột cùng man rợ, chúng dồn hết sức lực vào những roi đòn giáng xuống Thánh Thể Chúa. Trận đánh đầu tiên này tạo ra trên Thánh Thể Chúa những lằn roi lớn chằng chịt, những chỗ sưng vù bầm tím; máu thánh tụ lại dưới làn da làm biến thể toàn thân Chúa. Rồi máu từ các vết thương vọt ra. Sau khi đánh Chúa một lúc lâu, cặp lý hình thứ nhất ngừng tay. Cặp thứ nhì tiếp tục trận đánh còn dữ dội dã man hơn nhiều. Chúng quất ngọn roi tua bằng da cứng trên khắp những nơi đã bị thương làm cho những chỗ máu tụ vỡ tung ra; máu thánh Chúa tuôn xối xả bắn tung tóe làm ướt sũng áo quần bọn lý hình phạm thánh, chảy xuống đất như suối. Cặp lý hình thứ nhì nhường chỗ cho cặp thứ ba. Hai tên này đánh Chúa bằng roi da sống thật cứng, khô cứng như những cành liễu gai. Cặp thứ ba này đánh Chúa còn dữ dằn ác độc hơn hai cặp trước, vì chúng không gây ra thương tích trên thân xác tinh tuyền của Chúa nhưng xoáy vào các vết thương do hai cặp trước tạo ra. Hơn nữa hai tên này còn bị bọn quỉ dữ âm thầm xúi giục làm cho căm tức dữ dội hơn nữa, lũ ác quỉ vô cùng căm tức vì đức nhẫn nhục của Chúa Cứu Thế.

Vì các mạch máu trên Thánh Thể Chúa lúc này đã bị mở ra hết, khắp châu thân Chúa là một khối thương tích liền không nơi nào lành, cặp lý hình thứ ba không tìm được điểm nào để chúng tạo ra thương tích mới. Những roi đòn dã man ác độc chúng liên tiếp trút xuống đã xé da thịt tinh tuyền không tì vết của Chúa Cứu Thế, làm cho nhiều mảnh da thịt lớn bằng bàn tay bắn tung tóe rải rác trên đất để lộ xương vai, xương sườn. Vì không còn một chỗ nào để chúng có thể phát tiết con giận dữ hận thù đối với Con Chiên vô cùng thanh khiết này, và để hủy hoàn toàn vẻ đẹp tuyệt vời hơn hết cả loài người (Tv 44:3), chúng đánh trên hai bàn tay, hai bàn chân và mặt Chúa. Trận đánh vào mặt, hai bàn tay và hai bàn chân làm cho Chúa đau đớn khôn tả. Khuôn mặt cực thánh Chúa sưng vù, cặp mắt sưng húp không mở ra được. Ngoài những roi đòn đánh, bọn lý hình còn khạc nhổ đờm dãi vào Chúa và lăng nhục Chúa (Thren. 3:30). Chúa, Đấng tạo thành muôn loài bị hạ xuống thành một người đầy đau khổ như đã được tiên báo, phải mang những yếu nhược của chúng ta, trở nên chót cùng trong loài người (Is. 53:3), một người đầy những đau đớn, bị ruồng bỏ giữa muôn người.

Đám đông đi theo Chúa đứng đầy sân dinh Philatô và các đường phố chung quanh, họ ngóng chờ kết quả biến cố này, trao đổi về biến cố này theo quan điểm từng người. Giữa những rối loạn này, Mẹ Maria cực trinh khiết phải nghe những lời sỉ nhục tột cùng, những lộng ngôn phạm thượng chồng chất trên Con cực thánh. Khi chúng điệu Chúa tới nơi tra tấn, Mẹ Maria, các bà cùng tên Maria và thánh Gioan rút vào đứng tại một góc sân; tại đây Mẹ, được thị kiến linh thánh trợ giúp, chứng kiến mọi tra tấn hành hạ Chúa Cứu Thế.

Chúng ta không thể nào hiểu những đau đớn buồn phiền Mẹ Maria phải chịu lớn lao và gồm nhiều loại khác nhau, Mẹ Maria cảm thấy nơi thân xác Mẹ những hành hạ đau đớn nơi thánh thể Chúa Kitô, Con Mẹ. Khi Chúa Cứu Thế chịu cực hình tra tấn đánh đòn, Mẹ Maria cảm thấy những đau đớn khắp châu thân cùng một cường độ như Chúa Giêsu cảm thấy trên thánh thể Chúa. Mặc dầu trên xác thánh Mẹ không có máu chảy ngoại trừ huyết lệ từ cặp mắt Mẹ trào ra, không có thương tích da thịt rách nát trên thân xác cực trinh khiết Mẹ. Những đau đớn cũng đã làm cho khuôn mặt Mẹ bị méo mó, đến độ thánh Gioan và các phụ nữ thánh thiện không thể tìm được trên mặt Mẹ chút nào hình dáng lúc bình thường.

Bọn lý hình đưa Chúa Giêsu trở lại sân dinh tổng trấn, tại đây, cũng mức độ ác độc tàn bạo và khinh miệt như trước, chúng lại lột áo Chúa ra, rồi khoác lên mình Chúa tấm áo choàng mầu tím rách rưới dơ bẩn để nhạo báng là vua giả. Chúng đặt trên đầu Chúa cái vương mão giả bằng gai sọng (Gioan 19:2). Chúng chủ tâm hướng hầu hết các gai lớn cứng vào phía trong để đâm vào đầu Chúa, một số gai đâm vào hai bên thái dương và trán Chúa. Khổ hình đội mão gai làm cho Chúa Giêsu đau đớn vô cùng. Chúng đặt vào tay Chúa khúc sậy dơ bẩn làm vương trượng hoặc phủ việt gỉa. Chúa, Đấng từ chính bản tính và quyền năng của mình là Vua các vua, Chúa trên hết các chúa, đã bị hóa trang trong y phục vua giả (Kh 19:16). Kế đó, trước mặt các tư tế và biệt phái, tất cả các tên lính hiện diện đã chồng chất lên Chúa những lời chế giễu phạm thượng và trò hề của chúng. Một vài đứa quì gối trước mặt Chúa chế nhạo: “Xin Thiên Chúa bảo vệ Ngài, muôn tâu Vua Do Thái.” Một số đứa đấm đánh Chúa, nhiều tên lính khác giựt lấy khúc cây trong tay Chúa và đánh trên mão gai, những tên khác khạc nhỗ đờm dãi vào mặt và miệng Chúa. Tất cả bọn lính, bị ma quỉ xúi giục, đã sỉ nhục hành hạ Chúa bằng nhiều cách khác nhau.

Philatô nghĩ rằng hình ảnh một người bị hành hạ quá sức tàn nhẫn như Đức Giêsu Nazareth hẳn làm cảm động và trút đầy sự xấu hổ vào trái tim bọn người bội bạc đó. Ông ta cho lệnh đưa Chúa Giêsu từ công đường ra một cửa sổ ngỏ, nơi mọi người có thể thấy Chúa với mão gai trên đầu, không còn nguyên vẹn hình hài vì trận đòn đánh và y phục vua giả nhục nhã. Philatô nói với đám đông: “Ông Ta đây!” (Gioan 19:5). Lời này của Philatô có thể được hiểu: “Các ngươi hãy nhìn xem Người Này, Người mà các ngươi coi là thù địch của các ngươi! Tôi có thể làm gì cho Ngài hơn là đã phạt theo cách khốc liệt như thế này. Hẳn các ngươi không còn gì phải sợ gì nữa.”

Mẹ Maria, Đấng được chúc phúc hơn hết mọi phụ nữ, nhìn thấy Con của Mẹ khi Philatô đưa Chúa ra cho dân chúng thấy và nghe ông ta nói: “Ông Ta đây!”, đã quì xuống công khai thờ lạy Chúa là Thiên Chúa thực và người thực. Thánh Gioan, các phụ nữ thánh thiện, cùng với các thiên thần hộ vệ Mẹ Maria cũng quì xuống công khai thờ lạy Chúa; vì các ngài thấy không phải chỉ riêng Mẹ Maria, Mẹ Chúa Cứu Thế, mà chính Thiên Chúa Cha cũng muốn mọi người hành động như thế.

LỜI MẸ MARIA

 

Con yêu quí của Mẹ, con hãy nghĩ kỹ xem con muốn chọn phần nào trong những phần này trước mặt Con Mẹ và Mẹ. Nếu con thấy Chúa Cứu Thế, Đức Phu Quân và Chúa của con, bị hành hạ, đánh đập, đội mão gai và phủ ngập những lời chửi rủa, đồng thời con muốn dự phần với Chúa, là thành phần trong nhiệm thể Chúa, thì hẳn là không xứng hợp chút nào nếu con sống miệt mài trong khoái lạc xác thịt. Con phải là người bị hành hạ chứ không thể là kẻ hành hạ, người bị đàn áp chứ không thể là kẻ đàn áp; là người vác thánh giá, người đương đầu chịu đựng mọi sỉ nhục, nhưng không phải là người sỉ nhục; là người chịu đau khổ chứ không làm cho người khác đau khổ.

Đây là phần dành cho các bạn hữu của Thiên Chúa và là phần gia tài của con cái Chúa trong đời sống trần gian. Trong phần gia nghiệp này có sự tham dự vào ân sủng, vinh quang, mà Con và Chúa của Mẹ đã mua cho họ bằng những hành hạ nguyền rủa sỉ nhục, bằng cái chết trên Thánh Giá. Cả Mẹ nữa, Mẹ cũng đã cộng tác trong việc này và phải trả bằng những thống khổ đau đớn như con đã hiểu, Mẹ muốn không bao giờ con để cho bị xoá đi trong ký ức của con. Dĩ nhiên Chúa có đủ quyền năng làm vẻ vang những người được tuyển chọn ngay khi họ còn ở trần thế, ban cho giàu sang của cải, những đặc ân vượt trên mọi người khác, làm cho dũng mãnh như sư tử để đặt các người khác dưới quyền lực vô địch của họ. Nhưng Thiên Chúa không làm vẻ vang những người Ngài yêu thương theo cách này, để nhân loại khỏi rơi vào lầm lạc, khi nghĩ rằng sự cao cả vĩ đại gói ghém trong các thứ hữu hình và hạnh phúc nơi của cải trần thế; để họ khỏi bị xúi giục bỏ đường thánh đức và làm mờ vinh quang Thiên Chúa; để họ được nếm hiệu lực ân sủng Thiên Chúa, không ngừng khao khát hướng về những thứ siêu nhiên vĩnh cửu. Đây là khoa học Mẹ muốn con không ngừng nghiên cứu học hỏi, suốt đời con phải mỗi ngày mỗi thăng tiến, thực hành các điều con học hiểu và biết được.

 

CHƯƠNG 7

 

 ĐƯỜNG THÁNH GIÁ

Phán quyết Philatô kết án Chúa Cứu Thế được lớn tiếng công bố. Bọn lý hình chất Thánh Giá nặng lên vai Chúa đầy thương tích. Để Chúa có thể vác Thánh Giá, chúng cởi các dây trói tay Chúa. Nhưng để sỉ nhục hành hạ Chúa hơn nữa, bọn lý hình cột hai thòng lọng quanh cổ và thắt lưng Chúa. Thánh Giá dài gần ba mét, bằng gỗ dày và nặng. Viên quan phụ trách loan báo bản án. Giữa tiếng ồn ào huyên náo vô trật tự, bọn lý hình, quân lính cùng với toàn thể đám đông hỗn độn bắt đầu di chuyển từ dinh Philatô qua các đường phố Jerusalem tới đồi Golgotha. Chúa Giêsu, Thiên Chúa Cứu Thế, trước khi nhận Thánh Giá, đã hân hoan vui vẻ nhìn Thánh Giá chẳng khác gì chàng rể ngắm nhìn cô dâu trang sức lộng lẫy, và nói khi đón nhận Thánh Giá:

  “Hỡi thánh giá, niềm yêu dấu của linh hồn Ta, bây giờ ngươi được chuẩn bị sẵn sàng làm dịu nhẹ các khát khao Ta mong đợi. Thánh giá hãy đến với Ta, để Ta có thể được đón nhận trong vòng cánh ngươi và gắn chặt vào ngươi như trên bàn thờ. Do đó, Ta được Thiên Chúa Cha hằng hữu chấp nhận làm Hy Lễ dâng hiến cho việc làm hoà Thiên Chúa Cha với nhân loại đến muôn muôn đời. Để chết trên thánh giá, Ta đã từ trời xuống thế mang thân xác hay chết và chịu đau khổ. Thánh giá là vương trượng Ta dùng để chiến thắng mọi kẻ thù, là chìa khoá Ta mở cửa thiên đàng cho mọi người được tuyển chọn (Is. 22:22). Thánh giá là nơi nương náu mà tại đó con cháu tội lỗi của Adong tìm được lòng thương xót, là kho tàng đổi sự nghèo nàn của chúng thành giàu sang sung mãn. Nơi ngươi, hỡi Thánh Giá, Ta ước ao đề cao và ký thác mọi sỉ nhục cho loài người, để các bạn hữu của Ta có thể tha thiết tìm kiếm, vui vẻ ấp ủ các thứ đó, và theo Ta trên con đường mà qua thánh giá Ta sẽ mở cho họ.”

  “Lạy Cha và Thiên Chúa hằng hữu của Con, Con xưng tụng Cha là Chúa trời đất (Mt 11:15). Con tuân phục quyền năng và thánh ý Cha, Con mang trên vai Thánh Giá để hiến dâng nhân tính tinh tuyền vô tội và chịu đau đớn của Con. Con vui lòng chấp nhận hy sinh để cứu chuộc nhân loại. Lạy Thiên Chúa Cha hằng hữu, xin nhận Hy Lễ này làm của lễ được chấp nhận để đền bù đức công thẳng của Cha, ngõ hầu từ nay trở đi, nhân loại không còn là tôi tớ nhưng là con cái và cùng với Con thừa hưởng vương quốc Cha” (Rom 8:17).

 Mẹ Maria chứng kiến và thấu triệt không sót một chi tiết nào các mầu nhiệm thánh hoá này. Những biến cố Mẹ Maria không nhìn thấy trực tiếp đã được Mẹ nhìn thấy bằng thị kiến. Mẹ thấy rõ mọi diễn tiến nội tâm của Con chí thánh. Nhờ ánh sáng từ Thiên Chúa, Mẹ Maria nhận biết giá trị vô cùng của Thánh Giá ngay khi chạm vào nhân tính cực thánh vô cùng châu báu Chúa Cứu Thế. Lập tức Mẹ Maria sâu thẳm tôn kính Thánh Giá. Các thiên thần hộ vệ Mẹ cũng tôn kính Thánh Giá như thế. Mẹ bắt chước Con chí thánh trong những biểu lộ trìu mến mà Chúa Giêsu đã đón nhận Thánh Giá. Mẹ nói với Thánh Giá bằng những lời thích hợp với địa vị Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc.

  Khi nghe viên sĩ quan truyền hịch lặp đi lặp lại bản án qua các đường phố, để phản đối những lời vu khống trong bản án; Mẹ sáng tác một số ca vịnh chúc tụng thờ lạy sự tinh tuyền vô tội của Con cực thánh và là Chúa của Mẹ. Với tình yêu cực độ, Mẹ Maria kiên trì chịu những nỗi đau đớn và bắt chước Chúa Giêsu. Mẹ không để cho những đau đớn thể xác và tinh thần giảm bớt, cho dù chỉ một vài ý nghĩ an ủi cũng không, ngoại trừ những lúc Mẹ được Thiên Chúa Cha viếng thăm. Chỉ khi đó, Mẹ mới tiếp nhận sự an ủi với lòng khiêm tốn tri ân để hồi phục thể lực ngõ hầu tham dự nhiệt thành hơn nữa mục tiêu những đau buồn của Mẹ và sự nghiệp các thống khổ của Chúa Giêsu.

 Một điều lạ lùng được giấu kín và đáng ngạc nhiên đã được quyền năng Thiên Chúa thực hiện qua Mẹ Maria chống lại Lucifer và đồng bọn phản thần. Điều lạ lùng đó là Lucifer và đồng bọn, mặc dầu không hiểu được sự khiêm nhượng của Chúa Giêsu, hết sức chăm chú theo dõi mọi việc xảy ra trong Cuộc Khổ Hình Cứu Chuộc. Khi Chúa Giêsu vác Thánh Giá, toàn thể các phản thần thù nghịch đều cảm thấy sức chấn động khiến chúng kinh hoàng vì bị yếu nhược và khốn khổ cùng cực. Vì ý thức những cảm giác lạ lùng vô phương chống cự này, Lucifer lo sợ rằng, trong Cuộc Khổ Hình Tử Nạn của Chúa Kitô, sự hủy diệt khốc liệt vô phương đền bù đối với quyền hạn nó xảy ra đến nơi rồi. Để không bị bó tay vì việc đó trước sự hiện diện của Chúa Kitô, rắn già Lucifer quyết định rút lui, cùng với bọn phản thần theo nó trốn về hỏa ngục. Nhưng khi Lucifer tìm cách thi hành ý định này, nó bị Mẹ Maria, Đức Nữ Vương cao cả và Bà Chúa mọi tạo vật, ngăn cấm. Thiên Chúa cho Mẹ biết mọi việc phải làm, đồng thời ban quyền lực Thiên Chúa cho Mẹ. Mẹ Maria, Bà Chúa thiên đàng, nhìn về phía Lucifer và các phản thần theo nó, bằng uy quyền tuyệt đối, Mẹ ngăn cấm không cho chúng trốn chạy. Mẹ ra lệnh bắt chúng phải chờ đợi và chứng kiến Cuộc Khổ Hình của Chúa cho tới kết cuộc trên đồi Golgotha.

 Lũ quỉ không thể nào cưỡng lại lệnh Mẹ Maria, Đức Nữ Vương uy quyền, vì chúng nhận ra và cảm thấy quyền năng Thiên Chúa tác động trong Mẹ. Lũ quỉ phải tuân phục quyền lực Mẹ Maria, và chúng, như lũ tội nhân chân tay bị xiềng xích, bị lôi đi theo Chúa Kitô lên đồi Golgotha, nơi Đấng Khôn Ngoan hằng hữu đã quyết định chiến thắng chúng từ ngai tòa Thánh Giá. Không thể nào minh họa sự thất đảm mất tinh thần đè nặng trên Lucifer và lũ quỉ theo nó. Chúng đi lên đồi Golgotha chẳng khác gì những đại trọng phạm bị kết án chết khủng khiếp, bị cầm giữ bởi sự thất đảm kinh sợ một hình phạt không thể tránh.

 Bọn lý hình lôi Chúa Cứu Thế đi cách tàn bạo cùng với những sỉ nhục thậm tệ không thể tưởng. Một vài đứa bất chợt lôi mạnh bắt Chúa bước đi mau, trong khi đó những đứa khác lôi ngược lại. Vì những cái lôi mạnh bất thình lình này và Thánh Giá nặng làm cho Chúa bước đi chệnh choạng, nhiều lần ngã sấp ngã dụi. Vì những lần ngã nặng đập xuống đá, các vết thương lớn được khơi rộng, nhất là các vết thương ở hai đầu gối bị khơi rộng dần vì những lần ngã kế tiếp nhau. Thánh Giá nặng cũng gây thương tích trên vai. Bước chệnh choạng, Thánh Giá đập vào đầu Chúa, mão gai đâm vào đầu sâu hơn và gây thêm thương tích. Ngoài những hành hạ thánh thể Chúa, bọn thừa tác Lucifer còn thêm những lời sỉ nhục thậm tệ, khạc nhổ đờm dãi dơ bẩn, ném đất bụi dọc đường vào mặt Chúa, chúng làm mù cặp mắt nhìn chúng với lòng nhân từ bao la. Vì hận thù và mong thấy Chúa chết, chúng lôi Chúa đi không để cho kịp thở nữa. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ chìm ngập trong những cơn giông bão hành hạ liên tiếp, thánh thể cực tinh tuyền vô tội của Chúa đã quá đuối sức; Chúa sẵn sàng dâng hiến mạng sống vì đau đớn thống khổ tột cùng.

 Từ dinh Philatô, Mẹ Maria sầu bi đau khổ, cùng với đám đông, đi theo Con chí thánh, có thánh Gioan và các phụ nữ đạo đức đồng hành. Khi đám đông mỗi lúc mỗi đông thêm, Mẹ không tới gần Chúa được, Mẹ xin Thiên Chúa Cha cho Mẹ được đứng nơi chân Thánh Giá Con cực thánh và chính mắt Mẹ được nhìn thấy Chúa tắt thở. Được Thiên Chúa Cha chấp thuận, Mẹ Maria yêu cầu các thiên thần sắp xếp mọi thứ để Mẹ có thể thực hành mọi điều ước nguyện. Các thiên thần đã đưa Mẹ Maria đi qua một vài đường hẻm tới nơi Mẹ có thể gặp Chúa Giêsu Con Mẹ. Chúa Giêsu và Mẹ Maria sung sướng khi tương phùng, cùng nhau làm mới lại các mối thương đau trong lòng. Nhưng Mẹ và Con không nói với nhau được lời nào vì lòng ác độc lang sói của bọn lý hình không cho phép cuộc gặp gỡ hàn huyên như thế. Mẹ Maria đã thờ lạy Con cực thánh và Thiên Chúa của Mẹ đang vác Thánh Giá nặng. Mẹ âm thầm xin Chúa soi dẫn cho bọn thừa tác của lòng ác độc này tìm kiếm người nào đó vác Thánh Giá giúp Chúa, vì chính Mẹ không thể thi hành, Mẹ cũng không được phép nhờ các thiên thần giúp việc này. Lời Mẹ xin được Chúa Kitô chấp nhận, nên ông Simon thành Cyrene đã vác đỡ Thánh Giá Chúa (Mt 27:32). Những người biệt phái và bọn lý hình dao động, một vài người do lòng thương cảm tự nhiên, những người ác độc khác sợ Chúa Kitô có thể chết vì kiệt lực trước khi chết trên Thánh Giá.

 Nỗi đau thương của Đức Trinh Mẫu Maria vượt quá sức tưởng tượng của loài người khi Mẹ chứng kiến Con cực thánh vác Thánh Giá lên đồi Golgotha. Chỉ một mình Mẹ hiểu được chính xác và yêu Chúa đúng với giá trị đích thực của Chúa. Mẹ Maria không thể nào sống qua cơn đau khổ này nếu không được quyền năng Thiên Chúa tăng thêm sức mạnh bảo vệ mạng sống Mẹ. Với nỗi thống khổ đắng cay tột cùng, Mẹ âm thầm nói với Chúa: “Con và Thiên Chúa hằng hữu của mẹ, Ánh Sáng mắt mẹ, Sức Sống linh hồn mẹ, xin hãy nhận, lạy Chúa, xin hãy nhận hy lễ do việc mẹ không thể làm nhẹ bớt gánh nặng Thánh Giá cho Con vì mẹ, một con gái Adong, không thể vác Thánh Giá của Con. Mẹ ước ao chết trên Thánh Giá vì yêu Con, như lúc này Con ước ao chết vì yêu thương nhân loại. Lạy Đấng Trung Gian tột đỉnh yêu dấu giữa tội lỗi và phép công thẳng! Chúa ấp ủ lòng thương xót biết chừng nào giữa những hành hạ thương đau quá sức khủng khiếp và những xúc phạm cực kỳ tàn ác ghê gớm như thế! Lạy lòng thương xót vô biên từng cho phép những hành hạ sỉ nhục tột cùng xảy ra để làm cho lòng thương xót tăng thêm mức độ nồng nàn và hiệu lực! Lạy tình yêu vô biên cực kỳ dịu ngọt, ước chi mọi trái tim và mọi ý nguyện cả loài người là của mẹ, để chúng không đáp lại bằng sự vô ân bạc nghĩa đối với mọi điều Con phải chịu! Ai sẽ nói cho mọi trái tim loài người, dạy chúng biết chúng mắc nợ Con những gì, vì Con đã trả giá quá đắt để cứu chúng khỏi diệt vong!”

 LỜI MẸ MARIA

 

 Mẹ ước nguyện thành quả của đức vâng lời nhờ đó con ghi lại lịch sử cuộc đời Mẹ sẽ làm cho con trở nên môn đệ đích thực của Con cực thánh Mẹ và của Mẹ. Mục đích những mầu nhiệm đáng được ca tụng tôn thờ mà con đã được cho biết, các giáo huấn Mẹ thường nhắc đi lặp lại với con, là con tự nguyện từ bỏ mình, trút bỏ mọi thứ, làm cho trái tim con lìa xa mọi quyến luyến các tạo vật, không ước muốn chiếm hữu cũng không chấp nhận những thứ đó vào những mục đích khác. Nhờ việc cẩn thận đề phòng này con sẽ khắc phục được mọi trở ngại ma quỉ muốn đặt trên lối đi đầy nguy hiểm của bản chất tự nhiên của con. Mẹ biết rõ con, nên Mẹ, với tư cách là Mẹ và Thầy con, khuyên bảo hướng dẫn con theo con đường Mẹ chỉ dạy và sửa chữa lỗi lầm của con. Nhờ giáo huấn của Chúa, con biết các mầu nhiệm Ơn Cứu Độ và con đường hằng sống đích thực duy nhất là Thánh Giá.

 Con biết không phải tất cả mọi người được gọi đều được chọn. Có nhiều người muốn theo Chúa Kitô nhưng rất ít người thực sự bắt chước Chúa, vì ngay khi những người đó cảm thấy các đau khổ của thánh giá, họ liệng thánh giá qua một bên. Các nỗ lực vất vả đều rất đau đớn, trái với bản tính xác thịt loài người. Các thành quả tinh thần thường ẩn nhiệm ít tự tỏ mình ra ánh sáng. Có quá nhiều trường hợp này nơi loài người. Họ không màng chi các chân lý hằng hữu, mà chỉ tìm kiếm xác thịt, đam mê miệt mài trong lạc thú nhục thể. Họ hăng say tìm kiến danh vọng, chạy trốn sỉ nhục đau thương; chạy theo giàu sang, khinh chê khó nghèo. Họ tha thiết tìm kiếm lạc thú, sợ hãi hãm mình. Tất cả các thứ này đều là kẻ thù Thánh Giá Chúa Kitô (Phil. 3:18). Người đời sợ hãi chạy trốn thánh giá, coi thánh giá là ô nhục tuyệt đối, y hệt những kẻ đóng đanh Chúa Kitô.

 Một điều dối trá khác nữa lan tràn khắp thế giới là nhiều người tưởng rằng họ đang theo Chúa Kitô, Thầy của họ, mặc dầu họ chẳng chịu sỉ nhục cũng chẳng tham dự chút nào vào những nỗ lực gian khổ. Những người đó coi thường việc phạm tội, đặt sự trọn lành của họ nơi thứ khôn ngoan theo ý riêng. Họ không từ chối bất cứ thứ gì họ ưa thích, nhưng lại từ chối thực hành các thánh đức phải hy sinh xác thịt. Những người này hẳn có thể thoát khỏi điều lừa dối này dễ dàng nếu họ suy nghĩ rằng Con của Mẹ không những chỉ là Chúa Cứu Thế, mà còn là Thầy của họ. Chúa đã để lại trần thế kho tàng Ơn Cứu Độ không những chỉ làm thuốc trị sự diệt vong đời đời của thế giới mà cũng còn là y dược cần thiết chữa bệnh tội lỗi loài người.

 Không ai biết bằng Chúa Con của Mẹ. Không ai có thể hiểu rõ đặc tính của tình yêu bằng Thiên Chúa, Đấng là chính sự khôn ngoan và tình yêu (1 Gioan 4:16). Chúa đã không chọn cuộc sống nhẹ nhàng thoải mái cho thân xác, mà đã chọn cuộc sống đầy vất vả đau khổ. Chúa cho rằng các lời Chúa giảng dạy hẳn khiếm khuyết không đủ để cứu độ nhân loại nếu Chúa không dạy người ta cách chiến thắng ma quỉ, xác thịt và chính bản thân họ. Chúa muốn mọi người ghi khắc rằng cuộc khải hoàn vinh quang này được mua bằng Thánh Giá, bằng vất vả cực nhọc, bằng đền tội, hãm mình, bằng chấp nhận bị xúc phạm khinh miệt. Tất cả những thứ này là biểu hiệu, là bằng cớ tình yêu đích thực, là phương châm của những người được tiền định.

 

CHƯƠNG 8

 

CHÚA GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐANH

VÀ CHẾT TRÊN THÁNH GÍA

 

     Chúa Cứu Thế, Isaac mới và đích thực, Con Thiên Chúa Cha hằng hữu, lên tới đỉnh núi hy sinh, cũng chính là nơi mà người mẫu và hình bóng là Isaac đã được tổ phụ Abraham đưa tới (Stk 22:9). Tính chất nghiêm khắc của thánh lệnh phải được thi hành trên Con Chiên vô tội tinh tuyền vô cùng của Thiên Chúa, nhưng đã được ân xá cho con của tổ phụ Abraham. Đồi Golgotha là nơi nhơ nhuốc ô nhục, vì là nơi hành hình các trọng phạm, tử thi của họ xông mùi hôi thối khắp vùng. Chúa Giêsu vô cùng yêu dấu đã tới đỉnh đồi Golgotha, kiệt sức, đầy thương tích. Toàn thánh thể Chúa tan nát không còn hình hài và là một khối đau thương tột cùng.

Khi Mẹ Maria thấy các mầu nhiệm Ơn Cứu Chuộc được hoàn thành, các tên lý hình sắp sửa lột áo Chúa Giêsu để đóng đanh, Mẹ nói với Thiên Chúa Cha: “Lạy Chúa và Thiên Chúa hằng hữu, Chúa là Cha của Chúa Con Duy Nhất Vô Cùng Yêu Dấu. Từ thuở đời đời, Chúa Con được sinh ra là Thiên Chúa thực bởi Thiên Chúa thực; là người trần gian, Chúa Con được sinh ra bởi lòng con và nhận lấy từ nơi con bản tính loài người mà trong bản tính này bây giờ Chúa Con chịu khổ hình. Con đã nuôi dưỡng Chúa Con làm người bằng sữa của con. Con yêu thương Chúa Con làm người với tình mẫu tử vì Chúa Con là Người Con cực châu báu hơn hết mọi người con được sinh ra bởi bất cứ thụ tạo nào khác. Là mẹ của Chúa Con, con có quyền tự nhiên nơi con người của nhân tính cực thánh của Chúa Con. Lạy Thiên Chúa Cha hằng hữu, không bao giờ Chúa vi phạm bất cứ thứ thụ quyền nào của các thụ tạo, bây giờ con dâng quyền này của một bà mẹ cho Chúa, lần nữa con đặt Con Chúa và của con trong tay Chúa để làm Hy Lễ cứu độ nhân loại. Lạy Chúa, xin hãy nhận Hiến Lễ này đẹp lòng Chúa, vì Hiến Lễ này lớn lao hơn cả việc con có thể hiến dâng chính thân con làm lễ vật hoặc chịu đau khổ. Hiến Lễ này cao quí hơn, không những chỉ vì Con của con là Thiên Chúa thực, đồng bản tính với Chúa, mà còn vì Hy Lễ này làm cho con phải chịu khổ cực đau đớn tột cùng. Nếu những số phận đó được thay đổi, con được phép chết để bảo vệ mạng sống cực thánh Chúa Ngôi Hai, con coi đó là điều an ủi vĩ đại và các ước nguyện yêu dấu nhất của con được chu toàn.”

Thiên Chúa Cha hằng hữu hài lòng nhận lời Mẹ Maria. Tổ phụ Abraham chỉ được phép hình dung và trắc nghiệm hy sinh con trai, vì việc thực sự hiến dâng hy lễ như thế Thiên Chúa Cha chỉ dành cho chính Chúa và cho Chúa Ngôi Hai làm người. Bà Sara, mẹ ông Isaac, đã không biết về hy lễ huyền nhiệm đó, không những chỉ vì ông Abraham mau mắn vâng lời, mà cũng vì ông nghi ngờ không muốn để tình mẫu tử của bà ngăn cản việc thi hành lệnh Chúa truyền, mặc dầu bà là người công chính thánh thiện. Nhưng việc đó không xảy ra với Mẹ Maria, Thiên Chúa Cha hằng hữu cho Mẹ biết rõ thánh ý bất khả thay đổi để Mẹ có thể, theo khả năng Mẹ, kết hợp với Chúa Cha trong việc hy sinh Con Một Yêu Dấu.

Lúc đó là sáu giờ, tương đương với mười hai giờ trưa, bọn lý hình dã man lột áo và mão gai ra cùng một lượt. Áo dài của Chúa rộng, không có đường may và không có chỗ xẻ ở trước ngực. Chúng lột áo qua đầu Chúa mà không lột mão gai ra trước. Chúng khơi lại hết các thương tích trên đầu Chúa, một vài cái gai đã gẫy lại, vì bọn lý hình ác độc tàn bạo giựt mạnh áo ra cố tình làm cho Chúa đau đớn tối đa. Chúng lột áo dài đã dính cứng vào các thương tích và máu đã khô, lại xé các thương tích khắp thánh thể Chúa, như thánh vương David đã tiên tri (Tv 68:27). Đây là lần chót và đau đớn nhất, vì khắp mình Chúa có nhiều thương tích hơn, thánh thể Chúa đã kiệt lực; thêm nữa trên đồi Golgotha gió lộng lạnh buốt trong thời gian Chúa chịu đóng đanh như để tăng thêm thống khổ. Bọn lý hình ác độc đóng mão gai trở lại đầu Chúa, khơi thêm thương tích mới; mão gai là y phục duy nhất trên thánh thể Chúa.

Thánh Giá nằm trên mặt đất. Bọn lý hình thực hiện các chuẩn bị cho việc đóng đanh Chúa và hai người trộm cướp. Trong khi đó Chúa Cứu Thế và Thầy chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa Cha:

”Lạy Cha hằng hữu và là Thiên Chúa của Con, Đấng uy quyền khôn lường, nhân từ vô cùng và công thẳng vô cùng, Con dâng lên Cha trọn nhân tính Con và mọi sự đã được hoàn thành theo thánh ý Cha bằng việc Con từ lòng Cha xuống trần gian mặc lấy thân xác có cảm giác đau khổ và hay chết để cứu chuộc nhân loại, anh em Con. Lạy Cha, Con cũng dâng lên Cha, cùng với chính Con, Mẹ yêu dấu nhất của Con, tình yêu của Người, các việc làm trọn lành nhất, những buồn phiền đau khổ, sự lo lắng ân cần và khôn ngoan trong việc phụng sự Con, bắt chước và đi theo Con cho tới chết. Con dâng lên Cha đoàn Tông Đồ ít ỏi, Giáo Hội và cộng đoàn các tín hữu, như hiện nay và cho tới tận thế.”

”Con dâng lên Cha, cùng với Giáo Hội, tất cả mọi con cái hay chết của Adong. Con phó thác tất cả mọi thứ trong tay Cha là Thiên Chúa đích thực và toàn năng của Con. Theo các ước nguyện của Con, Con chịu đau khổ và chết cho mọi người, Con ước nguyện tất cả mọi người được cứu rỗi, với điều kiện tất cả đều theo Con và hưởng Ơn Cứu Độ. Nhờ đó họ được khỏi tình trạng nô lệ ma quỉ, trở nên con cái Cha, anh em Con và đồng thừa kế ân sủng nhờ công nghiệp của Con.”

 

”Lạy Cha, cách đặc biệt con dâng những người nghèo khó, những người bị khinh miệt, bị hành hạ sỉ nhục, những người này là bạn hữu Con, những người theo Con trên đường Thánh Giá. Con ước ao danh tánh những người công chính, những người được tiền định được ghi trong trí Cha. Lạy Cha, Con nài xin Cha ngưng hình phạt, đừng nâng cao ngọn roi công lý trên nhân loại, xin đừng phạt chúng như chúng đáng tội. Từ giờ này trở đi, xin Cha là Cha của chúng như Cha là Cha của Con. Con cũng tha thiết xin Cha cho chúng được ơn suy gẫm cái chết của Con với lòng yêu mến sốt sắng. Con cầu nguyện cho những kẻ đang hành hạ Con, để chúng có thể trở về với chân lý. Hơn hết thảy, Con xin Cha cho thánh danh cao cả khôn sánh của Cha được vinh sáng.”

Lời cầu nguyện khẩn khoản nài xin của Chúa Giêsu được truyền thông cho Mẹ Maria. Bắt chước Chúa, Mẹ dâng cũng những lời cầu xin như thế lên Thiên Chúa Cha hằng hữu. Mẹ Maria không khi nào quên hoặc không chú ý tới lời đầu tiên Mẹ nghe được từ miệng Con cực thánh khi còn là Hài Nhi: “Mẹ yêu dấu của Con, Mẹ hãy nên giống như Con.” Lời hứa đó luôn được chu toàn, Chúa cho Mẹ khả năng mới về mọi hồng ân Thiên Chúa, trội vượt trên mọi thụ tạo để đền đáp lại thân xác nhân loại mới mà Mẹ đã cho Chúa trong dạ trinh khiết.

Để đánh dấu các lỗ khoan, bọn lý hình ngạo mạn ra lệnh cho Đấng tạo thành vũ trụ nằm ra trên Thánh Giá. Đấng là Thầy đức khiêm nhượng đã vâng lời không chút chần chờ. Nhưng bọn lý hình, do bản năng chúng tàn ác vô nhân đạo, đã ghi dấu các lỗ khoan quá tầm vóc thân mình Chúa, vì trong đầu chúng nảy ra phương thức hành hạ mới nữa dành cho Nạn Nhân Cực Thánh của chúng. Mẹ Maria biết rõ ý định cực kỳ dã man ác độc này của bọn lý hình. Đây là một trong những nỗi đau đớn lớn lao nhất đối với Trái Tim cực trinh khiết Mẹ trong suốt Khổ Hình Cứu Chuộc. Mẹ Maria thấu suốt các âm mưu của bọn tôi tớ ma quỉ. Mẹ thấy trước những hành hạ thống khổ Con cực thánh Mẹ sẽ phải chịu khi tay chân Chúa bị kéo giãn rời khỏi hốc xương khi chịu đóng đanh vào Thánh Giá. Nhưng Mẹ không thể làm gì để ngăn cản việc đó, vì chính Chúa Cứu Thế muốn chịu những đau đớn này vì loài người.

Khi Chúa đứng dậy khỏi Thánh Giá và bọn lý hình chuẩn bị khoan các lỗ đanh, Mẹ Maria tới bên Chúa; Mẹ hôn tay Chúa. Bọn lý hình cho phép Mẹ Maria đến bên Chúa vì chúng nghĩ rằng nhìn thấy Mẹ hẳn làm cho Chúa đau lòng hơn rất nhiều. Chúng không muốn bỏ sót một nỗi thống khổ nào mà không gây ra cho Chúa. Nhưng chúng làm sao biết được các mầu nhiệm bí ẩn, vì trong Khổ Hình Cứu Chuộc, Chúa không có nguồn an ủi nào vĩ đại hơn là thấy trong linh hồn Mẹ Maria rất thánh sự giống hệt tuyệt vời y như chính Chúa và các kết quả đầy đủ của Khổ Hình Cứu Chuộc.

Sau khi khoan xong ba lỗ đanh, bọn lý hình lại ra lệnh cho Chúa Cứu Thế nằm trên Thánh Giá. Là Tác Giả và Gương Sáng đức nhẫn nhục, Chúa đã vâng lời bọn lý hình nằm dang hai tay trên Thánh Giá. Một tên lý hình vồ lấy bàn tay Chúa Giêsu áp trên lỗ khoan, một tên khác dùng búa đóng chiếc đanh lớn xuyên qua lòng bàn tay Chúa. Các mạch máu và gân bị xé ra, các xương ở bàn tay cực thánh, đã tạo dựng các tầng trời và mọi vật hiện hữu, bị tách rời ra. Tay kia bị kéo căng ra nhưng không tới lỗ đã khoan sẵn vì các gân ở cánh tay kia co lại mà cũng vì bọn lý hình đã ác độc khoan lỗ đanh quá xa. Dùng sợi xích đã trói Chúa trong Vườn Cây Dầu, chúng cột cổ tay Chúa, chõi chân vào Thánh Giá, kéo giãn xương ngực tới khi bàn tay đến lỗ đanh đã khoan sẵn và đóng vào Thánh Giá. Sau đó, chúng chồng tréo hai bàn chân Chúa, quấn sợi xích quanh hai cổ chân, hết sức dã man ác độc kéo hai chân tới lỗ khoan thứ ba và đóng chiếc đanh lớn xuyên qua cả hai bàn chân vào Thánh Giá. Xác cực thánh, mà trong đó Thiên Tính Chúa ngự, đã bị đóng đanh vào Thánh Giá. Các xương sống, xương ngực, xương vai và cánh tay Chúa đều bị kéo rời khỏi hốc xương. Tứ chi cực thánh Chúa đã được Chúa Thánh Thần tạo dựng bị kéo căng giãn ra, đến độ đếm được các xương như thánh vương David đã tiên tri.

Kế đó bọn lý hình lôi phía chân Thánh Giá cùng với Thiên Chúa bị đóng đanh tới gần hố đào sẵn để dựng lên. Một số lý hình dùng vai đỡ phần trên Thánh Giá. Những tên khác dùng những cây kích hoặc trường thương đẩy Thánh Giá đứng thẳng và chèn chặt trong hố đã đào sẵn. Chúa Cứu Thế lúc này bị treo trần truồng trên Thánh Giá giữa không trung lồ lộ trước mắt những đám đông thuộc đủ mọi chủng tộc.

 

Tác giả không được phép bỏ không nhắc tới một hành động man rợ tàn ác khác nữa đã hành hạ thánh thể Chúa Giêsu, khi chúng treo Chúa lên. Để giữ cho Thánh Giá đứng thẳng, nhưng thay vì chống vào Thánh Giá, một số lý hình đã đâm mũi trường thương và mũi kích vào thánh thể Chúa cách khủng khiếp ngay chỗ dưới nách. Trước cảnh tượng ác độc rùng rợn này, nhiều người kêu la phản đối. Bọn người thù ghét Chúa thì nói phạm thượng. Những người hiền từ thì khóc thương. Những người xa lạ thì ngỡ ngàng. Một số người xa lạ nhìn thấy cảnh dã man đó lớn tiếng báo cho người qua đường biết những sự việc đang xảy ra. Nhiều người quay mặt đi vì sợ hãi và xót thương. Những người khác đấm ngực ăn năn vì cảnh đau thương rùng rợn này. Nhiều người tuyên xưng Chúa Giêsu là Người Công Chính. Tất cả các tình cảm khác nhau này đều như những mũi tên xuyên thấu trái tim cực độ yêu thương sầu bi Mẹ Maria.

Máu thánh Chúa từ các vết đanh lúc này tuôn ra xối xả, vì sức nặng của Thánh Thể và vì Thánh Giá rơi mạnh xuống hố đào sẵn làm cho các vết thương bị xé rộng ra. Các vết đanh trên chân tay Chúa là những suối nguồn, lúc này được mở ra, mà tiên tri Isaias mời chúng ta mau mắn vui vẻ tới giải khát và tắm giặt sạch mọi tì vết tội lỗi (Is. 12:3).

Kế đến bọn lý hình đóng đanh hai người trộm cướp rồi dựng thập giá của họ ở bên phải và bên trái Chúa Cứu Thế. Với việc đó chúng muốn cho thấy Chúa xứng đáng ở vị thế nổi bật nhất bị coi là bất lương vĩ đại nhất. Các biệt phái và tư tế hướng toàn thể lòng ác độc tức giận của họ chống lại Đấng thánh vô cùng và vô tội từ bản chất. Họ lắc đầu sỉ vả nhạo báng, ném đá và cát bụi vào Thánh Giá, vào Thánh Thể Chúa và nói: “A ha, Nhà Ngươi, Kẻ phá đền thờ và trong ba ngày xây lại, bây giờ hãy cứu mình đi; Nó chữa lành người khác, mà không cứu được mình; nếu Nó là Con Thiên Chúa thì hãy xuống khỏi Thập Giá đi, chúng ta sẽ tin Nó” (Mt 27:39-42). Lúc đầu hai người trộm cướp cũng cười nhạo Chúa: “Nếu Ông là Con Thiên Chúa, hãy tự cứu mình và cứu chúng tôi với.” Những lời phạm thượng của hai tên trộm cướp này làm cho Chúa hết sức đau lòng, vì chúng đã ở kề bên cái chết mà không biết lợi dụng những đau đớn chết người này để đền bù phần phạt vì tội ác của chúng. Nhưng ngay sau đó, một trong hai người này lợi dụng được cơ hội vĩ đại nhất, mà một kẻ tội lỗi có được ở đời này, đã ăn năn thống hối tội lỗi.

Chúa Kitô dùng Thánh Giá làm ngai tòa cao sang, tòa giảng dạy Giáo Lý Hằng Sống, để minh chứng giáo lý đã dạy bằng chính gương sáng, Chúa đã nói những lời tột đỉnh yêu thương: “Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm!” (Lc 23:34). Thầy chí thánh đã dành riêng cho mình, từ chính miệng Chúa nói lên nguyên tắc yêu thương phụ tử này (Gioan 15:12, Mt 15:44). Bây giờ Chúa minh xác và thực hành điều đó trên Thánh Giá, không những chỉ tha thứ yêu thương kẻ thù, mà cũng tha thứ cho những kẻ mà dã tâm của chúng đã tới cực điểm trong việc hành hình, lộng ngôn phạm thượng và đóng đanh Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc chúng. Đó là sự khác biệt giữa cách cư xử vong ân bội nghĩa phạm thượng của loài người, với cách cư xử yêu thương vô cùng nồng nàn của Chúa.

Ôi tình yêu thương khôn tả! lòng hiền dịu khôn lường! lòng nhẫn nhục không thể nào loài người có thể tưởng tượng được, các thiên thần thán phục và ma quỉ khiếp sợ! Do lời thứ nhất Chúa nói trên Thánh Giá và Mẹ Maria cầu bầu cho, mà Dimas, một trong hai người trộm cướp cùng bị đóng đanh, được ơn soi sáng liên quan đến Đấng Cứu Chuộc và Thầy chí thánh. Cảm động đau buồn thực lòng thống hối tội lỗi mình, anh ta quay sang đồng bạn nói: “Mày không sợ Thiên Chúa sao, nhìn coi, mày cũng chịu cùng một hình phạt đó? Dĩ nhiên tao và mày đáng tội, vì chúng ta nhận chịu hình phạt vì tội mình; nhưng Ông Này không làm điều gì sai lỗi.” Và anh ta nói với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, xin nhớ đến tôi khi nào Chúa về nước Chúa!” (Lc 23:40).

Các hiệu lực Ơn Cứu Chuộc khởi sự xuất hiện nơi người trộm cướp tột đỉnh diễm phúc này, nơi viên sĩ quan đại đội trưởng, và nơi nhiều người khác đã tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô trên Thánh Giá. Nhưng người được đặc ân nhất là anh trộm Dimas này, người xứng đáng được nghe lời thứ nhì Chúa Cứu Thế nói trên Thánh Giá: “Amen, Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với Tôi.”

Sau khi công nhận người trộm lành, Chúa Giêsu hướng ánh mắt đầy yêu thương vào Mẹ Maria đau khổ cùng với thánh Gioan đang đứng nơi chân Thánh Giá. Chúa nói với Đức Hiền Mẫu và với thánh Gioan, Chúa nói với Mẹ Maria trước: “Thưa Bà, xin hãy nhận con Bà!” rồi Chúa nói với thánh Tông Đồ: “Hãy nhận Mẹ anh!” (Gioan 19:26). Chúa Giêsu gọi Mẹ Maria bằng tiếng 'Bà' mà không gọi bằng 'Mẹ' vì tiếng 'Mẹ' gồm sự ngọt ngào an ủi, nói ra tiếng 'Mẹ' hẳn đã là một điều an ủi xúc động. Trong suốt Cuộc Khổ Hình, Chúa không nhận một sự an ủi nào từ bên ngoài, lúc đó Chúa từ chối mọi sự an ủi hoặc làm dễ chịu từ bên ngoài. Với tiếng 'Bà' Chúa ngụ ý nói: Bà có phúc hơn mọi phụ nữ, khôn ngoan hơn mọi con cái Adong, 'Bà' vững mạnh và chung thủy, không hề bị một lỗi lầm nào, không bao giờ thiếu sót trong việc phụng sự Con, tột đỉnh thành tín trong tình yêu thương đối với Con, mà ngay đến các dòng thác mãnh liệt trong Cuộc Khổ Hình của Con cũng không làm tắt hoặc chống lại được (Dc 8:7). Con sắp về với Thiên Chúa Cha của Con, Con không thể đi theo Mẹ thêm nữa. Người môn đệ yêu dấu của Con sẽ săn sóc phụng dưỡng Mẹ như Mẹ anh ta, và anh ta sẽ là con của Mẹ. Mẹ Maria hiểu mọi điều này. Từ giây phút đó thánh Tông Đồ đã nhận Mẹ Maria là Mẹ ngài. Thánh Gioan được ơn soi sáng hiểu biết giá trị kho tàng cực kỳ vĩ đại của Thiên Chúa trong mọi chương trình tạo dựng kế sau nhân tính của Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế. Nhờ ánh sáng này, thánh Tông Đồ tôn kính và phụng dưỡng Mẹ Maria đến ngày Mẹ về thiên đàng. Mẹ Maria cũng nhận thánh Gioan là con trong đức vâng lời khiêm tốn.

Đã gần chín giờ (tương đương sáu giờ chiều), bóng tối và xáo trộn thiên nhiên cho thấy chắc chắn đây là đêm hỗn loạn. Chúa Cứu Thế nói lời thứ bốn trên Thánh Giá bằng giọng lớn và mạnh, để mọi người đứng gần  đó có thể nghe: “Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Chúa bỏ Con?” (Mt 27:46). Chúa Giêsu thốt lên lời này bằng tiếng Do Thái, nhưng không được mọi người nghe và hiểu như nhau. Lời đó bắt đầu bằng từ ngữ   “Eli, Eli”, một số người nghĩ rằng Chúa đang kêu cứu ông Elias, và một số trong bọn chúng nhạo báng: “Để coi xem ông Elias có đến cứu Nó khỏi tay chúng ta không?” Chúa buồn phiền vì Ơn Cứu Chuộc vô cùng dào dạt dư thừa được ban cho cả loài người, lại không ích lợi gì cho những kẻ bị án trầm luân đời đời. Chúa thấy chính Chúa bị tách rời khỏi chúng trong niềm hạnh phúc đời đời, mà Chúa đã tạo dựng và cứu chuộc chúng để chúng được hưởng. Vì điều này phải xảy ra theo quyết định do thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu, Chúa Giêsu đã kêu nài điều đó cách yêu thương và buồn phiền trong những lời: “Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Chúa bỏ Con?”

Để xác nhận điều buồn phiền này, Chúa Giêsu nói thêm: “Ta khát!” Những đau đớn và khổ não của Chúa dễ dàng gây ra cái khát tự nhiên. Nhưng đối với Chúa Giêsu đây không phải là lúc kêu khát tự nhiên hoặc để làm cho hết khát. Chắc hẳn Chúa Giêsu đã không nói đến điều đó khi đã quá gần tới lúc hết khát nước tự nhiên, ngoại trừ để diễn tả một mầu nhiệm vô cùng cao cả. Chúa Giêsu khao khát thấy các con cái Adong được hưởng tự do hạnh phúc Chúa ban và làm cho họ đáng hưởng, nhưng lại bị quá nhiều người khước từ. Chúa khao khát ước ao rằng tất cả mọi người sống hợp với Chúa trong đức tin, yêu mến Chúa, được hưởng nhờ công nghiệp và các thống khổ của Chúa, chấp nhận tình thân mến và ân sủng Chúa dành cho. Chúa ao ước nhân loại không làm mất hạnh phúc đời đời Chúa để lại. Đây là cái khát của Chúa Cứu Thế và Thầy chúng ta. Chỉ một mình Mẹ Maria rất thánh hiểu rõ điều này.

Mẹ khởi sự, với lòng yêu thương bác ái nồng nàn, kêu mời tất cả các kẻ nghèo khó, những người bị đau khổ, những người khiêm tốn, những người bị khinh miệt chà đạp, đến với Chúa Cứu Thế và làm cho hết, ít nhất là một phần, cái khát của Chúa. Nhưng những người bội bạc đó và bọn lý hình, biểu lộ sự cứng lòng bất hạnh của chúng, đã cột miếng bọt biển nhúng trong mật đắng và giấm vào cây sậy đưa lên môi Chúa cách chế giễu, cho Chúa uống giấm pha mật đắng. Như thế, chúng làm trọn lời tiên tri David: “Khi Ta khát, chúng cho Ta uống giấm chua” (Gioan 16:28, Tv 68:22).

Nối kết với cùng một mầu nhiệm đó, Chúa Cứu Thế nói lời thứ sáu: “Mọi sự đã hoàn tất” (Gioan 19:29). Bây giờ hoàn tất việc Ta đã vâng lệnh Thiên Chúa Cha hằng hữu xuống trần gian chịu đau khổ và chết để cứu chuộc nhân loại. Bây giờ hoàn tất mọi lời Sách Thánh, các lời tiên tri, mọi hình ảnh trong Cựu Ước, và cuộc đời trần thế mà Ta đã nhận trong lòng Thánh Mẫu của Ta. Bây giờ được thiết lập trên trần thế gương sáng của Ta, các giáo lý, các Nhiệm Tích và phương tiện chữa bệnh tật tội lỗi. Lúc này phép công thẳng của Thiên Chúa Cha được làm nguôi đối với nợ nần con cháu Adong phải trả. Bây giờ Giáo Hội của Ta được sung túc các phương thuốc chữa trị tội lỗi loài người. Toàn thể việc Ta xuống trần gian được hoàn thành về phần Ta, Đấng Khôi Phục trần gian. Nền tảng kiên cố Giáo Hội khải hoàn bây giờ được đặt trong Giáo Hội chiến đấu, để không một thứ gì có thể lật đổ hoặc làm thay đổi Giáo Hội. Đây là các mầu nhiệm chứa đựng trong lời “Mọi sự đã hoàn tất.”

Sau khi đã hoàn tất công trình Cứu Chuộc để qua sự chết trở về với Thiên Chúa Cha, Chúa Cứu Thế nói lời cuối cùng: “Lạy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha.” Chúa Giêsu nói lời này lớn tiếng và mạnh, những người đứng gần Thánh Giá có thể nghe rõ. Khi nói những lời này, Chúa ngước nhìn lên trời, nói với Thiên Chúa Cha hằng hữu, với âm thanh cuối cùng Chúa trút linh hồn và gục đầu xuống. Do quyền lực Thiên Chúa trong các lời này, Lucifer và toàn thể ma quỉ theo nó bị ném xuống hỏa ngục. Mẹ Maria rất thánh, Mẹ Chúa Cứu Thế, Đấng Đồng Công trong Khổ Nạn Cứu Chuộc, Đức Nữ Vương toàn thắng và Thầy dạy mọi thánh đức, thấu triệt các mầu nhiệm này.

Để Mẹ Maria có thể tham dự Cuộc Khổ Nạn Cứu Chuộc cho tới cuối cùng, Mẹ cảm thấy trong thân xác Mẹ những hành hạ y như nơi thánh thể Chúa Cứu Thế Con Mẹ. Lúc này Mẹ Maria cảm thấy và chịu những đau đớn quằn quại vì cái chết của Chúa. Mẹ Maria không chết vì được Thiên Chúa bảo vệ, trong khi mà cứ theo tự nhiên thì cái chết chắc chắn đã xảy ra. Ơn trợ giúp lạ lùng này kỳ diệu hơn tất cả mọi đặc ân khác Mẹ Maria được trong suốt thời gian Chúa chịu khổ hình. Sự đau đớn cuối cùng này mãnh liệt và xuyên thấu xương tủy hơn. Tất cả các đau đớn các thánh tử đạo và những người bị hành hạ tới chết từ khởi đầu loài người cho tới tận thế không thể nào so sánh được với những đau đớn Mẹ Maria chịu trong Cuộc Khổ Hình của Chúa. Mẹ Maria vẫn đứng nơi chân Thánh Giá cho tới tối, khi thánh thể Chúa được an táng như sẽ được kể trong chương tiếp.

LỜI MẸ MARIA

 

Con của Mẹ, suốt đời con, con hãy tận dụng khả năng trí óc để nhớ các mầu nhiệm được tiết lộ cho con trong chương này. Mẹ, là Mẹ và Thầy con, sẽ xin Chúa Giêsu, vì quyền năng vô cùng của Chúa, in vào trái tim con sự hiểu biết, mà Mẹ đã cho con, để sự hiểu biết đó được bền chặt và luôn ở trước mắt con bao lâu con còn sống. Nhờ hồng ân này, con luôn nhớ Chúa Kitô đã bị đóng đanh là Con Mẹ, là Chúa Yêu Dấu của con, không bao giờ quên các cực hình và giáo lý được Chúa dạy từ trên Thánh Giá. Vì mọi đặc ân con thụ đắc buộc con phải tận dụng mọi khả năng bắt chước Chúa, vì đây là hoa trái đích thực học thuyết của Mẹ, Mẹ muốn từ nay trở đi con sống mà bị đóng đanh cùng với Chúa Kitô, hoàn toàn tan biến theo gương và khuôn mẫu của Chúa, và chết đối với cuộc đời trần thế này (2 Cor. 5:15).

 

CHƯƠNG 9

 

MẸ MARIA THỪA KẾ CÁC CÔNG NGHIỆP CỦA CHÚA CỨU THẾ

 

      Các Thánh Sử không nói nhiều đến các việc huyền nhiệm Chúa Kitô đã làm trên Thánh Giá. Phần chúng ta, tín hữu Công Giáo, chỉ có thể đưa ra những ý nghĩ dè dặt dựa trên sự chính xác bất khả ngộ về Đức Tin. Trong số các mầu nhiệm được cho tác giả biết trong lịch sử này liên quan đến phần này của Khổ Hình Cứu Chuộc là những lời cầu nguyện Chúa Kitô dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu trước khi nói ra Bảy Lời trên Thánh Giá. Tác giả gọi đó là lời cầu nguyện vì được dâng lên Thiên Chúa Cha. Nhưng thực sự đó là Di Ngôn Chúa nói với tư cách là Người Cha đích thực và cực khôn ngoan di lại sản nghiệp cho gia đình Chúa, tức là cho toàn thể nhân loại.

 Chúa Cứu Thế từ trên Thánh Giá đưa ra quyết định cuối cùng về các kho tàng đời đời, phân chia các kho tàng, chỉ rõ ai sẽ hợp pháp thừa kế, những ai bị mất quyền thừa hưởng gia nghiệp. Chúa nói rõ nguyên do mà một người được thừa hưởng gia tài của Chúa, cũng như nguyên do mà một người mất quyền thừa kế. Chúa Giêsu đã làm tất cả mọi việc này trong hiệp thông với Thiên Chúa Cha, với tư cách Thiên Chúa Tối Cao và Đấng Phán Xét vô cùng công bằng đối với mọi thụ tạo. Các mầu nhiệm về tiền định đời đời đối với các thánh và về những kẻ thấy trước bị luận phạt được nhắc lại trong Di Ngôn này. Chỉ một mình Mẹ Maria rất thánh hiểu di chúc này vì, thêm vào với việc Mẹ Maria được thông hiệp các hành động của linh hồn cực thánh Chúa Kitô, Mẹ là Vị Thừa Kế toàn quyền mọi thụ tạo. Mẹ Maria là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, là Người thừa hành Di Chúc Chúa trối lại. Chúa Con đặt mọi sự trong tay Mẹ, y như Thiên Chúa Cha đã ký thác toàn thể mọi thụ tạo nơi Chúa Con. Mẹ Maria thi hành thánh ý Chúa, phân phát mọi kho tàng ân sủng thuộc công nghiệp vô cùng của Thiên Chúa làm người và là Con của Mẹ.

 Sự hiểu biết này được ban cho tác giả như là phần chính lịch sử này để ca tụng Mẹ Maria và để các người tội lỗi có thể chạy đến với Mẹ, Đấng là Quản Lý các kho tàng công nghiệp đã được Chúa Cứu Thế giành được nơi Thiên Chúa Cha hằng hữu. Mọi ơn cứu giúp phù trợ đều được ký thác nơi Mẹ Maria để Mẹ phân phát theo lòng nhân từ đại lượng bao la.

 Khi Thánh Giá được dựng lên, Ngôi Lời Nhập Thể chịu treo lên bằng ba chiếc đanh xuyên qua tay chân. Trước khi nói ra Bảy Lời, Chúa Kitô âm thầm cầu nguyện với Thiên Chúa Cha:

 

 ”Lạy Cha và Thiên Chúa hằng hữu của Con, từ Thánh Giá này Con tuyên xưng và tôn vinh danh Cha, Con dâng lên Cha của lễ chúc tụng trong Cuộc Khổ Hình Tử Nạn của Con. Do sự kết hợp với Thiên Tính, Cha đã nâng nhân tính của Con lên địa vị cực cao quí, địa vị Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người, Đấng được xức dầu bằng Thiên Tính của Cha. Con tuyên xưng Cha vì muôn vàn hồng ân và vinh quang tột đỉnh cao sang, mà ngay từ giây phút đầu tiên Con nhập thể, Cha đã hiệp thông với nhân tính của Con, và vì từ thuở đời đời Cha đã ký thác cho Con toàn quyền thống trị vũ trụ vạn vật cả về ân sủng và tự nhiên. Cha đã phong cho Con là Chúa cả trời đất (Mt 28:18), mặt trời, mặt trăng, các tinh tú; lửa và gió, đất và biển, mọi sinh động vật và bất động vật ở đó. Cha đã trao cho Con cai quản các mùa, ngày và đêm, với hoàn toàn đầy đủ quyền là Chúa và sở hữu theo ý Con. Cha đã đặt Con là Thủ Lãnh, là Vua và Chúa các thiên thần và loài người (Ephesô 1:21), cai quản lãnh đạo tất cả, trừng phạt kẻ dữ, thưởng người lành (Gioan 5:22). Cha đã cho Con quyền thống trị an bài mọi sự từ trời cao tới đáy sâu thẳm hoả ngục (Kh 20:1). Cha đã đặt trong Tay Con quyền tha tội đời đời cho nhân loại, các dân tộc, các quốc gia, mọi lãnh thổ, kẻ sang người hèn, kẻ giàu người nghèo. Đối với những người đáng được hưởng hồng ân và vinh quang của Cha, Cha đã đặt Con là Đấng Bào Chữa,  Đấng Cứu Chuộc và Đấng Tôn Vinh, Chúa cả vũ trụ và toàn thể nhân loại, Chúa sự sống và sự chết, Chúa của Giáo Hội, mọi kho tàng Giáo Hội, mọi luật lệ và ân sủng. Lạy Cha của Con, Cha đã ký thác tất cả trong tay Con, tùy thuộc thánh ý và quyết định của Con, vì vậy Con tuyên xưng, chúc tụng tôn vinh thánh danh Cha.”

 “Lúc này, ngay giây phút này, lạy Chúa và Cha hằng hữu, khi Con từ trần thế trở về bên hữu Cha qua cái chết trên Thánh Giá này, qua đó Con hoàn thành nhiệm vụ cứu độ nhân loại đã được Cha trao phó, Con ước ao cũng Thánh Giá này sẽ là ngai toà công thẳng và lòng thương xót của Cha Con Ta. Chịu đóng đanh vào Thánh Giá, Con muốn xét xử những người mà Con ban mạng sống Con cho họ. Sau khi chứng minh trường hợp của Con, Con muốn phân phát các kho tàng ân sủng của việc xuống trần gian, Khổ Hình Tử Nạn cho các người công chính, cho những kẻ bị trầm luân theo từng nguời xứng với hành động yêu mến hoặc thù ghét của họ. Con đã tìm giành được mọi người, mời gọi họ cùng chia sẻ tình thân hữu và ân sủng của Con. Ngay từ giây phút đầu tiên nhập thể, Con đã không ngừng vất vả vì họ. Con đã chịu mọi thiếu thốn, vất vả, sỉ nhục, chửi rủa, đánh đập, đội mão gai, và bây giờ Con chịu cái chết cay đắng tột cùng trên Thánh Giá. Con tha thiết nài xin lòng nhân từ vô cùng của Cha đổ xuống trên mọi người. Con đã chờ đợi trong cầu nguyện, nhịn đói, đi đó đây rao giảng cho họ con đường sống đời đời. Về phần Con, Con đã tìm kiếm hạnh phúc chắc chắn vĩnh cửu cho mọi người, Con đã giành được hạnh phúc đó cho họ, không trừ một ai. Con đã thiết lập xây đắp luật ân sủng, thiết lập cách vững chắc và vĩnh cửu Giáo Hội mà trong đó mọi con cái loài người có thể được cứu độ.”

 ”Lạy Thiên Chúa và Cha của Con, trong sự hiểu biết và thấy trước mọi việc của Cha Con Ta, Cha Con Ta biết rằng không phải tất cả mọi người đều muốn nhận Ơn Cứu Chuộc đời đời vì có những kẻ ác tâm cố tình phản loạn. Những kẻ phản loạn đó không sẵn sàng đón nhận lòng thương xót của Cha Con Ta và đường lối Con đã mở cho chúng qua những vất vả cực nhọc, cuộc sống và cái chết của Con. Trái lại chúng chọn theo con đường tội lỗi dẫn tới trầm luân đời đời. Lạy Cha và Chúa của Con, Cha là Đấng Công Chính, phán xét của Cha vô cùng công bằng (Tv 68:137). Cha đã đặt Con là Đấng Phán Xét người sống, kẻ chết, người lành và kẻ dữ (Cv 10:3). Vì thế, thật là chính đáng khi Con thưởng cho các người lành vì đã phụng sự và theo Con; luận phạt những kẻ tội lỗi vì chúng cố tình ngoan cố; các người công chính được chia sẻ công nghiệp của Con; các kẻ ác độc bị truất khỏi quyền thừa hưởng gia nghiệp mà chúng khước từ nhận lãnh. Lạy Cha hằng hữu, vì vậy bây giờ, nhân danh Cha và Con, và để tôn vinh Cha, Con lập Di Ngôn cuối cùng theo ước nguyện nhân tính của Con, mà ước nguyện này hợp với thánh ý đời đời của Cha.”

 “Trước nhất được kể đến là Mẹ Maria cực trinh khiết của Con, Người đã cho Con thân xác loài người, Con ủy nhiệm thánh mẫu Maria là Nữ Thừa Kế duy nhất và toàn quyền mọi đặc ân tự nhiên, thánh sủng và vinh quang vốn là của Con. Thánh mẫu Maria sẽ là Nữ Chúa các thiên thần và cả loài người, có toàn quyền làm chủ thống trị, truyền tất cả các thiên thần và loài người phải phục vụ và vâng lời Người. Các ma quỉ sẽ phải kính sợ, vâng phục Người. Mọi tạo vật không có lý trí, các tầng trời, các tinh tú, các vệ tinh, mọi thứ cùng với mọi sinh vật, mọi loài chim, mọi thú vật sinh sống trong đó sẽ vâng phục thánh mẫu Maria và nhận Người là Nữ Chúa, chúc tụng tôn vinh Người cùng với Con. Con cũng ước muốn Mẹ Maria của Con là Đấng Quản Thủ Phân Phát mọi kho tàng trên trời dưới đất. Bất cứ điều gì thánh mẫu Maria ban hành, sắp đặt, trong Giáo Hội cho các con cái của Con là cả loài người, đều sẽ được Thiên Chúa Ba Ngôi phê chuẩn. Bất cứ điều gì Người xin cho nhân loại ngay bây giờ, sau này và mãi mãi muôn đời, Ba Ngôi Thiên Chúa Chúng Ta sẽ thuận theo ý và các ước nguyện của Người.”

 “Con ấn định các tầng trời cực cao là nơi ở được dành riêng vĩnh cửu cho các thiên thần hằng vâng theo thánh ý Cha. Con ước muốn các thiên thần vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, được chiêm ngưỡng nhan thánh và hưởng tình yêu thương vô cùng của Thiên Chúa Ba Ngôi. Con quyết định rằng các thiên thần nhận Mẹ Maria của Con là Nữ Vương, là Nữ Chúa chính thống. Các thiên thần phục vụ, tháp tùng, chăm sóc Người, đỡ Người trên tay mọi nơi mọi lúc, vâng phục mọi điều Người muốn ban hành và truyền lệnh.”

 ”Con xua đuổi và loại trừ các ma quỉ, bọn phản nghịch chống lại thánh ý trọn lành của Chúng Ta, ra khỏi ơn được nhìn thấy và ở với Chúng Ta. Con luận phạt chúng phải chịu sự khinh ghét của Chúng Ta, vĩnh viễn không được hưởng tình thương và vinh quang Thiên Chúa Chúng Ta, không được thấy thánh mẫu Maria của Con, không được thấy các thánh và các bạn hữu của Con là những người công chính. Con chỉ định và buộc chúng đời đời phải ở tại nơi xa cách vô cùng ngai toà Thiên Chúa, nơi đó là hoả ngục, nơi đầy dẫy những kinh hoàng tối tăm (Juda 6). Con quyết định đây là phần số và sản nghiệp mà chúng đã chọn trong sự kiêu ngạo ngoan cố chống lại Thiên Chúa và các quyết định của Thiên Chúa. Trong nơi tối tăm đời đời đó chúng sẽ bị hành hạ bởi ngọn lửa không bao giờ tắt.”

 “Theo thánh ý Con, Con kêu gọi tuyển lựa những người công chính, những người được tiền định, tách họ ra khỏi những đám đông vô số giữa loài người. Nhờ ân sủng của Con, những người này bắt chước, thi hành thánh ý và tuân giữ luật thánh của Con. Kế sau thánh mẫu Maria cực trinh khiết, Con chỉ định những người này là thừa kế mọi mầu nhiệm, mọi ân sủng, mọi kho tàng bí tích; thừa kế các mầu nhiệm tiềm ẩn trong Sách Thánh; thừa kế lòng khiêm nhượng, hiền lành trong lòng của Con. Họ thừa kế các thánh đức Tin, Cậy, Yêu Mến, đức khôn ngoan, công chính, bền vững và thận trọng trong lời ăn tiếng nói và các đặc ân của Con. Những người này thừa kế Thánh Giá, các vất vả cực nhọc, bị xúc phạm, nghèo khó và trần truồng của Con. Đây sẽ là phần sản nghiệp của những người đó ở đời sống hay chết này. Con ký thác cho họ những thử thách Con đã chọn cho chính Con ở đời này làm bảo đảm yêu thương. Để họ có thể vui vẻ vượt qua các thử thách đó, Con hứa ban cho họ ơn bảo trợ, giúp đỡ, chỉ dẫn, những ơn đặc biệt và sự trợ giúp quyền năng, các ân sủng và ơn tha thứ, tùy theo hoàn cảnh và mức độ yêu mến của từng người. Con hứa là Người Cha, Người Anh, và Người Bạn của họ. Họ sẽ là con cái được tuyển chọn yêu thương của Con, vì thế Con cho họ là những người thừa kế vô hạn định mọi công nghiệp và kho tàng của Con. Con ước mong tất cả những người này sẵn sàng mau mắn hưởng các kho tàng của Giáo Hội và các Bí Tích; để, nếu họ lỡ mất tình yêu thương của Con, họ sẽ có thể hồi phục và giành lại được mọi ân sủng nhờ Máu thanh tẩy của Con.”

 “Lời thánh mẫu Maria của con và các thánh cầu bầu sẽ được rộng mở cho mọi người. Thánh mẫu của Con sẽ nhận tất cả những người đó là con, che chở và gìn giữ họ như của riêng Người. Các thiên thần sẽ bảo vệ, hướng dẫn, che chở và mang họ trên tay để họ khỏi vấp ngã; mà nếu té ngã, họ sẽ được các thiên thần giúp chỗi dậy” (Tv 90:11-12).

 

 “Con cũng ước nguyện rằng các người công chính, được tuyển chọn sẽ đứng cao trên những kẻ bị trầm luân đời đời và ma quỉ. Các kẻ thù của Con sẽ khiếp sợ và vâng lệnh họ. Tất cả mọi thụ tạo có lý trí và không có lý trí sẽ phải vâng phục họ. Mọi ảnh hưởng của các tầng trời, các thiên thể sẽ ưu đãi và cho họ sự sống. Trái đất và mọi thú vật ở đó sẽ nâng đỡ, phục vụ họ vì họ là con cái và bạn hữu của Con (1 Cor. 3:22, Kn 16:24), mọi ân phúc của họ sẽ là sương mai trên trời và hoa trái trên mặt đất (Stk 27:28). Con ước ao ban cho những người đó niềm hoan lạc (Cn 8: 31) và truyền thông các bí mật của Con; sống với họ trong Giáo Hội chiến đấu dưới hình Bánh Rượu làm bảo chứng nồng nàn bất khả ngộ về hạnh phúc và vinh quang vĩnh cửu đã được hứa cho họ. Con làm cho các người công chính trở nên những người dự phần, là thừa kế hạnh phúc vinh quang vĩnh cửu của Con, để họ có thể cùng hưởng hạnh phúc và vinh quang vĩnh cửu trên trời.”

 “Con đồng ý rằng những kẻ thấy trước bị trầm luân đời đời (mặc dầu chúng được tạo dựng để hưởng hạnh phúc vĩnh cửu của Chúng Ta, nhưng chúng cố tình khước từ), sẽ được cho phép sở hữu làm phần thừa kế là nhục thể và thị dục (Gioan 1:2-16), lòng kiêu ngạo và mọi hiệu lực của nó. Chúng ăn bụi đất mà thoả mãn với của cải giàu sang, những mơ ảo trụy lạc và khoái lạc xác thịt, mọi sự phù vân và lòng tự phụ của người đời. Chúng vất vả để có được những thứ đó; chúng sử dụng mọi khả năng, mọi đặc ân và thánh sủng Chúng Ta ban cho chúng vào những thứ đó. Chúng có toàn quyền tự do chọn sự lừa dối, khinh thường chân lý Con đã dạy trong Thánh Luật (Rom 2:8). Chúng khước từ luật lệ Con ghi khắc trong trái tim chúng và các điều được ân sủng của Con soi dẫn. Chúng khinh miệt mọi giáo huấn và ân phước Con ban, mà nghe theo lời các kẻ thù của Con và của chúng. Chúng chấp nhận những lừa dối, yêu mến của cải phù vân (Tv 4:3), chúng làm những việc trái đức công bằng. Chúng theo đuổi cao vọng, tìm kiếm thoả mãn trong việc phục thù, đàn áp người nghèo khó, hạ nhục người công chính, giễu cợt người đơn sơ hiền lành vô tội, cố gắng tự đề cao và ước ao được làm cho cao hơn mọi cây tòng bá xứ Libanon theo những luật lệ bất công (Tv 36:35).

 “Vì chúng chống lại lòng nhân từ linh thánh của Chúng Ta, vẫn lì lợm trong ác tâm, chối bỏ các quyền lợi là “con” đã được Con làm cho chúng xứng đáng được hưởng, Con truất chúng khỏi quyền thân hữu và vinh quang của Con. Như Abraham đã tách rời các con của người nô lệ, dành một phần sản nghiệp cho họ và dành phần chính tài sản cho Isaac, con của người phụ nữ tự do Sarah (Stk 25:5), Con để sang một bên những quyền hưởng thừa kế sản nghiệp của Con, ban cho chúng những của cải nhất thời chính chúng đã chọn; tách rời chúng ra khỏi những người được ở với Chúng Ta, với thánh mẫu Maria của Con, với các thiên thần và các thánh. Con luận phạt chúng trong lửa hoả ngục đời đời cùng ở với Lucifer và ma quỉ, những kẻ mà chúng đã tự do phục vụ. Con truất khỏi chúng hy vọng được giảm bớt án phạt đời đời. Lạy Cha của Con, đây là bản án Con tuyên phạt với tư cách là Thủ Lãnh, là Đấng Phán Xét nhân loại và các thiên thần (Eph. 4:15, Col. 2:10), đây là Di Chúc được thiết lập vào lúc Cái Chết của Con, đây là hiệu lực Ơn Cứu Độ, từ đó mọi người sẽ được thưởng xứng đáng theo việc họ làm theo sự khôn ngoan khôn lường và trong sự công bằng công chính vô cùng nghiêm khắc của Cha” (2 Tim. 4:8).

 Lời cầu nguyện của Chúa Kitô từ trên Thánh Giá dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu được niêm phong và ký thác nơi Trái Tim Mẹ Maria, để nhờ lời cầu bầu và sự lo lắng săn sóc của Mẹ, lời Di Chúc đó, đến đúng thời điểm được thực hiện nơi Giáo Hội. Di Chúc này đã được chuẩn bị và hoàn hảo do sự quan phòng vô cùng khôn ngoan của Thiên Chúa, mà trong Ngài mọi quá khứ và tương lai luôn luôn là một với hiện tại.

 

CHƯƠNG 10

 

* CHÚA KITÔ CHIẾN THẮNG HOẢ NGỤC.

* CÁC ÂM MƯU MỚI CỦA HOẢ NGỤC

 

   Một trong những huyền nhiệm lạ lùng là suốt cuộc đời Chúa Cứu Thế cùng với các phép lạ Chúa đã làm mà Lucifer cùng toàn thể lũ quỉ hỏa ngục không khi nào khẳng định được rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa thực và là Chúa Cứu Thế, vì thế chúng cũng không thể nào biết được địa vị Mẹ Maria rất thánh. Điều này được Thiên Chúa, Đấng Quan Phòng khôn ngoan vô cùng, an bài để toàn thể mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và Công Trình Cứu Chuộc nhân loại được hoàn tất cách toàn hảo. Mặc dầu Lucifer biết Thiên Chúa sẽ mặc thân xác loài người, nó không biết chút gì về cách thức, các điều kiện và hoàn cảnh của Ngôi Lời Nhập Thể, nó được phép dựng lên ý nghĩ về mầu nhiệm này theo lòng kiêu ngạo để nó bị ngụp lặn trong ảo tưởng. Đôi khi nó tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa căn cứ vào các phép lạ. Đôi lúc nó gạt bỏ ý nghĩ đó vì thấy Chúa nghèo nàn, bị làm nhục, bị hành hạ đau đớn nhừ tử. Bị những bằng chứng trái ngược nhau như thế này làm cho lung tung bất định, Lucifer vẫn còn hoài nghi, tiếp tục tìm hiểu cho tới thời điểm đã được tiền định Chúa Kitô Chịu Chết trên Thánh Giá, nó bị giác ngộ, bị đánh bại bởi toàn thể các mầu nhiệm này.

 Ngay khi Lucifer và toàn thể lũ quỉ thấy Chúa Giêsu vác Thánh Giá trên vai cực thánh, chúng đã muốn lao mình xuống hỏa ngục, vì lúc đó chúng bắt đầu cảm thấy tác động mãnh liệt của quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. Do sự can thiệp của Thiên Chúa, sự hành hạ mới này làm cho chúng biết rằng cái chết của Người Vô Tội, chính chúng đã âm mưu không phải chỉ là một thường nhân, đe doạ sự sụp đổ khốc liệt khủng khiếp cho chúng. Chúng ước ao rút lui, ngưng việc xúi giục giới chức quyền Do Thái và bọn lý hình. Nhưng bằng quyền năng Thiên Chúa trao cho, Mẹ Maria rất thánh cưỡng bách cản trở và giữ chúng lại, bắt buộc chúng phải đi theo Chúa Kitô lên đồi Golgotha. Do quyền năng của Con cực thánh Mẹ, hai đầu dây xích huyền nhiệm trói Lucifer và lũ quỉ dữ được đặt trong tay Mẹ Maria, Đức Nữ Vương cao cả của muôn loài, bắt tất cả các quỉ phải chịu khuất phục và bị xiềng xích. Nhiều lần chúng tức giận tìm cách bẻ gãy xiềng xích đó, nhưng chúng không thể nào vượt qua được quyền lực Bà Chúa thiên đàng. Mẹ Maria bắt Lucifer và bọn phản thần lên đồi Golgotha, đứng chung quanh Thánh Giá; truyền cho chúng phải đứng bất động chứng kiến phần kết thúc các mầu nhiệm vĩ đại xảy ra tại đó cho việc cứu chuộc nhân loại và cho sự sụp đổ của chúng.

 Lucifer và các quỉ hoả ngục đã hết sức khổ sở vì những hành hạ phải ở trước thánh nhan Chúa Giêsu và Mẹ Maria rất thánh. Chúng khổ sở kinh khiếp sự sụp đổ không thể tránh, đến độ hẳn là chúng đã cảm thấy được bớt khổ rất nhiều nếu được phép nhào xuống hoả ngục. Vì không được phép làm như thế, chúng nhào ngã đè lên nhau, đánh đấm nhau dữ dội như bầy ong lửa hoảng hốt trong tổ, hoặc tương tự một ổ sâu hỗn độn tranh nhau tìm chỗ núp tối hơn. Nhưng cơn giận dữ điên cuồng này không phải là của các thú vật đó, mà là cơn tức giận của ma quỉ còn ác ôn hơn rồng dữ.

 Bây giờ tới thời điểm rắn già Lucifer bị Chúa hằng sống đánh bại. Đây là lúc Lucifer vỡ mộng. Từ trên Thánh Giá, Chúa Giêsu khởi sự nói Bảy Lời, đồng thời làm cho Lucifer và lũ phản thần phải hiểu các mầu nhiệm gồm trong Bảy Lời Chúa phán. Chính do việc tiết lộ này Chúa chiến thắng ma quỉ, chiến thắng tội lỗi và sự chết, và tước khỏi ma quỉ quyền lực bạo ngược đối với nhân loại.

 Chúa Cứu Thế nói lời thứ nhất “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm!” (Lc 23:34). Qua Lời này, Lucifer tin chắc Chúa Kitô đang nói với Thiên Chúa Cha. Nó tin Chúa Kitô là Con Thiên Chúa Cha và cũng là Thiên Chúa thực cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Linh. Nó tin Chúa Giêsu đã cho phép sự  chết xày ra trong nhân tính cực thánh toàn vẹn kết hợp với Thiên Tính để cứu chuộc toàn thể nhân loại. Nó biết bây giờ Chúa Giêsu hiến dâng công nghiệp vô cùng châu báu để xin ơn tha thứ tội lỗi cho con cái Adong, những người phải lợi dụng ơn đó để được cứu độ, không trừ một ai kể cả những kẻ ác độc khốn nạn đã đóng đanh Chúa. Với khám phá này, Lucifer cùng toàn thể lũ quỉ bị đẩy vào cơn phẫn nộ tuyệt vọng đến nỗi chúng ước muốn lập tức nhào xuống hoả ngục, nhưng uy quyền của Đức Nữ Vương giữ chúng lại.

 Chúa Giêu nói lời thứ hai với người trộm lành tốt phước “Amen, Tôi nói cho anh biết, hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Tôi,” ma quỉ hiểu các thành quả Ơn Cứu Chuộc tha thứ cho tội nhân và tôn vinh người công chính. Ma quỉ được làm cho biết từ thời điểm này trở đi các công nghiệp Chúa Kitô sẽ bắt đầu hành động với quyền lực và sức mạnh mới. Nhờ công nghiệp của Chúa, các cửa Thiên Đàng, đã bị đóng lại vì tội thứ nhất, sẽ được mở ra. Từ nay trở đi nhân loại sẽ vào thiên đàng vĩnh cửu, hưởng hạnh phúc vốn được ấn định cho chúng (Lucifer và các phản thần), nhưng chúng đã tự mình truất quyền hưởng. Chúng thấy quyền năng Chúa Giêsu kêu gọi các kẻ tội lỗi, tẩy sạch tội, thánh hóa họ. Lũ quỉ cảm thấy các chiến thắng đánh bại chúng là những thánh đức đáng ca tụng: lòng khiêm nhượng, nhẫn nhục, hiền lành và mọi thánh đức trong cuộc đời Chúa. Khi thấy điều này, Lucifer bị hành hạ, xấu hổ khôn tả. Điều đó lớn lao đến độ nó phải tự hạ xin Đức Trinh Mẫu Maria rất thánh cho phép chúng xuống hỏa ngục và bị xua đuổi ra khỏi sự hiện diện của Người; nhưng Đức Nữ Vương uy quyền cao cả đã không cho phép vì thời điểm chưa tới.

 Khi Chúa Cứu Thế nói lời thứ ba với Mẹ Chúa “Thưa Bà, xin nhận con của Bà!” ma quỉ nhận ra Mẹ Maria rất thánh, Bà Chúa thiên đàng, đích thực là Mẹ Thiên Chúa làm người, cũng chính Vị Phụ Nữ này mà dáng dấp Người và dấu chỉ đầu tiên đã được cho chúng thấy ở trên trời khi tạo thành trời đất, chính Vị Phụ Nữ này đạp giập đầu chúng như đã được Thiên Chúa loan báo trong Địa Đàng. Chúng được biết về địa vị và sự tuyệt vời của Vị Nữ Vương cao cả này vượt trên mọi tạo vật, mà quyền lực của Người lúc này chúng đang phải tuân phục. Ngay từ khởi nguyên tạo thiên lập địa và từ lúc tạo dựng người phụ nữ đầu tiên, Lucifer và đồng bọn đã tận dụng mọi mánh khóe tinh ranh ngõ hầu khám phá ra Vị Phụ Nữ cao cả đã được loan báo trên thiên đàng là ai. Bây giờ chúng nhận ra Vị Phụ Nữ Này trong Mẹ Maria, Người mà cho tới lúc này chúng đã coi thường, những con rồng này lồng lộng giận dữ điên cuồng. Như thế việc chúng bị sai lầm đã đạp nát lòng kiêu ngạo của chúng hơn hết tất cả những hành hạ khác.

Trong cơn cuồng nộ chúng trút giận lên nhau như bầy sư tử khát máu, trong khi đó lòng phẫn nộ tuyệt vọng của chúng đối với Mẹ Maria, Đức Nữ Vương thiên đàng, tăng lên gấp ngàn lần. Hơn nữa, chúng nhận thức rõ rằng thánh Gioan được Chúa Kitô chỉ định làm thiên thần hộ vệ Thánh Mẫu Chúa, được ban cho mọi quyền năng chức linh mục. Chúng hiểu điều này nằm trong bản chất mối đe doạ chống lại sự phẫn nộ của chúng mà thánh Gioan biết rõ. Lucifer nhìn thấy quyền lực đó không phải chỉ ở riêng Vị Thánh Sử, mà được ban cho tất cả các linh mục vì các ngài tham dự vào địa vị và quyền năng Chúa Cứu Thế, và các người công chính khác, mặc dầu không phải là linh mục, đều được đặt dưới sự bảo vệ đặc biệt của Chúa, được làm cho uy dũng chống lại hỏa ngục. Điều này làm tê liệt Lucifer và toàn thể hỏa ngục.

 Lời thứ bốn Chúa Kitô dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của Con, sao Chúa bỏ Con?” Trong lời này, ma quỉ khám phá ra lòng Thiên Chúa thương xót nhân loại vô cùng và đời đời. Để thỏa mãn tình yêu thương đó, Thiên Chúa đã huyền nhiệm ngưng ảnh hưởng của Thiên Tính trên nhân tính cực châu báu Chúa để cho những thống khổ Chúa chịu lên tới cực độ và từ những thống khổ đó sinh ra kết quả vô cùng dồi dào. Chúa Cứu Thế kêu ca cách đầy yêu thương vì ơn cứu chuộc của Chúa bị tước đoạt đối với một phần nhân loại. Chúa Cứu Thế sẵn sàng chịu đau khổ thêm nếu việc đó được Thiên Chúa Cha hằng hữu quyết định. Nhân loại hạnh phúc được Thiên Chúa hết sức yêu thương làm tăng thêm lòng đố kỵ của Lucifer và toàn thể hỏa ngục. Chúng thấy Thiên Chúa không giới hạn theo đuổi đến cùng tình yêu vô biên này. Sự hiểu biết này đập nát ác tâm ngạo mạn của ma quỉ, chúng được làm cho biết rõ sự yếu đuối và tuyệt vọng của chúng trong việc chống lại tình yêu này, nếu chính nhân loại không tự ý hững hờ với tình yêu đó.

 Chúa Kitô nói lời thứ năm “Ta khát,” xác nhận Chúa chiến thắng Lucifer và các kẻ theo nó. Chúng căm phẫn cùng độ vì Chúa Giêsu đã rõ ràng cho thấy chúng bị lật đổ hoàn toàn. Qua lời này, chúng hiểu Chúa Cứu Thế nói với chúng: Nếu những đau khổ Ta phải chịu vì nhân loại và tình yêu của Ta đối với nhân loại dường như vĩ đại đối với các ngươi, các ngươi hãy tin chắc tình Ta yêu thương nhân loại vẫn không thoả mãn, tình yêu đó vẫn tiếp tục khao khát việc cứu rỗi họ đời đời, những hành hạ thống khổ như đại dương uy lực không dập tắt được tình yêu đó (Dc 8:7). Ta sẽ chịu đau khổ nhiều hơn nữa vì họ, nếu cần, để cứu họ khỏi bạo lực của các ngươi, làm cho họ trở nên uy dũng mãnh liệt chống lại ác tâm và lòng ngạo mạn của các ngươi.

 Chúa Cứu Thế nói lời thứ sáu “Mọi sự đã hoàn tất!” Lucifer và bè lũ được cho biết mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và Ơn Cứu Chuộc bây giờ được hoàn tất trọn vẹn đúng theo quyết định khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa. Ma quỉ được cho thấy Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta, đã vâng lời chu toàn thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu. Chúa đã hoàn tất mọi lời hứa, các lời tiên tri được loan báo cho nhân loại qua các Thánh Tổ. Lòng khiêm nhượng, đức vâng lời của Chúa Cứu Thế đã đền bù lòng kiêu ngạo, không tuân lệnh của chúng trên thiên đàng do việc chúng không tự mình tuân phục và nhìn nhận Chúa Cứu Thế trong thân xác nhân loại là Chúa của chúng. Bây giờ qua sự khôn ngoan của Thiên Chúa, chúng bị bắt phải thực sự hạ mình, bị đánh bại bởi chính Chúa, Đấng mà chúng khinh miệt. Địa vị cao cả, các công nghiệp vô cùng của Chúa Kitô đòi hỏi ngay trong chính thời điểm này Chúa thi hành chức vụ và quyền hành Đấng phán xét các thiên thần và loài người đã được Thiên Chúa Cha trao phó.

 Bây giờ Chúa Cứu Thế áp dụng quyền lực này, tống án lệnh truyền cho Lucifer và lũ quỉ phải lập tức đi vào những ngục tù dưới đáy hoả ngục. Chính án phạt này gồm trong lời thứ bảy Chúa Cứu Thế nói với Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha!” (Lc 23:46). Mẹ Maria rất thánh, Đức Nữ Vương quyền thế, kết hợp với thánh ý và lệnh truyền của Chúa Giêsu, truyền cho Lucifer và các quỉ theo nó phải xuống hỏa ngục. Do những lệnh truyền này, ma quỉ đã bị tống khỏi đồi Golgotha, bị liệng xuống hỏa ngục dữ dội hơn và bất thình lình hơn tia chớp xuyên qua những đám mây vỡ vụn.

 Cuộc tháo chạy tán loạn của Lucifer và lũ phản thần theo nó khỏi đồi Golgotha xuống hoả ngục còn khốc liệt thê thảm hơn lần đầu tiên chúng bi trục xuất khỏi thiên đàng. Mặc dầu, như lời thánh Gióp: nơi đó là đất của sự tối tăm, phủ đầy bóng tử thần, tăm tối hỗn độn, đau đớn khổ sở, hành hạ và náo loạn (Gióp 10:21); trong dịp này, sự hỗn loạn và vô trật tự gấp ngàn lần hơn. Những kẻ bị luận phạt bị làm cho thấy sự kinh hoàng mới và thêm nhiều cực hình khi bất thình lình gặp những ma quỉ ác độc đó trong cơn giận dữ điên khùng. Điều chắc chắn là ác quỉ không có quyền bắt những kẻ bị luận phạt ở đó bị hành hạ nhiều hơn hoặc ít hơn; vì tất cả mọi hình phạt họ phải chịu đều do phép công thẳng Thiên Chúa ấn định tùy theo mức độ tội lỗi từng kẻ bị luận phạt.

 *

 Ngay khi Lucifer được phép tiếp tục hoạt động và chỗi dậy từ cơn kinh hoàng khiếp sợ mà nó phải chịu một thời gian, nó đưa ra cho bọn phản thần những kế hoạch mới về lòng kiêu ngạo của nó. Lucifer tập hợp toàn thể các quỉ hoả ngục, nói với chúng:

 

“Này các bạn, những người đã theo ta suốt bao nhiêu thế hệ và vẫn còn theo những việc trả thù tội lỗi của ta, điều tai hại các người đều biết là lúc này ta đã bị đánh bại bởi ‘Vị Thiên Chúa người ta’ này. Không hiểu cách nào mà suốt ba mươi ba năm, Ngài đã làm cho ta bị lầm lạc, che giấu Thiên Tính, che kín mọi hành động Linh Hồn, và bây giờ chiến thắng chúng ta bằng chính cái chết mà chúng ta góp phần đem lại. Trước khi Ngài mặc thân xác nhân loại, ta đã thù ghét, từ chối không chịu nhìn nhận Ngài là thực thể cao quí hơn ta phải được mọi thụ tạo khác thờ lạy. Vì sự chống đối này mà ta bị đuổi ra khỏi thiên đàng cùng với các ngươi, bị giáng xuống tình trạng kinh tởm này quá bất xứng đối với  sự vĩ đại và vẻ đẹp trước kia của ta.”

 “Ta còn bị hành hạ hơn thế nữa vì bị bại nhục, bị hành hạ như thế này bởi Con Người này và Mẹ Ngài. Kể từ ngày con người đầu tiên được tạo dựng, ta đã không lúc nào ngưng tìm kiếm Mẹ và Con Người Này để tiêu diệt họ. Hoặc nếu ta không thể tiêu diệt được, ít nhất ta muốn đem sự hủy diệt tới trên mọi thụ tạo của Ngài, xúi giục chúng không nhìn nhận Ngài là Thiên Chúa, và không một ai sẽ được hưởng nhờ một ơn ích nào do các công nghiệp của Ngài. Điều này đã là chủ ý của ta, ta đã dành mọi ưu tư và nỗ lực hướng thẳng vào đó. Nhưng vô ích, Ngài đã đánh bại ta bằng lòng khiêm nhượng và sự khó nghèo, nghiền nát ta bằng đức nhẫn nhục, sau cùng tước đoạt quyền thống trị thế giới này của ta bằng Cuộc Khổ Hình Tử Nạn hãi hùng. Việc này gây ra cho ta nỗi đau đớn hành hạ kinh khủng, đến nỗi, nếu như ta có thành công trong việc liệng Ngài ra khỏi tay hữu Thiên Chúa Cha, nơi Ngài ngự trị vinh quang, nếu ta có lôi được hết mọi linh hồn đã được cứu chuộc xuống hỏa ngục này, cơn tức giận của ta vẫn không thể thỏa mãn nguôi ngoai.”

 ”Có thể nào bản chất nhân loại, quá sức thấp hèn so với ta, lại được đề cao trên mọi thụ tạo được chứ! Có lẽ nào bản tính nhân loại lại được yêu thương sủng ái quá sức, đến mức kết hợp với Đấng Tạo Hóa trong Ngôi Vị Ngôi Lời hằng sống! Có thể nào trước tiên Ngài gây chiến với ta trước khi thi hành việc cứu chuộc, sau đó đánh bại ta bằng sự lầm lẫn của ta như thế! Ngay từ thuở ban đầu ta đã coi nhân tính này là kẻ thù vĩ đại nhất của ta. Nhân tính này luôn luôn đổ đầy lòng ta mối hận thù không thể dung thứ. Ôi loài người, các ngươi được Thiên Chúa các ngươi, Đấng mà ta thù ghét nhất, ưu đãi, ban đặc ân và yêu thương quá sức nồng nàn! Làm sao ta cản trở được sự tốt phúc của các ngươi? Làm sao ta đem bất hạnh của ta trút lên các ngươi, vì ta không thể nào tiêu diệt được thực thể các ngươi đã nhận được?”

     “Bây giờ chúng ta bắt đầu bằng cái gì, hỡi các bạn của ta? Làm cách nào khôi phục được quyền thống trị của chúng ta? Làm cách nào giành lại được sức mạnh trên nhân loại? Làm cách nào chiến thắng được chúng? Vì nếu từ nay trở đi nhân loại không còn ngu dại vong ân bội nghĩa nữa, nếu chúng không tệ hơn chúng ta đối với ‘Vị Thiên Chúa người ta’ này, Đấng đã cứu chuộc chúng bằng tình yêu thương quá sức vĩ đại, nhất định là nhân loại sẽ hăng hái theo Ngài, sẽ không một ai chú ý tới những lừa dối của chúng ta. Họ sẽ khinh ghét những danh dự mà chúng ta quỉ quyệt tặng cho, sẽ yêu mến việc bị khinh miệt. Họ sẽ tìm kiếm việc phạt xác, sẽ khám phá ra sự nguy hiểm của khoái lạc xác thịt và sự thoải mái. Họ sẽ khinh chê của cải giàu sang, yêu mến đức khó nghèo đã được Thầy của họ đề cao. Tất cả những thứ chúng ta có thể nhử lòng thèm muốn đều sẽ bị khinh ghét vì chúng bắt chước Chúa Cứu Thế đích thực. Như thế uy quyền thống trị của chúng ta sẽ bị tiêu ma, vì sẽ không còn ai để tăng thêm số chúng ta ở nơi khốn đốn đầy ải này. Tất cả mọi người sẽ hạ mình xuống đến bụi đất và bền gan chịu đau khổ. Cơn tức giận và lòng ngạo mạn của chúng ta sẽ chẳng đem lại cho ta gì cả.”

 “Ôi, khổ cho ta chưa, sự lầm lẫn này làm cho ta đau khổ biết chừng nào! Khi ta cám dỗ Ngài ở sa mạc, kết quả duy nhất là tạo cơ hội cho Ngài để lại gương sáng về chiến thắng này. Do việc theo gương đó, nhân loại có thể chiến thắng ta dễ dàng hơn nhiều. Những hành hạ ta gây ra chỉ làm cho giáo lý về lòng khiêm nhượng nhẫn nhục của Ngài sáng tỏ hơn. Việc ta xúi giục Juda Iscariot phản bội và xúi giục đám người Do Thái buộc Ngài phải chịu hành hạ và chết trên Thánh Giá chỉ làm cho sự sụp đổ của ta và việc cứu chuộc nhân loại mau tới, trong khi đó giáo lý mà ta tìm cách xoá bỏ lại càng được ghi khắc sâu đậm vững chắc hơn. Làm thế nào Một Vị là Thiên Chúa lại có thể tự hạ mình đến mức như thế? Làm cách nào Thiên Chúa lại chịu đau khổ quá nhiều vì loài người mà chúng vốn gian ác? Ôi quyền lực Ngài thần uy chừng nào đến mức có thể hành hạ ta và làm ta suy yếu đến như thế?”

 “Làm cách nào Vị Phụ Nữ Này, Thánh Mẫu Ngôi Lời Nhập Thể và là Kẻ Thù của ta, lại quá sức uy quyền bất khả địch trong việc chống lại ta? Mới lạ chừng nào quyền năng như thế ở nơi chỉ một thụ tạo, chắc chắn Bà Ấy nhận được quyền năng đó từ Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng Mà Bà Ấy đã mặc cho thân xác loài người. Qua Vị Phụ Nữ Này, Thiên Chúa Toàn Năng đã không ngừng khai chiến chống lại ta; vì kiêu ngạo, ta đã ghét Bà Ấy ngay từ giây phút thấy hình bóng Bà Ấy xuất hiện trên trời. Lòng căm phẫn của ta không được xoa dịu, ta không được lợi lộc gì trong cuộc chiến tranh thường trực chống lại Chúa Cứu Thế, chống lại Thánh Mẫu của Ngài và chống lại loài người. Như vậy bây giờ, các ngươi bọn quỉ hãy theo ta, bây giờ là lúc khai lối cho lòng căm hờn của chúng ta chống lại Thiên Chúa. Nào tất cả hãy góp ý kiến xem chúng ta phải làm gì; ta muốn nghe ý kiến chúng bay.”

 Một số quỉ lớn đưa ra những đề nghị cho mưu đồ kinh khủng này, khuyến khích Lucifer bằng nhiều kế hoạch khác nhau để cản trở Ơn Cứu Chuộc nơi loài người. Tất cả các quỉ dữ đều đồng ý rằng chúng không thể nào làm tổn thương ngôi vị Chúa Kitô. Chúng không thể làm giảm bớt giá trị vô cùng công nghiệp của Chúa. Chúng không thể phá hủy hiệu lực các Bí Tích. Chúng không thể thủ tiêu các giáo lý Chúa Kitô đã rao giảng. Tuy nhiên quyết định nương theo đường lối mới về ơn trợ giúp và đặc ân được Thiên Chúa thành lập cho việc cứu rỗi nhân loại, bọn quỉ tìm kiếm những phương cách mới để cản trở việc làm của Thiên Chúa bằng những mưu chước lừa dối, những cám dỗ xảo quyệt dữ dội hơn nữa.

 Một số quỉ tinh ranh ác độc, dựa vào các kế hoạch này, nói: “Đúng là lúc này nhân loại có sẵn giáo lý và lề luật mới rất mạnh, các Nhiệm Tích hữu hiệu, một Khuôn Mẫu và Thầy dạy các thánh đức mới, một Đấng Bầu Cử và Trạng Sư mạnh thế nơi Vị Phụ Nữ này. Dẫu vậy các khuynh hướng tự nhiên, những khát vọng nhục thể của loài người vẫn còn y nguyên, loài người có khuynh hướng ưa khoái lạc vẫn không thay đổi bản chất tự nhiên. Như thế, chúng ta (= quỉ) lợi dụng hoàn cảnh này cùng với sự tinh ma xảo trá gia tăng, tận lực làm thất bại các hiệu lực những việc ‘Vị Thiên Chúa làm người’ đã làm cho nhân loại. Chúng ta (= quỉ) hãy bắt đầu cuộc chiến gay go chống lại loài người bằng cách đưa ra những quyến rũ mới, khích thích chúng theo đuổi các đam mê mà quên hết mọi thứ khác. Như thế, nhân loại, bị vướng vào những thứ nguy hiểm này, sẽ không thể đi theo những gì ngược lại.”

 Hành động theo ý kiến cố vấn này, các hỏa ngục phân phối lại các phạm vi hoạt động với nhau để mỗi đoàn quân quỉ, với sự xảo trá tinh ranh, có thể cám dỗ người ta về những tật xấu khác nhau. Chúng quyết định tiếp tục tuyên truyền việc thờ ngẫu thần trên khắp thế giới, để người ta không thể ý thức được Thiên Chúa và Chúa Cứu Thế đích thực. Nơi nào việc thờ ngẫu thần bị thất bại, chúng thiết lập các nhóm phản giáo. Đối với các nhóm này, chúng chọn những người ngoan cố trụy lạc nhất làm thủ lãnh, làm thầy dạy sự sai lầm. Chính Lucifer tỏ ra hài lòng với những ý kiến cố vấn của các quỉ chống lại chân lý thần linh, hủy diệt chính nguồn gốc sự cứu rỗi loài người là đức tin vào Thiên Chúa. Lucifer đã không tiếc lời ca tụng, đặt vào chức vụ cao những tên quỉ tỏ ra hăng say, biết cách tìm ra những người khởi xướng nghịch đạo.

 Một số tên xung phong nhận trách nhiệm làm hư hỏng khuynh hướng của trẻ nhỏ ngay từ lúc bẩm thai hoặc khi chào đời. Những quỉ khác chịu trách nhiệm xúi giục các cha mẹ chểnh mảng giáo dục con cái, hoặc yêu thương quá mức hoặc ác cảm, và làm cho con cái thù ghét cha mẹ. Những quỉ khác tình nguyện gây lòng hận thù giữa vợ chồng, làm cho họ đi vào đường ngoại tình, hoặc ít nghĩ tới lòng chung thủy với người phối ngẫu. Tất cả các quỉ đều nhất tâm gieo rắc giữa loài người những hạt giống bất hòa, ghen ghét thù hằn, tư tưởng kiêu ngạo, ham khoái lạc, thèm khát của cải danh vọng. Chúng khuyến giục những lý do giả tạo tinh vi chống lại mọi thánh đức mà Chúa Kitô đã giảng dạy. Hơn hết tất cả là chúng quyết tâm làm suy yếu lòng tưởng nhớ Khổ Hình Tử Nạn của Chúa, chúng cố làm cho người ta quên các phương tiện cứu chuộc và những đau khổ đời đời trong hoả ngục. Bằng những phương tiện này, ma quỉ hy vọng đàn áp sức mạnh và khả năng của nhân loại bằng việc làm cho họ lo lắng quá mức các việc trần thế và khoái lạc nhục dục, để họ có rất ít thì giờ cho tư tưởng thiêng liêng và phần rỗi đời đời.

 Sau khi nghe các quỉ đưa ra nhiều khuyến cáo khác nhau, Lucifer nói: “Ta mang ơn các ngươi rất nhiều; ta đồng ý và nhận tất cả các ý kiến các ngươi. Thực hiện những ý kiến đó đối với những người không tuân theo luật Chúa Cứu Thế ban cho nhân loại thì hẳn là dễ, nhưng nhất định là khó khăn vất vả khi thực hiện các mưu mô này đối với những người chấp nhận yêu mến giữ các luật của Ơn Cứu Độ. Nhưng ta nhất định hướng tất cả mọi tức giận phẫn nộ chống lại luật này và những người theo luật này. Ta sẽ hành hạ cùng cực cay đắng những ai nghe theo giáo lý của Chúa Cứu Thế và trở nên môn đệ Ông Ta. Cuộc chiến khốc liệt nhất của chúng ta phải được tiến hành chống lại tất cả những thứ này cho đến tận thế. Ta phải cố gắng gieo rắc trong Giáo Hội mới này (Mt 14:25) những cao vọng, tham lam của cải, đam mê nhục dục, hận thù ghen ghét, cùng với tất cả mọi tính xấu khác mà ta là chúa trùm. Một khi những tội lỗi này cùng với lòng ác độc vong ân gia tăng chồng chất giữa các tín hữu, chúng làm cho Thiên Chúa tức giận và, vì công thẳng, truất phế loài người khỏi quyền hưởng các ơn cứu độ dành cho họ nhờ công nghiệp Chúa Cứu Thế.”

 “Một khi chúng tự tước đoạt khỏi những phương tiện cứu rỗi này, chúng ta sẽ chắc chắn chiến thắng dễ dàng. Hỏa ngục chúng ta cũng phải tận lực làm suy yếu lòng sốt mến và tất cả những thứ gì là tinh thần linh thánh; để loài người không ý thức được sức mạnh các Nhiệm Tích và chúng lãnh nhận các Nhiệm Tích đó khi mắc tội trọng, hoặc ít nhất là không sốt sắng tận hiến. Vì các Nhiệm Tích này thánh thiêng, cần phải lãnh nhận với lòng sốt mến mới gặt hái được kết quả. Nếu chúng khinh thường thuốc trị bệnh, chúng sẽ ốm mòn trong bệnh tật, ít có khả năng chống lại những cám dỗ. Vì không thể nào nhận ra được các âm mưu lừa dối của ta, chúng sẽ để cho kỷ niệm về Chúa Cứu Thế, việc nhờ lời cầu bầu của Mẹ Chúa Cứu Thế vượt khỏi trí khôn. Như thế sự vong ân bội nghĩa ngu đần của chúng làm cho chúng không xứng đáng được hưởng thánh sủng, làm cho Thiên Chúa và Chúa Cứu Thế của chúng thịnh nộ tước khỏi chúng những ơn trợ giúp. Ta muốn tất cả các ngươi tích cực phụ giúp ta, đừng để phí thì giờ cũng không bỏ lỡ cơ hội nào thi hành các mệnh lệnh của ta.”

 Không thể nào nghe lại tất cả những âm mưu Lucifer và các quỉ theo nó đã dựng lên để chống lại Giáo Hội và con cái Giáo Hội, để những dòng nước này của sông Jordan có thể bị nuốt vào họng nó (Gióp 40:18). Chúng ta có thể cùng nói với thánh Gioan: “Khốn thay cho thế giới, vì Satan đến với các ngươi với lòng giận dữ cuồng nộ!” Nhưng khốn nạn thay! liệu trong thời đại này, chúng ta có nhớ được sự thực không thể sai lầm phải được mọi người sợ hãi và hết sức xa lánh để tránh khỏi sự nguy hiểm không thể đền bù! Kẻ thù của chúng ta tinh ranh xảo quyệt, hung ác và tỉnh thức. Trái lại, chúng ta mê ngủ, hững hờ cẩu thả! Lạ gì Lucifer củng cố được vị thế vững chắc trên thế giới. Quá nhiều người nghe theo chấp nhận để nó lừa dối. Trái lại, quá ít người chống lại nó. Người ta hoàn toàn quên mất cái chết đời đời. Đó là điều mà Lucifer hết sức điên cuồng và ác tâm tìm kiếm để lôi kéo về với nó.

 Tác giả (đấng đáng kính Maria đệ Giêsu) tha thiết xin toàn thể tín hữu Công Giáo đừng quên mối nguy hiểm khủng khiếp này. Nếu người ta không tin mối nguy hiểm này qua hoàn cảnh khốn nạn của thế giới và qua những điều ác độc mà mọi người trải qua, ít nhất họ học biết về mối nguy hiểm này nhờ những phương thuốc, ơn phù trợ quyền năng vô biên, mà Chúa Cứu Thế thấy cần thiết phải để lại cho Giáo Hội Chúa. Vì hẳn là Chúa đã không ban những phương thuốc giải độc đó nếu bệnh tật và mối nguy hiểm về cái chết đời đời không quá sức lớn lao khủng khiếp.

 LỜI MẸ MARIA

 

    Việc con cái Giáo Hội thời sơ khai bắt chước Chúa Kitô, mô phỏng sống động trong việc đương đầu với ma quỉ, khiến chúng khiếp sợ không dám tới gần. Chúng lao đầu trốn chạy các thánh Tông Đồ và những người công chính thấm nhuần giáo lý Con cực thánh Mẹ. Nơi các vị này, những kết quả đầu mùa ân sủng và Ơn Cứu Chuộc được dâng lên Thiên Chúa Toàn Năng. Những điều, nhìn thấy nơi các thánh và các Kitô hữu trọn lành thời kỳ đầu Giáo Hội, hẳn cũng xảy ra nơi các tín hữu Công Giáo trong thời đại này nếu họ vui lòng nhận lãnh và sinh hoạt với các hồng ân Chúa, nếu họ vui lòng tìm theo con đường Thánh Giá, thay vì để cho các ân sủng đó bị lãng phí.

 Lúc này Lucifer cũng vẫn hết sức sợ Thánh Giá như vào thời kỳ con mô tả. Khi lòng bác ái, lòng sốt sắng tận hiến nơi nhiều tín hữu bắt đầu nguội lạnh dần, họ quên các ân sủng Ơn Cứu Chuộc và vinh quang Chúa Cứu Thế. Họ bị khuất phục bởi các khuynh hướng xác thịt đòi hỏi; yêu thích phù vân; tham lam của cải; tự để cho mình bị những lừa đảo gian trá do Lucifer mê hoặc dối gạt dụ dỗ mắc vào lưỡi câu của kẻ thù sinh tử. Lòng bội bạc kinh tởm này đã đẩy thế giới vào tình trạng hiện nay, khuyến khích ma quỉ chỗi dậy trong sự ngạo mạn chống lại Thiên Chúa. Chúng cả gan tự chiếm lấy tất cả con cái Adong vì sự quên lãng cẩu thả này nơi các tín hữu Công Giáo. Chúng cả gan âm mưu tiêu diệt toàn thể Giáo Hội, lôi cuốn quá nhiều người sa ngã hư hỏng rời xa Giáo Hội, xúi giục những người còn ở trong Giáo Hội ít nghĩ tới Giáo Hội, hoặc cản trở họ không sinh hoa kết quả nhờ Máu và Tử Nạn của Chúa Cứu Thế.

 

CHƯƠNG 11

 

CHÚA KITÔ PHỤC SINH

 

 Mặc dầu bị bao bọc giữa muôn nỗi buồn phiền, Mẹ Maria luôn theo dõi và chu toàn sứ mệnh trong mọi biến cố. Chúng ta nhớ sau khi táng xác cực thánh Chúa Kitô, Mẹ Maria trở lại Nhà Tiệc Ly cùng với thánh Gioan, các bà Maria, và những phụ nữ khác đã theo Chúa Kitô từ Galilea. Tại phòng Tiệc Ly, Mẹ Maria khiêm nhượng cảm tạ tất cả các bà và thánh Gioan vì đã kiên trì ở với Mẹ suốt Cuộc Khổ Hình của Con cực yêu dấu cho tới giờ phút này. Nhân danh Chúa Kitô, Mẹ hứa với các vị này phần thưởng vì đã kiên trì theo Chúa. Tất cả các bà này cùng với thánh Gioan cảm tạ Mẹ, hôn tay Mẹ, xin Mẹ chúc lành, cũng xin Mẹ nghỉ ngơi ăn uống đôi chút. Mẹ Maria nói: “Sự nghỉ ngơi và niềm an ủi của tôi sẽ phải là thấy Chúa Con tôi từ cõi chết sống lại. Các bạn thân yêu, các bạn hãy ăn uống, nghỉ ngơi theo nhu cầu các bạn, trong khi tôi tĩnh tâm một mình với Con tôi.” Tại phòng riêng, Mẹ Maria chiêm niệm các việc làm của linh hồn Chúa Giêsu sau khi rời khỏi xác cực thánh. Mẹ Maria biết linh hồn cực thánh Chúa Kitô, kết hợp với Thiên Tính, xuống Lâm Bô giải thoát các Thánh Tổ khỏi nơi các ngài bị cầm giữ từ khi người công chính đầu tiên chết trong trông chờ ngày Chúa Cứu Thế đến.

 Nhờ sự hiện diện của linh hồn cực thánh Chúa, nhà tù tăm tối này biến thành thiên đàng chan hòa ánh sáng huy hoàng kỳ diệu. Linh hồn các thánh ở Lâm Bô được nhìn thấy rõ ràng Thiên Tính của Chúa Cứu Thế. Chỉ trong giây phút, các thánh Tổ và các thánh chuyển từ tình trạng mỏi mòn ngóng đợi sang tình trạng chiếm hữu vinh quang, từ tối tăm ra sáng láng rực rỡ. Tất cả các ngài đều nhận biết Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là Chúa Cứu Thế đích thực, đã dâng lên Chúa lời tạ ân chúc tụng: “Con Chiên đã bị giết xứng đáng nhận quyền năng và Thiên Tính, sự khôn ngoan, sức mạnh, danh dự, vinh quang và phúc lộc. Lạy Chúa, Chúa đã cứu chuộc chúng con trong máu Chúa, chúng con thuộc mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ, mọi sắc dân, mọi quốc gia, Chúa làm cho chúng con trở thành vương tước và tư tế của Thiên Chúa, và chúng con sẽ thống trị trái đất (Kh 5: 9-12). Lạy Chúa, Chúa là sức mạnh, là quyền thống trị, là vinh quang trong mọi việc Chúa làm.” Kế đó, Chúa Cứu Thế ra lệnh cho các thiên thần đem tất cả các linh hồn nơi luyện ngục tới. Trong phần khởi đầu Ơn Cứu Chuộc, các linh hồn trong luyện ngục, lúc này, được Chúa Cứu Thế tha hết mọi hình phạt, được tôn vinh cùng với linh hồn những người công chính khác, được nhìn thấy Thiên Chúa. Như thế, ngày hôm đó sự hiện diện của Vua trời đất đã giải phóng hết các tội nhân trong các nhà tù lâm bô và luyện ngục. Linh hồn cực thánh Chúa Kitô ở Lâm Bô khoảng từ lúc chín giờ rưỡi (bảy giờ ngày nay) tối ngày thứ Sáu cho tới ba giờ (sáu giờ) sáng ngày Chúa Nhật tiếp theo. Lúc này Chúa Cứu Thế trở lại mồ thánh với tư cách là Chúa khải hoàn của các thiên thần và các thánh. Các thánh được Chúa cứu khỏi lâm bô và luyện ngục là những chiến lợi phẩm trong chiến thắng vinh quang của Chúa. 

Các thiên thần, canh giữ mồ thánh, thờ lạy xác cực thánh Chúa Cứu Thế. Một số thiên thần, vâng lệnh Mẹ Maria, đã gom hết các thánh tích máu cực châu báu Con cực thánh Mẹ đổ ra, những mảnh da thịt bị xé nát bắn tung tóe, những sợi râu tóc bị bứt ra khỏi mặt và đầu, và bất cứ thứ gì khác thuộc về sự toàn vẹn thân xác cực thánh Chúa. Mẹ Maria đã ân cần lo lắng đến các thánh tích này. Những thiên thần được chỉ định bảo quản các thánh tích vui mừng vì đặc ân này.

 Các thánh tổ và toàn thể các thánh được cứu khỏi Lâm Bô và Luyện ngục chiêm bái Thánh Thể Chúa Cứu Thế y nguyên thương tích, rách nát, không còn hình hài nguyên vẹn. Nhìn thấy hình hài Chúa tan nát như thế, các Thánh Tổ và toàn thể các thánh thờ lạy Chúa Cứu Thế. Các ngài lại tuyên xưng Chúa Cứu Thế là Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng đã gánh mọi bất toàn, thống khổ của nhân loại (Is 53:4), đền đáp dư thừa mọi nợ nần nhân loại mắc, thỏa mãn những điều mà chính chúng ta phải trả đối với phép công thẳng của Thiên Chúa Cha hằng hữu. Trên thân xác tan nát của Chúa Cứu Thế, Nguyên Tổ Adong và Evà nhìn thấy sự tàn phá gây ra do tội ông bà không vâng lời, sự tàn phá đó cần đến linh dược vô giá là lòng nhân từ thương xót vô cùng của Chúa Cứu Thế. Khi nguyên tổ Adong và Evà cảm thấy các hiệu lực Ơn Cứu Chuộc sung mãn trong vinh quang linh hồn, ông bà lại tạ ân Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng Thánh trên hết mọi đấng thánh, Đấng đã thực hiện Ơn Cứu Chuộc cách vô cùng khôn ngoan.

 Kế đến, trước mặt tất cả các thánh, qua phục dịch của các thiên thần, tất cả mọi thánh tích, đã được các thiên thần thâu góp và bảo toàn nguyên vẹn, lại kết hợp với thân xác cực thánh Chúa Cứu Thế. Cùng lúc đó linh hồn Chúa kết hợp lại với thân xác, đem lại cho thân xác cực thánh sự sống và vinh quang đời đời. Thay vì những tấm khăn và dầu thơm mà trong đó xác cực thánh được tẩm liệm mai táng, thân xác Chúa lúc này được mặc cho bốn ân quang là: tính trong suốt, bất khả bị tổn thương, lanh lẹ và vô hình (Gioan 19:40).

 Các ân quang này đều thuộc về thân xác cực thánh Chúa Giêsu ngay từ giây phút đầu tiên bẩm thai. Từ giây phút đầu tiên làm người, linh hồn cực thánh Chúa Giêsu đã được vinh quang và toàn thể nhân tính Chúa đã được kết hợp với Thiên Tính. Khi Chúa Phục Sinh, các ân quang này được để cho hoạt động đúng mức độ hợp với vinh quang linh hồn Chúa Cứu Thế và thích đáng kết hợp với Thiên Tính. Chúng ta không thể hiểu, không thể mô tả vinh quang linh hồn cực thánh Chúa Kitô bằng ngôn từ hoặc bằng những khuôn mẫu chúng ta có. Ánh sáng vốn sẵn có từ Thân Xác Chúa chiếu ra vượt qua mọi thứ ánh sáng khác, như ban ngày vượt quá bóng đêm, như ánh sáng của muôn vạn mặt trời so với ánh sáng một ngôi sao. Tất cả mọi vẻ đẹp của toàn thể thụ tạo gom chung lại cũng vẫn hết sức xấu xí nếu so với vẻ đẹp nơi thân xác Chúa. Sự tuyệt hảo của các ân quang này trong Việc Phục Sinh còn vượt quá xa vinh quang khi Chúa hiển dung trên núi Tabor hoặc những lần khác được kể trong lịch sử này. Trong các dịp đó Chúa chỉ nhận vinh quang tạm thời vì những mục đích đặc biệt, còn bây giờ Chúa nhận vinh quang toàn vẹn đời đời.

 Do tính chất bất khả đả thương, thân xác Chúa trở nên vô địch đối với tất cả mọi sức mạnh thụ tạo. Không một sức mạnh nào có thể làm chuyển động hoặc thay đổi được Chúa. Do tính nhẹ nhàng vô hình, bản chất nặng nề vật chất được tinh khiết hoá vô cùng nên thân xác Chúa có thể xuyên qua các chất khác. Tính nhẹ nhàng cũng giải phóng thân xác Chúa Cứu Thế khỏi trọng lượng và sự chậm chạp thể chất. Tính nhẹ nhàng nơi thân xác Chúa vượt xa tính nhanh lẹ của các thiên thần vốn không có thân xác, trong khi đó Chúa có thể đi đây đó mau lẹ hơn các thiên thần, như được thấy khi Chúa hiện ra với các thánh Tông Đồ và nhiều dịp khác nữa. Các thương tích thánh, đã từng làm cho hình hài Chúa không còn như trước, bây giờ ánh sáng từ dấu thánh nơi bàn tay, bàn chân và cạnh sườn chiếu ra rực rỡ chói lọi. Hào quang rực rỡ từ các thương tích này làm tăng thêm vẻ đẹp đẽ tuyệt vời của Chúa. Bây giờ Chúa Cứu Thế ra khỏi mồ trong vinh quang trọn vẹn và huy hoàng thiên đàng.

 Trước mặt tất cả các Thánh Tổ và các thánh, Chúa Cứu Thế hứa cho mọi người sống lại trong thân xác riêng từng người. Hơn nữa, Chúa còn hứa cho mọi người được hưởng vinh quang như Chúa, nhờ hiệu lực việc Chúa Phục Sinh. Để tỏ lòng khao khát và là lời hứa bảo đảm cho mọi người được sống lại, Chúa Cứu Thế truyền cho linh hồn nhiều vị thánh hiện diện kết hợp lại với thân xác và sống lại vĩnh cửu. Lập tức thánh lệnh này được thi hành, thân xác các thánh đó đã sống lại và được hưởng trước mầu nhiệm này (Mt 27:52). Trong số các thánh này là thánh Anna và Gioakim, song thân Mẹ Maria; thánh Giuse, phu quân trinh khiết Mẹ; nhiều thánh Tổ mà các vị này đã đặc biệt nổi bật về đức tin, lòng ước mong tha thiết trông đợi và cầu xin cho việc Ngôi Lời nhập thể. Chúa cho thân xác các vị này được hưởng trước sự sống lại vinh quang để thưởng cho lòng khao khát của các ngài. 

Từ phòng tĩnh tâm nơi Nhà Tiệc Ly, Mẹ Maria thấy và tham dự hết mọi mầu nhiệm này. Cùng lúc linh hồn cực thánh Chúa Kitô trở lại đem sự phục sinh cho thân xác Chúa, niềm hân hoan trong linh hồn vô nhiễm nguyên tội Mẹ Maria, vốn bị hạn chế kìm hãm như được nói trong chương trước, lúc này lại chảy tràn ngập thân xác tinh tuyền của Mẹ. Hiệu lực niềm hân hoan này tuôn chảy quá sức mãnh liệt đến mức Mẹ Maria đã lập tức từ đau buồn đổi sang hân hoan vui mừng, từ đau đớn sang hoan lạc, từ ưu sầu thành vui vẻ hạnh phúc. Cũng chính lúc này Thánh Sử Gioan bước vào phòng Mẹ để an ủi Mẹ như ngài đã thi hành sáng hôm trước; bất ngờ, thánh Gioan thấy Mẹ Maria trong ánh huy hoàng vinh quang khác hẳn với trước đó khi mà ngài không nhận ra Mẹ. Ngài kết luận Chúa đã sống lại, vì Thánh Mẫu thay đổi hoàn toàn như vậy.

 Trong niềm vui mới này và dưới ánh sáng thị kiến siêu nhiên, Mẹ Maria bắt đầu chuẩn bị đón Chúa Cứu Thế tới thăm, chắc là ngay lúc này. Ngay khi Mẹ dâng lên những ca vịnh chúc tụng và cầu nguyện, Mẹ cảm thấy trong chính Mẹ niềm hoan lạc thần linh mới, vượt hơn niềm vui lúc đầu rất xa, đối xứng lạ lùng với những phiền não đau khổ Mẹ phải chịu trong Cuộc Khổ Nạn của Chúa. Đặc ân mới này khác hẳn và đáng ca tụng hơn nhiều so với các niềm vui chảy tự nhiên từ linh hồn sang thân xác Mẹ. Hơn nữa, Mẹ Maria nhận thấy trong chính Mẹ hiệu lực thứ ba khác lạ hơn, gồm những đặc ân mới của Thiên Chúa.

 Khi Mẹ Maria đang chuẩn bị như thế, Chúa Cứu Thế đã phục sinh vinh quang hiện ra với Mẹ, có toàn thể các thánh và các thánh Tổ đi theo. Mẹ Maria, Đức Nữ Vương đời đời khiêm tốn, sấp mình thờ lạy Thiên Chúa Con Mẹ. Chúa Giêsu nâng Mẹ lên và ôm Mẹ. Trong sự hiệp thông này, Mẹ Maria hưởng hồng ân đặc biệt mà chỉ một mình Mẹ có thể được hưởng vì vô nhiễm nguyên tội và không tì vết cá nhân. Mặc dầu đây không phải là đặc ân vĩ đại nhất trong các đặc ân Mẹ Maria được hưởng, Mẹ đã không thể nào nhận lãnh những đặc ân đó mà không chết, nếu không được Chúa làm cho mạnh sức. Đặc ân này là thân xác vinh quang của Con Mẹ kết hợp mật thiết với thân xác cực trinh khiết Mẹ. Chúa thấu vào Mẹ hoặc Mẹ tan biến trong Chúa, như khi trái cầu pha lê hút vào trong đó ánh sáng mặt trời và rực rỡ trong ánh sáng của nó. Linh hồn Mẹ Maria đã đạt tới hiểu biết những mầu nhiệm cao siêu nhất. Giữa các mầu nhiệm này, Mẹ nghe tiếng Chúa nói với Mẹ: “Hỡi Mẹ yêu dấu của Con, hãy lên cao hơn nữa!” (Lc 18:10). Do quyền lực của lời này, Mẹ Maria được hoàn toàn biến hình và nhìn thấy Thiên Chúa trực diện, trong đó Mẹ thấy rõ ràng sự an nghỉ và phần thưởng cho mọi nỗi thống khổ vất vả của Mẹ. Chỉ có im lặng là thích hợp ở đây, vì lý luận và ngôn từ đều hoàn toàn không đủ để hiểu hoặc diễn tả những gì trải qua trong Mẹ Maria suốt thời gian thị kiến cao quí nhất này. Chúng ta cùng nhau mừng ngày hôm nay trong hoan hỉ, chúc tụng, cảm tạ, yêu mến và khiêm tốn về những điều Mẹ Maria trong khi đó đã đạt được cho chúng ta, để chúc mừng vinh quang và niềm vui của Mẹ. 

 Suốt nhiều tiếng đồng hồ, Mẹ Maria tiếp tục hưởng bản tính Thiên Chúa cùng với Con cực thánh Mẹ, dự phần chiến thắng vinh quang của Chúa như Mẹ đã chia sẻ những cực hình thống khổ. Kế đó cũng những mức độ tương tự, Mẹ Maria rời khỏi thị kiến, sau cùng Mẹ thấy chính Mẹ tựa vào cánh tay phải của Chúa, được hân hoan vui vẻ theo những cách khác do quyền năng Thiên Chúa (Cv 2:6). Mẹ Maria truyện trò vô cùng ngọt ngào với Con cực thánh về các mầu nhiệm Cuộc Khổ Hình và Vinh Quang của Chúa, Mẹ lại được ngây ngất say sưa trong yêu thương bác ái. Tất cả mọi thứ, mà một thụ tạo có thể tiếp nhận, đã được phong ban cho Mẹ Maria trong dịp này. Thiên Chúa đền bù những thống khổ mà Mẹ Maria cực trinh trong và vô nhiễm nguyên tội đã phải trải qua trong khi chia sẻ các đau đớn buồn phiền trong Cuộc Khổ Hình Cứu Chuộc.

 LỜI MẸ MARIA

 

 Mỗi đặc ân được Chúa gia tăng cách tương xứng nơi một người, khi người đó, trong tình trạng ân sủng, làm một việc hết sức tầm thường ít đáng công phúc nhất, cho dù việc đó chỉ là lượm một cọng rác hoặc cho người khác một ly nước vì yêu mến Chúa (Mt 10:42). Chúa ân thưởng gia tăng sự trong sáng trội vượt hơn ánh sáng mặt trời nhiều lần và tăng thêm tình trạng thánh sủng. Người ta nhận được ơn gia tăng tính bất khả chấn động giúp thoát xa tình trạng sa đọa, khỏi tính chất bất toàn dễ thay đổi của loài người. Chúa cũng ban ơn gia tăng tính chất vô hình giúp người ta có khả năng xuyên thấu, vượt qua mọi thứ có sức đề kháng. Chúa cũng ban ơn gia tăng tính chất nhanh nhẹn vượt hơn mọi hoạt động của loài chim, của gió, và tất cả mọi thứ hoạt động khác.

 Từ sự gia tăng các đặc ân ban cho thân xác, con sẽ hiểu việc tăng thêm các đặc ân cho linh hồn. Mọi đặc ân ban cho thân xác đều phát xuất từ các đặc ân ban cho linh hồn cách thích hợp. Trong thị kiến siêu nhiên một người đạt được tri thức tường tận bản tính và sự trọn lành của Thiên Chúa hơn các tiến sĩ và các nhà thông thái trong Giáo Hội. Ơn hiểu biết, hoặc chiếm hữu Thiên Chúa, được gia tăng cũng cách như thế. Ơn này cao quí hơn tất cả mọi thứ cao quí và của cải mà người ta sở đắc. Ơn đạt được kết quả là đặc ân thứ ba ban cho linh hồn để bằng tình yêu người ta làm những việc nhỏ bé nhất.

 

CHƯƠNG 12

 

CHÚA KITÔ VỀ THIÊN ĐÀNG

 

 Một vài ngày trước khi Chúa Giêsu về Thiên Đàng, Mẹ Maria được thị kiến Thiên Chúa Cha hằng hữu và Chúa Thánh Linh. Thiên Chúa ngự trên ngai uy nghi, các đạo binh thiên thần vây quanh phụng thờ. Khi đó Ngôi Lời Nhập Thể lên ngự trên ngai cùng với Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Linh. Trong niềm tôn kính sâu thẳm nhất, Mẹ thờ lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, mà Thiên Chúa Ngôi Hai làm người là Con của Mẹ. Thiên Chúa Cha hằng hữu truyền cho hai Tổng Lãnh thiên thần đến mời Mẹ Maria. Hai Tổng Lãnh thiên thần kính cẩn thông đạt cho Mẹ thánh ý Thiên Chúa Cha. Mẹ chỗi dậy với lòng khiêm tốn, khoan hòa và tôn thờ cực kỳ sâu thẳm. Được các thiên thần hộ vệ, Mẹ Maria lại phủ phục trước mặt Thiên Chúa. Thiên Chúa Cha hằng hữu nói với Mẹ Maria: “Hỡi Ái Nữ yêu dấu, Con hãy lên cao hơn!” (Lc 14:10). Do hiệu lực lời Thiên Chúa Cha, Mẹ Maria được nâng lên bên hữu Chúa Cứu Thế. Các thần thánh sửng sốt ngỡ ngàng khi thấy một thụ tạo được tôn vinh lên địa vị như thế. Các thần thánh, được làm cho hiểu mầu nhiệm và sự chính đáng trong mọi việc của Đấng Tối Cao, đã dâng lời chúc tụng ngợi khen tung hô Thiên Chúa cao cả, Đấng Công Chính, Thánh Thiện và Đáng Ngợi Khen trong mọi thánh ý Ngài.

 Kế đến, Thiên Chúa Ba Ngôi nói với các thần thánh: “Đây là Nữ Vương mọi thụ tạo trên trời dưới đất. Người là Đấng Bảo Vệ Giáo Hội, Bà Chúa mọi thụ tạo, Mẹ các người thánh thiện, Đấng Bầu Cử các tín hữu, Trạng Sư của các kẻ tội lỗi, là Mẹ của tình yêu mến diễm tuyệt và lòng cậy trông thánh thiện (Gv 24:24). Người mạnh thế trong việc lôi kéo thánh ý Thiên Chúa ban ơn thương xót nhân từ. Nơi Người mọi kho tàng ân sủng được tích trữ. Trái Tim trung trinh của Người sẽ là Tấm Bia trên đó Thánh Luật Thiên Chúa được ghi khắc. Mọi mầu nhiệm Thiên Chúa Toàn Năng về việc cứu chuộc nhân loại được tích chứa nơi Người. Người là kỳ công tuyệt tác do quyền năng của Ta. Mọi thánh ý Ta được truyền thông và được thoả mãn nơi Người không chút cản trở. Bất cứ ai thành tâm kêu cầu Người sẽ không bị hư mất. Bất cứ ai được Người cầu bầu cho sẽ được sống đời đời. Người xin bất cứ điều gì cũng sẽ được Ta ban. Vì Người đã tận hiến trọn vẹn để làm hài lòng Ta, Ta sẽ luôn lắng nghe các điều Người yêu cầu và thoả mãn ý nguyện của Người.”

 Khi nghe mình được xưng tụng đề cao như thế, Mẹ Maria hạ mình càng thẳm sâu hơn nữa, trong khi đó Thiên Chúa nâng Mẹ lên cao vượt trên cả loài người và các thiên thần. Mẹ Maria coi mình nhỏ bé nhất trong mọi thụ tạo. Mẹ thờ lạy Thiên Chúa, và bằng ngôn từ khôn ngoan nhất mực và lòng yêu mến nồng nàn cực độ, hiến dâng chính Mẹ phục vụ như tôi tớ trung thành trong Giáo Hội và mau mắn vâng theo mọi điều Chúa muốn. Mẹ Maria canh tân việc nhận lãnh săn sóc Giáo Hội. Mẹ là Hiền Mẫu tràn đầy yêu thương đối với mọi con cái Giáo Hội. Mẹ canh tân các lời cầu nguyện từ trước tới nay, để trong những ngày còn lại trong cuộc đời, những lời Mẹ cầu nguyện Mẹ được liên tục sốt sắng tột độ.

 Cũng ngày hôm đó, do thánh ý Chúa an bài, trong khi Chúa Giêsu ngồi ở bàn cùng với mười một Tông Đồ, các môn đệ và các phụ nữ thánh thiện tụ về Nhà Tiệc Ly. Tất cả là một trăm hai mươi người. Thầy Chí Thánh muốn tất cả mọi người hiện diện khi Chúa về Thiên Đàng. Chúa đã giảng dạy các Tông Đồ, Chúa cũng muốn lúc này chỉ dạy mọi tín hữu cách thích nghi những điều từng người cần biết trước khi Chúa về Trời. Vì thế, khi tất cả mọi người tụ họp trong Phòng Tiệc Ly, Chúa Hằng Sống nói với mọi người hiện diện: ”Các con yêu dấu nhất của Cha, Cha sắp sửa về với Thiên Chúa Cha, mà từ lòng Ngài, Cha đã xuống trần gian cứu chuộc nhân loại. Cha để lại cho các con Mẹ của Cha. Người đại diện Cha để là Đấng Bảo Vệ, Đấng An Ủi và Trạng Sư của các con, là Mẹ các con. Các con phải vâng nghe lời Người trong mọi sự. Như Cha đã nói với các con, người nào thấy Cha thì thấy Thiên Chúa Cha của Cha. Bây giờ Cha nói với các con: người nào nhận biết Mẹ (của) Cha thì biết Cha. Người nào nghe lời Mẹ (của) Cha là nghe lời Cha. Người nào tôn kính Mẹ (của) Cha là tôn kính Cha. Tất cả các con sẽ có Mẹ (của) Cha là Mẹ các con, là Bề Trên, là Thủ Lãnh của các con và tất cả những người kế tục các con. Mẹ (của) Cha sẽ giải đáp mọi điều các con hoài nghi, giải quyết mọi khó khăn cho các con. Những ai tìm kiếm Cha sẽ thấy Cha nơi Mẹ (của) Cha vì Cha sẽ ở trong Mẹ (của) Cha cho tới tận thế, và lúc này Cha đang ở trong Mẹ của Cha, mặc dầu các con không hiểu việc đó như thế nào.” Chúa Giêsu nói điều này, vì Chúa hiện diện trong Mẹ Maria qua Phép Thánh Thể. Mình và Máu Thánh Chúa mà Mẹ Maria rước trong Bữa Tiệc Ly vẫn còn nguyên vẹn trong Mẹ cho tới khi Thánh Lễ đầu tiên được hiến tế. Do đó Chúa Giêsu thi hành trọn vẹn điều Chúa đã hứa trong Phúc Âm (Mt 28:20). Chúa Giêsu nói thêm: “Cha đặt Phêrô làm thủ lãnh tối cao của Giáo Hội. Cha đặt Phêrô là Đại Diện Cha. Các con sẽ vâng lời Phêrô với tư cách là thầy cả thượng phẩm tối cao. Các con sẽ coi Gioan là con của Mẹ (của) Cha; vì từ trên Thánh Giá, Cha đã chọn và chỉ định Gioan vào chức vụ đó.”

 Rồi Chúa Giêsu nhìn Mẹ Maria cực yêu dấu đang ở bên Chúa, và Chúa chính thức truyền cho toàn thể cộng đoàn tôn kính Đức Hiền Mẫu cách xứng hợp với địa vị Mẹ Thiên Chúa; Chúa để lại lệnh này cho toàn thể Giáo Hội dưới hình thức lời giao hứa. Nhưng Mẹ Maria đã xin Con Một Yêu Dấu vui lòng đừng dành cho Mẹ vinh dự nhiều hơn tuyệt đối cần thiết để thực thi mọi điều Chúa đã trao phó. Mẹ Maria ước nguyện mọi việc thờ kính được thánh hiến của Giáo Hội chỉ hướng vào chính Chúa và làm cho việc truyền bá Phúc Âm góp toàn phần vào việc ca tụng thánh danh Chúa. Chúa Kitô nghe lời Mẹ cầu xin và dành riêng cho chính Chúa bổn phận truyền bá sự hiểu biết về Mẹ vào thời điểm thích hợp hơn.

 Suy gẫm những lời Thầy Chí Thánh nhắn nhủ đầy yêu thương, các mầu nhiệm Chúa đã tiết lộ và viễn ảnh việc Chúa rời khỏi họ làm cho toàn thể cộng đồng xúc động. Mọi người ao ước giữ Chúa lại mặc dầu biết rằng không thể. Từng người cảm thấy mối buồn dâng lên giữa những cảm tưởng vui vẻ và nuối tiếc lẫn lộn. Mọi người hỏi nhau: làm sao chúng ta sống mà không có Thầy? Ai có thể nói cho chúng ta nghe những lời hằng sống và an ủi như Thầy? Ai sẽ yêu thương nhân từ đón nhận chúng ta như Thầy? Ai sẽ là Cha và là Đấng Bảo Vệ chúng ta? Chúng ta sẽ là những đứa con mồ côi bơ vơ giữa chợ đời. Một vài người phá vỡ sự im lặng, nói: “Ôi Chúa và Cha vô cùng yêu dấu! Ôi niềm vui và sự sống linh hồn chúng con! Bây giờ chúng con biết Thầy là Chúa Cứu Thế của chúng con, Thầy đi và từ biệt chúng con! Xin Thầy đem chúng con đi theo! Lạy Chúa, xin đừng đuổi chúng con khỏi ánh mắt Chúa, Niềm Hy Vọng thánh của chúng con! Chúng con sẽ làm gì nếu không có Thầy hiện diện? Chúng con sẽ hướng về đâu nếu Thầy đi khỏi? Chúng con sẽ bước đi theo đường nào nếu không đi theo Thầy, Cha của chúng con, Chúa chúng con?” Để đáp lại các lời này và những lời cầu khẩn khác, Chúa Giêsu bảo mọi người đừng rời khỏi Jerusalem mà hãy kiên trì cầu nguyện cho tới khi Chúa gởi Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi, đến như đã được Thiên Chúa Cha hứa và Chúa đã cho các Tông Đồ biết trong Bữa Tiệc Ly.

 Đã đến giờ phút Con Một Yêu Dấu của Thiên Chúa Cha hằng hữu vinh quang ngự lên bên hữu Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu phải về trời, vì trước đó Chúa đã xuống tới những nơi thấp hèn nhất của trái đất (Eph 4:9), đã hoàn tất mọi điều được tiên báo về việc Chúa xuống trần gian, về Cuộc Đời và Khổ Hình cứu chuộc nhân loại. Do việc Chúa lên trời, Chúa đóng ấn mọi mầu nhiệm và đẩy nhanh việc hoàn thành lời Chúa hứa là sau khi về trời Chúa sẽ cùng với Thiên Chúa Cha gởi Chúa Thánh Thần đến với Giáo Hội (Gioan 16:7). Để mừng mầu nhiệm trọng đại này, Đức Kitô Chúa chúng ta đã chọn một trăm hai mươi người làm chứng nhân. Các nhân chứng này là Mẹ Maria, mười một Tông Đồ, bảy mươi hai môn đệ, bà Maria Magdalena, ông Lazarô, các bà Maria khác và một số tín hữu nam nữ.

 Chúa Giêsu, Mục Tử Thiên Chúa chúng ta, cùng với Mẹ Maria rời khỏi Nhà Tiệc Ly, hướng dẫn mọi người qua các đường phố Jerusalem. Các Tông Đồ và những người khác theo thứ tự đi về hướng Bethania, tới đỉnh Núi Cây Dầu, cách xa gần hai cây số. Đoàn tùy tùng gồm các thiên thần, các thánh từ lâm bô và luyện ngục đi theo, hát những ca khúc chúc tụng Chúa Khải Hoàn, nhưng chỉ một mình Mẹ Maria được thấy đoàn tùy tùng vô hình. Những người được đặc ân chứng kiến Chúa Lên Trời đã tới đỉnh Núi Cây Dầu. Tại đây tất cả chia thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất là các thiên thần. Nhóm thứ hai gồm các thánh từ lâm bô. Nhóm thứ ba là các Tông Đồ, các môn đệ và tín hữu: nhóm thứ ba được chia thành hai nhóm nhỏ và được Đức Kitô Chúa Cứu Thế chủ toạ. Mẹ Maria phủ phục nơi chân Chúa Con, thờ lạy Chúa là Thiên Chúa thực, là Chúa Cứu Thế. Mẹ xin Chúa chúc lành lần cuối. Tất cả mọi người hiện diện bắt chước Mẹ Maria cùng thờ lạy Chúa như vậy. Các Tông Đồ hỏi Chúa có phải bây giờ là lúc Chúa khôi phục vương quốc Do Thái không (Tđcv 1:6). Chúa trả lời việc này là bí mật riêng của Thiên Chúa Cha hằng hữu không thể tiết lộ cho các ông; nhưng điều cần thiết thích đáng lúc này là mọi người lãnh nhận Ơn Chúa Thánh Thần và rao giảng các mầu nhiệm Ơn Cứu Chuộc cho mọi người tại Jerusalem, Samaria và khắp thế giới.

 Chúa Giêsu, từ biệt các tín hữu thánh thiện tốt phước tụ họp tại đây. Gương Mặt Chúa rực toả sự bình an và uy nghi. Chúa chắp hai tay và, do quyền năng tự hữu, cất mình lên khỏi đất, để lại dấu hai bàn chân. Bằng một chuyển động hết sức nhẹ nhàng Chúa lên trời. Cử động của Đấng khởi thủy mọi chuyển động làm cho các tùy tùng cùng chuyển động; Chúa Giêsu đã cuốn theo các đạo binh thiên thần, các thánh Tổ và tất cả các thánh được vinh hiển khác, trong số này nhiều vị cả hồn xác. Do quyền năng tối thượng và tình yêu vô cùng của Thiên Chúa Tối Cao, Chúa Giêsu rước Mẹ Maria cùng về thiên đàng với Chúa để Mẹ hưởng vinh quang được dành cho Mẹ đích thực của Chúa. Quyền năng Thiên Chúa làm cho Mẹ Maria rất thánh hiện diện cách lạ lùng ở hai nơi một lượt: ở lại với con cái Giáo Hội để an ủi mọi người tại Nhà Tiệc Ly, đồng thời lên thiên đàng với Chúa Cứu Thế.

 Giữa mọi hân hoan vui mừng vượt hết các ý niệm của loài người, đoàn diễn hành thiên đàng tiến tới thiên cung. Chúa Kitô và Mẹ Maria tiến vào giữa hai hàng thần thánh. Tất cả mọi thần thánh theo phẩm trật đã tôn kính Chúa Kitô và Mẹ Maria cách riêng rẽ và chung cả Hai, trổi lên những lời ca chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa. Kế đó, Thiên Chúa Cha hằng hữu đặt Ngôi Lời Nhập Thể bên hữu Ngài, trong vinh quang uy nghi vô cùng. Thiên Chúa Cha đổ đầy tâm hồn mọi thần thánh lòng ngưỡng phục và kính úy mới. Với thị kiến trực diện rõ ràng, các thần thánh nhận biết vinh quang trọn lành vô cùng của Thiên Chúa bất khả phân ly và chặt chẽ kết hợp trong Ngôi Vị Thiên Chúa với nhân tính cực thánh của Chúa Kitô. Nhân tính của Ngôi Lời được tô điểm và tôn vinh nhờ tính siêu việt và vinh quang do sự kết hợp với Thiên Tính. Đây là điều mắt chưa bao giờ thấy, tai chưa hề nghe, chưa bao giờ đến trong tư tưởng của các thụ tạo (Is. 54:4).

 Trong dịp này, lòng khiêm nhượng và sự khôn ngoan của Mẹ Maria rất thánh đạt tới tột đỉnh. Tự hạ trong ý thức mình chỉ là một thụ tạo phàm trần, Mẹ Maria tới chân Thiên Chúa, phủ phục thờ lạy và dâng lên những lời ca ngợi vì vinh quang được thông cho Con cực thánh Mẹ, vì nhân tính trong Chúa Kitô được thiên tính hóa và được nâng lên tới mức độ vô cùng cao cả huy hoàng. Các thần thánh lại ngỡ ngàng lạ lùng vui sướng được chứng kiến lòng khiêm tốn và sự khôn ngoan của Nữ Vương. Các thần thánh đua nhau bắt chước gương thánh đức sống động của Mẹ Maria.

 Thiên Chúa Cha phán: “Ái Nữ của Cha, Con hãy lên cao hơn nữa!” Thiên Chúa Con của Mẹ cũng mời Mẹ: “Mẹ của Con, Mẹ hãy lên nhận vinh dự dành cho Mẹ vì đã theo và bắt chước Con!” Chúa Thánh Thần nói: “Hiền Thê và Người Yêu Dấu của Ta, hãy tới nhận lấy những yêu thương hằng hữu của Ta!” Lập tức các thần thánh được cho biết thánh ý Thiên Chúa Ba Ngôi là Mẹ Maria rất thánh đã cung cấp máu huyết của chính Mẹ cho Ngôi Lời Nhập Thể; Mẹ đã nuôi dưỡng, phụng sự, bắt chước, đã theo Chúa Ngôi Hai bằng tất cả sự trọn lành cực độ của một thụ tạo; Mẹ được ca tụng và an vị bên hữu Con Mẹ đến đời đời. Không một ai khác trong cả loài người được địa vị như thế. Theo thánh ý Thiên Chúa, Mẹ Maria rất thánh được nâng lên bên hữu Chúa Con. Đồng thời Thiên Chúa cho Mẹ Maria cùng với tất cả các thánh biết Mẹ được ban cho sở hữu hạnh phúc và vinh dự này không những đời đời, mà còn được để cho Mẹ lựa chọn ở lại thiên đàng ngay từ lúc này, không trở lại trần thế nữa.

 Để Mẹ Maria có thể tự ý chọn lựa quyết định, Thiên Chúa cho Mẹ thấy hoàn cảnh Giáo Hội nơi trần gian, hoàn cảnh côi cút thiếu thốn của các tín hữu mà Mẹ được tự do giúp đỡ. Đấng Quan Phòng dành cho Mẹ cơ hội vượt qua chính bản thân Mẹ trong việc ban ơn lành và giúp ích cho nhân loại bằng một hành động của tình thương nồng nàn tột độ. Mẹ Maria thấy rõ ràng mọi mầu nhiệm gồm trong đề nghị này. Vì thế, sấp mình nơi toà Thiên Chúa Ba Ngôi, Mẹ nói: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, nếu lúc này con nhận ngay phần thưởng do lòng nhân từ đoái thương Chúa ban cho thì con được hạnh phúc an nhàn thảnh thơi; nếu con trở lại trần gian tiếp tục chịu cực nhọc vì phước lộc con cái Adong và các tín hữu Giáo Hội Chúa, con làm vui lòng Chúa và giúp ích cho các con cái của con còn lưu đày ở trần gian. Con xin nhận việc lao khổ và bây giờ tạm hoãn sự an vui hưởng thánh nhan Chúa. Con biết rõ những gì con có và nhận được. Con sẵn sàng hy sinh để làm nảy nở tình yêu thương Chúa dành cho nhân loại. Lạy Chúa và Chủ mọi sự của con, xin Chúa nhận của lễ này, xin sức mạnh của Chúa quản trị con và mọi điều được ký thác cho con. Xin cho đức tin vào Chúa được lan rộng. Xin cho thánh danh Chúa được ca tụng. Xin Chúa mở rộng Giáo Hội mà Chúa đã chuộc bằng Máu của Con Một Yêu Dấu Chúa và của con. Con lại dâng chính thân con, để với hết sức con, con chịu vất vả vì vinh danh Chúa và việc chinh phục các linh hồn.”

 Để chấm dứt chương này và phần thứ nhì này, chúng ta trở lại với cộng đoàn các tín hữu trên Núi Cây Dầu. Mặc dầu giữa vinh quang hạnh phúc, Mẹ Maria rất thánh không quên con cái Mẹ. Khi mọi người đứng đó ngẩn ngơ đắm đuối nhìn lên trời, xoáy nhìn vào nơi Chúa Cứu Thế và Thầy của họ đã khuất dạng, Mẹ Maria nhìn xuống đàn con, gởi đến cho họ sự giúp đỡ. Xúc động vì sự buồn rầu của họ, Mẹ Maria yêu thương xin Chúa Giêsu an ủi đàn con bé nhỏ, mà Chúa để lại như bầy con côi cút nơi trần gian. Chúa Cứu Thế gởi hai thiên thần mặc áo trắng sáng chói hiện ra nói với mọi người hiện diện: “Hỡi những người Galilea, tại sao quí vị đứng nhìn lên trời ngỡ ngàng như thế? Đức Giêsu rời khỏi các ông các bà để về trời, sẽ trở lại vinh quang uy nghi như các ông các bà đã thấy Ngài ngự về thiên đàng” (Tđcv 1:11). Hai thiên thần nói thêm nhiều lời khác nữa an ủi các Tông Đồ, các môn đệ và mọi người để họ vững tâm trông chờ Đấng An Ủi là Chúa Thánh Thần đến như Thầy chí thánh đã hứa.

 LỜI MẸ MARIA

 

 Con của Mẹ, con sẽ kết thúc cách thích hợp phần thứ nhì nói về cuộc đời Mẹ bằng việc nhớ bài học liên quan đến sự ngọt ngào khôn lường của tình yêu và lòng đại lượng vô cùng Thiên Chúa đối với các linh hồn, nếu họ không cản trở tình yêu và lòng đại lượng vô cùng của Chúa tuôn tràn. Thánh ý trọn hảo của Chúa muốn cho nhân loại được hạnh phúc chứ không làm cho đau khổ, an ủi vui sướng chứ không làm buồn phiền, tưởng thưởng hơn là phạt. Nhưng loài người không biết được sự khôn ngoan của Thiên Chúa, họ ước mong được Chúa ban cho điều an ủi, hoan hỉ và phần thưởng có tính cách thế tục nguy hiểm, mà loài người ưa thích những thứ đó hơn những hồng ân đích thực vững bền hơn.

 Thiên Chúa, Đấng Yêu Thương, sửa lỗi lầm này của nhân loại bằng những bài học được truyền dạy qua các thống khổ và hình phạt. Bản chất nhân loại chậm chạp, thô lỗ, vô giáo dục. Nếu không được giáo huấn và làm cho mềm nhẹ, bản chất loài người sẽ không đem lại kết quả. Vì các khuynh hướng xấu, nhân loại sẽ không bao giờ thích hợp với việc hiệp thông cực kỳ yêu thương ngọt ngào của Thiên Chúa Tối Cao. Vì thế nhân loại phải được uốn nắn qua sự tấn công của các kẻ thù, tinh lọc qua thử thách thống khổ, để nhân loại có thể thích hợp, có khả năng lãnh nhận các ân sủng và đặc ân của Chúa, để họ học khinh chê của cải trần gian dối trá, mà trong đó sự chết được che giấu. Mẹ coi tất cả các điều Mẹ phải chịu chẳng đáng kể gì so với thấy phần thưởng Thiên Chúa Nhân Từ chuẩn bị cho Mẹ. Vì thế, trong sự quan phòng lạ lùng của Chúa, Ngài muốn Mẹ tự nguyện chọn việc trở lại với Giáo Hội chiến đấu. Mẹ biết việc này sẽ góp nhiều vào vinh quang vĩ đại hơn cho Mẹ, tôn vinh danh Chúa, đem lại sự giúp đỡ hết sức lớn lao cho Giáo Hội (1 Tim 1:17). Đối với Mẹ, việc đó là nhiệm vụ thánh. Mẹ gác lại hạnh phúc vĩnh cửu mà trở lại trần thế. Mẹ gặt hái được những kết quả mới do những vất vả và tình yêu Mẹ dâng lên Thiên Chúa Toàn Năng. Thiên Chúa đã nâng Mẹ lên từ bụi đất. Mẹ mắc nợ Thiên Chúa Nhân Từ về mọi thứ. Vì thế, con yêu dấu, con hãy học từ gương sáng của Mẹ, tự khuyến khích con nhiệt thành bắt chước Mẹ. Hiện nay, Giáo Hội đau khổ trầm trọng mà không được một người con nào an ủi. Mẹ ước ao con tích cực chịu vất vả, sẵn sàng chịu đau khổ trong cầu nguyện nài van từ đáy lòng con. Nếu cần, con hãy sẵn sàng hy sinh mạng sống. Con của Mẹ, Mẹ bảo đảm với con rằng lời con nài xin sẽ rất đẹp lòng Con cực thánh Mẹ và vui lòng Mẹ nữa.

 Nguyện xin mọi sự được thể hiện vì vinh danh Thiên Chúa Tối Cao, Vua mọi thế hệ, Đấng Hằng Hữu và Vô Hình (1 Tim 1:17), và vì vinh danh Mẹ Chúa, Mẹ Maria rất thánh, đến đời đời!