PHẦN V

CHƯƠNG 1

 

* NHỮNG THỬ THÁCH NỘI TÂM ĐỨC MARIA PHẢI CHỊU; 
* CHÚA GIÊSU Ở LẠI TRONG ĐỀN THỜ

 

Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse đã trở về định cư tại Nazareth, biến ngôi nhà nghèo nàn khiêm tốn của Thánh Gia thành thiên đàng. Để mô tả các mầu nhiệm giữa Chúa Con và Đức Hiền Mẫu cực trinh khiết trước khi Chúa mười hai tuổi và về sau nữa, cho tới khi Chúa đi rao giảng công khai, phải cần đến nhiều bộ sách. Mặc dù được Mẹ Maria chỉ dạy, tác giả chỉ có thể sơ lược một vài sự việc nhỏ nhất trong bối cảnh bao la của đề tài và phải để lại phần lớn không đả động tới vì sự hèn kém dốt nát của mình.

Chỉ ít lâu sau khi từ Ai Cập trở về, Chúa Con quyết định để cho Đức Hiền Mẫu Maria, với tư cách là Trưởng Nữ của Luật Ân Sủng, phải chịu những đau buồn khổ sở cùng một cách Chúa đã để cho Người phải chịu khi còn ấu thơ. Chúa muốn Mẹ là hình ảnh tuyệt hảo các khuôn mẫu toàn hảo của Ngài, là chất liệu dễ uốn nắn nhất, chất liệu như sáp lỏng phải được đúc trong khuôn mẫu với ấn tín giáo lý của Chúa về sự thánh thiện, để CON và MẸ là HAI TẤM BIA đích thực của Lề Luật Mới cho thế giới (Xh 31:18). Vì mục đích này, Chúa cho Mẹ Maria biết rõ mọi mầu nhiệm Luật Phúc Âm và Giáo Lý. Đây là chủ đề những điều Chúa chỉ dạy Mẹ từ ngày Thánh Gia trở về Nazareth cho tới ngày Chúa đi rao giảng công khai. Ngôi Lời Nhập Thể và Mẹ Maria đã sống các nhiệm mầu này suốt hai mươi ba năm tại Nazareth. Vì tất cả các mầu nhiệm này chỉ liên quan đến một mình Đức Hiền Mẫu (các Thánh Sử đã không chính thức kể lại cuộc đời Mẹ Maria trong Phúc Âm), các Tác Giả Phúc Âm đã không nêu ra cuộc đời Mẹ, ngoại trừ những điểm không thể không nói tới liên quan đến Chúa Cứu Thế như khi Chúa mười hai tuổi, Mẹ lạc Chúa ba ngày ở Jerusalem. Trong suốt hai mươi ba năm này, một mình Mẹ Maria là môn đệ Chúa Kitô.

Để xây dựng trong trái tim Đức Trinh Mẫu lâu đài thánh thiện vĩ đại tới cực điểm trội vượt trên tất cả những gì không phải là Thiên Chúa, Chúa đã đặt các chân móng nền tảng tòa lâu đài đó cách thích hợp, thử thách sức mạnh tình yêu và tất cả các nhân đức khác của Mẹ Maria. Nhắm mục đích này, Chúa đã tự mình rút lui, làm cho Mẹ không thấy Chúa trước mặt. Tác giả không có ý nói Chúa Giêsu rời xa Mẹ Maria bằng thân xác; Chúa vẫn ở bên Mẹ, ở trong Mẹ bằng sự hiện diện và ân sủng, Chúa ẩn mình đi khỏi ánh mắt linh hồn Mẹ, ngưng mọi dấu hiệu về lòng yêu mến ngọt ngào nhất. Trong khi đó Mẹ Maria không biết lý do bên trong cách cư xử này, vì Chúa không giải thích. Chúa Con của Mẹ không nói một lời nào trước, đã tỏ ra rất kín đáo rút lui khỏi thế giới Mẹ. Nhiều lần Chúa rút lui ở một mình và chỉ nói với Mẹ Maria vài lời, mà ngay cả những lời này cũng nghiêm nghị uy nghi.

Sự thay đổi bất ngờ này là lò luyện kim trong đó vàng tinh ròng nhất là tình yêu của Mẹ Maria được luyện lọc thí nghiệm. Bỡ ngỡ vì những điều xảy ra, Mẹ Maria lập tức ẩn náu trong ý nghĩ khiêm tốn sẵn có, tự nghĩ Mẹ không xứng đáng nhìn thấy Chúa. Đức Trinh Mẫu cho rằng tất cả những điều đó là do Mẹ thiếu sót, vô ân đối với những hồng ân Mẹ nhận được từ Thiên Chúa Cha đại lượng cao cả vô cùng. Mẹ Maria đã không cảm thấy thiếu thốn quá nhiều ơn vỗ về an ủi hoan lạc của Thiên Chúa Cha cho bằng lo âu đã làm mất lòng Chúa Con và thiếu sót trong việc phụng sự Ngài. Sự buồn phiền lo âu này là mũi tên xuyên thấu trái tim Mẹ Maria. Một người được tràn đầy tình yêu chân thành cao quí như thế không thể cảm thấy ít hơn. Mọi hoan lạc của tình yêu đều do sự hài lòng và thoả mãn người yêu tặng cho nhau, vì thế Thiên Chúa Cha không thể nào nghỉ yên khi thấy Người Yêu không hài lòng. Những tiếng thở dài yêu thương của Đức Hiền Mẫu đã làm hài lòng Con cực thánh. Thiên Chúa Cha canh tân lòng yêu thương đối với Mẹ Maria, lòng yêu mến dịu dàng của Người Yêu duy nhất được tuyển chọn đã làm cho trái tim Chúa bị thương (Cv 4:9). Nhưng bất cứ khi nào Đức Hiền Mẫu dịu hiền tìm nói chuyện với Chúa Con, Ngài lại tiếp tục tỏ vẻ bề ngoài dè dặt. Y hệt như ngọn lửa của lò luyện kim, ngọn lửa yêu thương nơi trái tim Hiền Mẫu dịu hiền nhất được làm cho bừng cháy mãnh liệt hơn do nghịch cảnh này.

Mẹ Maria với trái tim đơn thuần đã thực hành những việc anh hùng nhân đức. Đức Trinh Mẫu hạ mình xuống thấp hơn bụi đất, tôn kính Con của Mẹ sâu thẳm hơn. Mẹ Maria chúc tụng tạ ân về mọi kỳ công và ân sủng đáng ca ngợi của Thiên Chúa Cha, đúng với các ước muốn và sự hài lòng của Ngài. Mẹ Maria tìm biết để chu toàn thánh ý Thiên Chúa Cha trong mọi sự, Mẹ không ngừng canh tân các hành động đức tin, cậy, yêu mến nồng cháy. Trong mọi hành động cũng như trong mọi hoàn cảnh, cây cam tùng ngát hương này toả ra hương thơm ngọt ngào êm dịu đối với Chúa, Vua trên hết mọi vua, Đấng ngự trong trái tim Mẹ như nơi long sàng đầy hoa thơm (Cv 1:11). Mẹ Maria kiên trì đẫm lệ cầu nguyện, với tiếng thở dài không ngừng trông chờ từ thẳm sâu linh hồn, Mẹ dâng lên những lời cầu nguyện và kể lại những khổ tâm của Mẹ trước Thiên Nhan (Tv 141:3).

Ba mươi ngày trôi qua trong nghịch cảnh này mà mỗi ngày đó đối với Mẹ Maria dài bằng nhiều thế kỷ, hầu như không thể nào sống được dẫu chỉ một giây phút mà không có tình yêu, không có Đấng Yêu Thương của linh hồn. Sau những chần chờ như thế (theo cách chúng ta nói), Trái Tim Chúa Giêsu không còn chịu đựng được nữa, hoặc chống lại thêm được nữa sức mãnh liệt của tình yêu đối với Đức Hiền Mẫu rất hiền dịu. Một hôm Mẹ Maria đến quì nơi chân Chúa Con, với những giọt lệ chan hoà và tiếng nức nở, Mẹ nói: “Hỡi Tình Yêu dịu ngọt nhất và Thiên Chúa tối cao của mẹ, mẹ là bụi tro đê hèn, đáng kể gì trước quyền năng bao la của Con? Sự nghèo nàn của một thụ tạo là gì so với sự giàu sang vô cùng của Chúa? Trong mọi thứ, Chúa trội vượt quá sự thấp hèn của nhân loại, biển thương xót vô biên của Chúa chôn lấp mọi bất toàn và khuyết điểm của loài người. Nếu mẹ không nhiệt thành trong việc phụng sự Con, như mẹ phải thú nhận, Con hãy phạt sự chểnh mảng của mẹ và tha thứ cho mẹ điều đó. Nhưng hỡi Con và Chúa của mẹ, hãy cho mẹ nhìn thấy nét mặt vui vẻ của Con mà đó là ơn cứu độ của mẹ, là ánh sáng được ao ước cho cuộc sống của mẹ. Tại đây, nơi chân Con, mẹ để sự nghèo nàn trộn với bụi đất, mẹ sẽ không đứng lên cho tới khi mẹ lại được nhìn vào tấm gương soi sáng linh hồn mẹ.”

Mẹ Maria khiêm tốn trút ra trước mặt Con cực thánh những lời giải bày hết sức khôn ngoan nồng nàn khác. Chúa mong mỏi phục hồi cho Mẹ những hoan hỉ vĩ đại hơn Mẹ mong mỏi, Chúa Giêsu dịu dàng nói: “Thưa MẸ của Con, MẸ hãy đứng lên.” Những lời này, được chính Chúa Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa Cha hằng hữu nói ra, có hiệu lực vĩ đại đến độ Đức Hiền Mẫu thiên đàng lập tức được biến đổi và ngất trí hết sức lạ lùng, trong đó Mẹ Maria được gián tiếp thị kiến Thiên Chúa. Trong thị kiến này, Thiên Chúa đón tiếp Mẹ bằng lời chào ngọt ngào nhất với sự ôm ấp của Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, đổi những giọt lệ của Đức Trinh Mẫu thành hân hoan, đau khổ thành hoan lạc, cay đắng trở nên ngọt ngào vô cùng. Chúa cho Đức Hiền Mẫu biết các bí mật vĩ đại của Luật Phúc Âm Mới, muốn viết trọn vẹn Luật đó vào trái tim cực tinh tuyền Mẹ. Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh đã chỉ định, an bài Đức Maria là Trưởng Nữ và là Môn Đệ đầu tiên của Ngôi Lời Nhập Thể, đặt Mẹ là khuôn mẫu cho tất cả các thánh Tông Đồ, các thánh Tử Đạo, các thánh Tiến Sĩ, toàn thể các thánh và những người công chính khác của Giáo Hội mới và Luật Ân Sủng mà Ngôi Lời Nhập Thể sẽ thiết lập cho Ơn Cứu Chuộc nhân loại.

Chúng ta trở lại với cuộc sống hàng ngày của Thánh Gia. Theo ý Mẹ Maria, thánh dưỡng phụ Giuse đã làm cho Chúa Con một chiếc giường mà trên đó Mẹ phủ tấm mền đơn. Từ khi thôi nằm nôi, lúc còn ở Ai Cập, Chúa con đã không chấp nhận một chiếc giường nào có hơn một tấm phủ. Chúa không nằm thẳng ra trên giường này và cũng không dùng đến chiếc giường này thường xuyên, thỉnh thoảng Ngài chỉ nghiêng mình trên đó, dựa đầu trên chiếc gối mà Mẹ Maria làm bằng len đơn sơ. Khi Mẹ Maria nói đến việc chuẩn bị cho Chúa chiếc giường tốt hơn, Con cực thánh Mẹ đáp rằng chiếc giường duy nhất Chúa sẽ nằm duỗi thẳng tay chân là giường Thánh Giá, để bằng gương sáng Chúa dạy loài người (1 Phêrô 2:21) rằng không một ai có thể vào nơi an nghỉ đời đời với vật chất được yêu mến ở Babylon, hãm mình chịu đau khổ là sự giúp ích đích thực cho chúng ta trong cuộc đời trần thế này.

Chỉ một vài ngày sau khi Thánh Gia định cư tại Nazareth, thời kỳ hàng năm người Do Thái trình diện trước Thiên Chúa tại đền thờ Jerusalem đã tới. Người Do Thái viếng đền thờ Jerusalem vào Lễ Nhà Tạm (Tl 6:13), Lễ Ngũ Tuần cũng gọi là Lễ Chúa Thánh Thần, Lễ Bánh Không Men tức là Lễ Vượt Qua. Luật này buộc người Do Thái thi hành hàng năm, như được nói trong Sách Xuất Hành và Thứ Luật. Luật này chỉ buộc nam giới (Xh 23:17); phụ nữ có thể đi hoặc không, tùy theo lòng mộ mến. Mẹ Maria và thánh Giuse thảo luận việc thi hành luật này. Thánh Giuse hết sức ước ao có Mẹ Maria và Con cực thánh của Mẹ cùng đi; thánh dưỡng phụ ước ao lại được dâng Chúa Con lên Thiên Chúa Cha toàn năng trong đền thờ. Đức Hiền Mẫu cực trinh khiết bị lôi cuốn bởi lòng sốt sắng thờ phượng Thiên Chúa trong đền thờ. Nhưng Mẹ Maria không tự cho phép mình quyết định nếu không tham khảo ý kiến và chỉ dẫn của Ngôi Lời nhập thể, Thầy dạy Mẹ. Mẹ xin Chúa chỉ dạy trong việc này. Sau cùng Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse thỏa thuận: hai lần thánh Giuse đi một mình; toàn Thánh Gia lên Đền Thờ vào dịp Lễ Vượt Qua.

Khi Chúa Con mười hai tuổi và thời điểm để cho sự huy hoàng từ ánh sáng Thiên Tính không thể tới gần được của Chúa hiển lộ đã tới, Thánh Gia lên đền thờ mừng lễ Vượt Qua (Lc. 2:42). Theo luật Chúa: Lễ Vượt Qua kéo dài bảy ngày; những ngày long trọng nhất là ngày đầu, ngày cuối. Sau bảy ngày lễ trong tinh thần thờ phượng tận hiến, Thánh Gia lên đường trở lại Nazareth. Khi Mẹ Maria và thánh Giuse rời khỏi Jerusalem giong ruổi đường về, Chúa Con rút lui khỏi Đức Hiền Mẫu và thánh dưỡng phụ mà các ngài không biết. Để thực hiện mục đích này, Chúa Giêsu đã tự tách rời khỏi đoàn các nam nhân, cũng rời khỏi đoàn các phụ nữ. Từ đền thờ trở về, người ta đi thành đoàn nam nữ riêng biệt là thông lệ giữa những người hành hương và cũng để việc chiêm niệm được sâu sắc hơn. Trẻ nhỏ không phân biệt nam nữ đi theo cha hoặc mẹ vì việc các trẻ nhỏ đi theo không thành vấn đề. Thánh Giuse dễ dàng nghĩ rằng Chúa Con đi với Đức Hiền Mẫu như Chúa thường ở bên Mẹ. Ý nghĩ Mẹ Maria không có Chúa Con đi cùng không thể nào đến trong trí thánh Giuse. Mẹ Maria không có nhiều lý do để cho rằng Con cực thánh của Mẹ đi với thánh Giuse, nhưng chính Chúa đã đổi chiều ý nghĩ của Mẹ bằng những chiêm niệm cao siêu, nên Mẹ không chú ý tới sự kiện không có Chúa Con ở bên lúc khởi đầu ra về. Về sau khi Mẹ Maria biết Con cực yêu dấu dịu hiền không đi với Mẹ, Mẹ nghĩ Chúa Con đi chung với thánh dưỡng phụ để an ủi ngài.

Vì thế, như thánh Luca kể lại, Mẹ Maria và thánh Giuse an tâm giong ruổi hành trình suốt ngày hôm đó. Các đoàn hành hương tiếp tục đi và mỗi lúc mỗi thưa bớt; người ta tìm họp lại với vợ con, gia đình. Mẹ Maria và thánh Giuse sau cùng gặp nhau tại điểm hẹn chiều tối ngày thứ nhất, nhưng không thấy Chúa Con. Mẹ Maria và thánh dưỡng phụ Giuse sửng sốt, bị chi phối bởi lòng khiêm nhượng sâu thẳm, tự trách mình sơ sót trong việc săn sóc Con cực thánh. Cả hai vị đều không chút nghi ngờ về cách thức huyền diệu mà Chúa Con đã có thể tránh khỏi sự trông coi cẩn thận của cha mẹ. Một lúc sau bình tĩnh lại, Mẹ Maria và thánh dưỡng phụ trao đổi ý kiến về việc phải làm (Lc. 2:45). Đức Hiền Mẫu nói với thánh Giuse: “Thưa phu quân và chủ nhân của thiếp, trái tim thiếp không thể nào yên, trừ phi chúng ta lập tức trở lại Jerusalem tìm Con cực thánh của thiếp.” Các ngài tìm kiếm khắp nơi bà con bạn hữu, nhưng không ai cho được tin tức gì hoặc điều gì an ủi nỗi đau buồn lớn lao này.

Mẹ Maria lúc nào cũng cầu nguyện trong nước mắt đầm đìa, ròng rã ba ngày không ăn không ngủ. Mặc dầu các thiên thần tháp tùng Mẹ và chứng kiến sự đau đớn buồn rầu của Mẹ, các ngài vẫn không cho Mẹ biết một chút mấu chốt nào để tìm lại Chúa Con bị lạc mất. Đến ngày thứ ba, Mẹ Maria quyết định đi tìm Chúa trong sa mạc, nơi thánh Gioan ở, vì Mẹ không thấy dấu chỉ nào việc vua Archelaus đã bắt giam Chúa Con, Mẹ bắt đầu tin chắc chắn hơn rằng Con cực thánh Mẹ ở với thánh Gioan. Khi Mẹ Maria sắp sửa đi vào sa mạc, các thiên thần xin Mẹ đừng lên đường, vì Ngôi Lời Thiên Chúa không ở đó với thánh Gioan. Mẹ Maria cũng muốn đi Bethlehem, hy vọng tìm được Chúa Con trong hang đá Giáng Sinh, nhưng các thiên thần cũng cản việc này, nói cho Mẹ biết Chúa Con không ở xa đây. Mặc dầu Mẹ Maria nghe những lời này và tin rằng các thiên thần biết Chúa ở đâu, vì thận trọng kín đáo trong đức khiêm tốn khôn ngoan, Mẹ đã không hỏi các thiên thần xem có thể tìm thấy Chúa Con ở đâu. Mẹ hiểu do lệnh Chúa mà các ngài giữ lại tin tức này. Mẹ Maria đã đối với các bí tích của Đấng Tối Cao và các thiên sứ của Chúa cách tôn kính đại lượng (2 Malaki 2:9). Đây là một trong những dịp Mẹ Maria cho thấy trái tim nữ vương cao cả của Mẹ.

Hết mọi đau khổ tất cả các thánh tử đạo đã chịu không thể nào so sánh được với sự đau lòng Mẹ Maria phải chịu trong cuộc thử thách này. Đức kiên nhẫn, ký thác và chịu đựng của Mẹ trội vượt trên hết tất cả các thánh đức đó của toàn thể các thánh tử đạo. Đối với Mẹ việc lạc mất Chúa Giêsu quá sức vĩ đại vượt xa sự mất đi bất cứ thứ gì được tạo thành, vì tình yêu và lòng kính trọng của Mẹ đối với Chúa vượt trên sức tưởng tượng nơi mọi thụ tạo. Mẹ Maria lo lắng khôn lường vì không biết lý do việc lạc mất Chúa. Hơn nữa trong suốt ba ngày này Chúa để cho Mẹ chỉ được hưởng những ân sủng tự nhiên. Ngoại trừ việc các thiên thần hộ vệ và nói chuyện với Mẹ, Chúa ngưng hết mọi an ủi và ân sủng khác vốn được liên tục ban cho linh hồn rất thánh Mẹ. Với tất cả những thứ này chúng ta có thể ước đoán trái tim đầy yêu thương của Đức Hiền Mẫu chìm đắm trong đau đớn chừng nào. Nhưng Mẹ Maria đã không bối rối vì nỗi đau đớn buồn phiền chưa từng nghe nói như thế! Mẹ không hề mất sự bình an trong lòng và bề ngoài, cũng không hề có ý nghĩ tức giận hoặc phẫn uất, cũng không tỏ ra một cử chỉ bất xứng nào, như thường xảy ra nơi con cái Adong! Vị Nữ Giáo Sư mọi nhân đức đã duy trì toàn thể khả năng của mình trong trật tự và điều hòa. Mặc dầu nỗi đau buồn của Mẹ Maria vĩ đại khôn sánh và đâm lủng Trái Tim Mẹ, Mẹ đã không thiếu sót lòng tôn kính và chúc tụng Chúa, Mẹ vẫn liên tục cầu nguyện cho nhân loại, và cho việc tìm thấy Con cực thánh.

Ròng rã ba ngày, Mẹ Maria đi tìm Chúa Con. Mẹ đi lang thang khắp các đường phố Jerusalem, thăm hỏi mọi người, mô tả cho các con gái Jerusalem dáng vóc Con cực yêu dấu, tìm kiếm khắp hang cùng ngõ hẻm, mọi công viên, do đó hoàn thành điều được ghi trong Diệu ca của vua Salomon. Một vài phụ nữ hỏi Mẹ Maria những đặc điểm về Con Một bị lạc mất, Mẹ đáp lại bằng lời của Diệu ca: “Người Yêu Dấu của tôi trắng trẻo tươi thắm, được chọn giữa muôn ngàn” (Dc 5:10).  Một trong các phụ nữ nghe Mẹ Maria mô tả đã nói: “Đúng Thiếu Niên này, với những đặc điểm như thế, hôm qua đã đến cửa nhà tôi xin bố thí, tôi đã cho Cậu chút ít; dáng khôi ngô tuấn tú của Cậu đã cướp mất trái tim tôi. Đưa của bố thí cho Cậu, tôi cảm thấy chan hòa yêu thương khi nhìn thấy một Thiếu Nhi xinh đẹp tuyệt vời mà trong cảnh thiếu thốn.” Đây là những tin tức đầu tiên Đức Hiền Mẫu đau khổ nhận được về Con Một yêu dấu tại Jerusalem. Nỗi đau buồn được giảm bớt đôi chút, Mẹ Maria tiếp tục hỏi han và gặp những người khác cũng nói về Chúa như thế. Được tin tức này hướng dẫn, Mẹ đi thẳng tới nhà thương thành phố, nghĩ rằng giữa những người đau khổ Mẹ có thể tìm được Đấng là Phu Quân và Thủ Lãnh của người nghèo khó ở giữa anh em bạn hữu đích thực của Ngài (Mt. 5:40). Hỏi thăm tại nhà thương, Mẹ Maria được cho biết một thiếu niên có dáng vóc như được mô tả đã tới thăm những người ở đó, để lại một số của bố thí và an ủi người đau khổ.

Lời tường thuật về các việc làm của Con cực yêu dấu tạo ra những mối cảm thương yêu mến dịu dàng nhất, ngọt ngào nhất nơi trái tim Mẹ. Mẹ gởi các mối cảm thương đó như sứ giả đến với Chúa Con. Khi đó Mẹ nghĩ rằng Chúa không ở với những người nghèo, chắc chắn Chúa ở trong đền thờ, ở trong nhà Thiên Chúa và nhà cầu nguyện. Các thiên thần khích lệ Mẹ Maria: “Thưa Nữ Vương và Bà Chúa của chúng thần, thời điểm an ủi Người đã đến, chẳng bao lâu nữa Người sẽ gặp được Ánh Sáng cho cặp mắt Người, xin hãy đi mau tới đền thờ.” Lúc này thánh Giuse gặp lại hiền thê, vì để tăng thêm cơ may tìm được Chúa Con, Mẹ Maria và thánh Giuse chia nhau mỗi người đi một hướng. Thánh Giuse dường như được một thiên thần bảo đi tới đền thờ. Ròng rã ba ngày này thánh Giuse đã đau đớn khôn tả, vội vàng rảo bước khắp nơi, khi đi một mình, khi đi chung với Mẹ Maria. Suốt ba ngày này thánh dưỡng phụ đã kiệt lực, nếu Thiên Chúa không tăng thêm sức mạnh cho ngài, nếu Mẹ Maria không yên ủi và nài nỉ ngài dùng chút thực phẩm và nghỉ ngơi. Tình yêu chân thành và tuyệt đối của thánh Giuse đối với Chúa Con làm cho ngài hết sức khắc khoải lo lắng tìm kiếm Chúa, ngài không dành một chút thì giờ hoặc chú ý tới ăn uống để nâng đỡ thân xác.

Từ ngay sát bên cổng thành, Chúa Con vội vàng đi qua các đường phố trở lại Đền Thờ. Trong quyền năng khôn ngoan Thiên Tính, Chúa thấy trước mọi việc xảy ra. Chúa dâng mọi sự lên Thiên Chúa Cha hằng hữu vì lợi ích các linh hồn. Trong ba ngày này Chúa Con đã đi xin của bố thí để từ thời điểm đó về sau cao quí hoá việc đi ăn xin khiêm nhượng là con đầu lòng của Đức Khó Nghèo thánh thiện. Chúa Con đã viếng thăm các trại tế bần, những người nghèo khó, an ủi và bố thí cho họ những thứ đã xin được. Chúa kín đáo hồi phục sức khỏe thể xác cho một số người, khôi phục sức khỏe tinh thần cho nhiều người, soi sáng trong lòng và dẫn họ về đường cứu độ. Đối với một số người hảo tâm đã cho Chúa của bố thí, Chúa ban cho họ dồi dào ân sủng và ơn soi sáng. Bởi vậy từ thời điểm đó trở đi chu toàn lời Chúa hứa cho Giáo Hội: kẻ nào tặng vật gì cho người công chính và cho các tiên tri nhân danh một tiên tri, kẻ đó sẽ nhận được phần thưởng dành cho người công chính (Mt 10:41).

Sau khi chính mình đã làm các việc này và những việc khác nữa của Thiên Chúa Cha, Chúa Con trở lại đền thờ. Theo Thánh Sử, hôm đó là ngày các luật gia, các học giả uyên bác, các thầy dạy Luật trong đền thờ, gặp nhau để thảo luận vài điểm không rõ trong Sách Thánh. Trong dịp này “việc Chúa Cứu Thế đến” được đem ra bàn luận, vì căn cứ vào lời tường thuật về các biến cố kỳ lạ được loan truyền từ khi thánh Gioan Tẩy Giả chào đời, các Vua ở Phương Đông đến viếng, tin đồn về Chúa Cứu Thế đến và hiện diện ở trần gian rồi, mặc dầu chưa nhận ra, đã được dân Do Thái nghe biết. Các vị này ngồi tại những chỗ cao thường dành cho các thầy tiến sĩ và những người được coi là uyên bác. Chúa Con tới nơi hội họp của những người xuất chúng này. Chúa, Đấng là Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa (Kh 19:16), Đấng Khôn Ngoan vô cùng (1 Cor. 1:24), Đấng sửa dạy những người khôn ngoan (Kn 7: 15), đứng truớc các thầy tiến sĩ trần gian như một đệ tử khiêm tốn, cho họ hiểu rằng Chúa đến để nghe thảo luận và chính Chúa nghe câu hỏi được đề cập đến, chẳng hạn: Chúa Cứu Thế đã đến chưa, hoặc, nếu chưa, thì khi nào Chúa Cứu Thế sẽ đến trần gian. Chúa Giêsu xuất hiện trước các thảo luận viên, cho mọi người thấy rõ ân sủng Thiên Chúa tuôn trào qua môi miệng Chúa (Tv 44:3). Chúa tiến đến giữa những người đó trong vẻ uy nghi và thánh sủng, như một người chắc chắn sẽ đưa ra một nghi vấn hoặc lời giải đáp. Do dung mạo xuất phàm, Chúa làm chỗi dậy nơi trái tim các nhà thông thái này lòng khao khát chăm chú nghe Chúa nói.

Những người thông luật và các học giả nghe Chúa nói đều sửng sốt. Bị thuyết phục bởi những lời Chúa dẫn giải, họ nhìn nhau ngỡ ngàng, nói với nhau: “Đây thực là phép lạ? thực là phi thường nơi một cậu bé! Cậu Bé này từ đâu tới, Cậu Bé này là Ai?” Nhưng mặc dầu kinh ngạc như thế, họ vẫn không nhận ra hoặc nghi ngờ Chúa là Ai, Đấng đã dạy và soi sáng cho họ về chân lý hết sức quan trọng. Trước khi Chúa Giêsu thảo luận xong, Đức Hiền Mẫu Maria và thánh dưỡng phụ Giuse tới nơi, vừa kịp nghe Chúa Con đưa ra lời thảo luận chót hết. Khi Chúa nói xong, tất cả các thầy dạy luật đều đứng lên ngẩn ngơ lạ lùng. Mẹ Maria, vui mừng tới gần Con cực yêu quí và trước mắt cả hội trường, đã nói với Chúa những lời thánh Luca ghi lại: “Này Con, sao Con làm cho cha Con và mẹ như thế này? Cha Con và mẹ đã hết sức lo lắng tìm Con” (Lc. 2:48). Lời than phiền đầy yêu thương này được Mẹ Maria thốt ra với lòng tôn kính yêu mến, thờ lạy Chúa là Thiên Chúa, và tỏ lộ sự đau buồn của Mẹ. Chúa Giêsu đáp: “Cha Mẹ tìm Con làm chi? Cha Mẹ không biết Con phải lo việc của Cha Con sao” (Lc 3:49a)? Thánh Sử nói Mẹ Maria và thánh Giuse không hiểu ý nghĩa huyền nhiệm của những lời này (Lc. 2:50) là vì lúc đó mầu nhiệm này bị che giấu đối với Mẹ Maria và thánh Giuse. Có hai lý do: một mặt, niềm vui mừng do việc lúc này gặt hái được những gì Mẹ Maria và thánh Giuse đã gieo trong nỗi phiền sầu cực độ lớn lao, và sự hiện diện của Kho Tàng châu báu hoàn toàn phủ ngập mọi quan năng linh hồn các ngài. Mặt khác, thời điểm hiểu thấu đáo các điều mới đề cập tới trong cuộc thảo luận này chưa đến với Mẹ Maria và thánh Giuse. Hơn nữa, đối với Mẹ Maria ngay lúc đó còn một trở ngại khác nữa là tấm màn mỏng che giấu tâm hồn Con cực thánh Mẹ mãi tới một thời gian sau mới được gỡ bỏ.

Các học giả ra về, bình luận về sự ngạc nhiên của họ đối với biến cố kỳ lạ này, họ được đặc ân nghe lời giáo huấn của Đấng Khôn Ngoan hằng hữu, mặc dầu họ không nhận ra được điều đó. Bằng tình yêu hiền mẫu, Mẹ Maria ôm Chúa Con và nói: “Con của mẹ, hãy cho phép trái tim khắc khoải của mẹ diễn tả nỗi lo âu đau buồn của nó; để trái tim mẹ không chết vì đau buồn bao lâu trái tim mẹ còn hữu dụng đối với Con. Xin Con đừng để mẹ xa lìa ánh mắt Con, hãy nhận mẹ là nô lệ của Con. Nếu vì sự chểnh mảng của mẹ làm cho mẹ không được nhìn thấy Con, xin hãy tha thứ cho mẹ và làm cho mẹ xứng đáng ở bên Con, xin đừng phạt mẹ vì sự vắng mặt của Con.” Chúa Con đón Mẹ Maria với những dấu hiệu hài lòng, chính Chúa đề nghị làm Thầy Dạy và là Bạn Đồng Hành của mẹ cho tới thời điểm được ấn định. Nhờ đó trái tim bồ câu đầy yêu thương của Mẹ Maria được khuây khoả, và Thánh Gia đi về Nazareth.

Thánh Gia về tới Nazareth và sống tại đây cuộc sống được Thánh Sử Luca sơ lược các mầu nhiệm chỉ trong vài tiếng: “Chúa Giêsu vâng phục cha mẹ Ngài, Đức Hiền Mẫu ghi nhớ tất cả mọi biến cố này trong lòng; Chúa Giêsu càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan và ân sủng Thiên Chúa và lòng quí mến của mọi người” (Lc. 2:51-52).

Về phần Mẹ Maria, Mẹ đáp lại sự vâng lời của Con cực thánh bằng những hành động anh hùng. Trong số những điểm tuyệt diệu khác là Mẹ ý thức được lòng khiêm nhượng và biết ơn chân thành nhất vì đã giành được sự khăng khít của Con cực thánh. Đặc ân mà Mẹ Maria cho mình không xứng đáng được đã gia tăng gấp bội nơi trái tim cực trinh khiết Mẹ lòng yêu mến và lo lắng phụng sự Con cực thánh. Mẹ Maria không ngừng bầy tỏ lòng biết ơn, hết sức mau mắn ân cần phụng sự Chúa Con, quì trước mặt Chúa, hạ mình xuống tới bụi đất. Hơn nữa, Mẹ Maria tận lực bắt chước cặn kẽ mọi hành động của Chúa khi được tỏ cho Mẹ và làm cho các việc đó nảy nở trong cuộc đời Mẹ.

LỜI MẸ MARIA

 

 Con của Mẹ, mọi việc Con cực thánh Mẹ làm, các việc của riêng Mẹ đều bao gồm muôn vàn lời chỉ dạy và giáo lý huyền nhiệm dành cho những ai suy gẫm các việc đó cách chuyên cần tôn kính. Chúa tránh mặt Mẹ để, vì lo lắng tìm kiếm Chúa trong nước mắt đau buồn, Mẹ tìm lại được Chúa trong vui mừng và dư đầy hoa trái cho linh hồn. Mẹ muốn con bắt chước Mẹ trong việc huyền nhiệm này, hết sức sốt sắng tìm kiếm Chúa, như thể bị tan biến vì suốt đời con lúc nào cũng tha thiết trông mong tới khi con giữ được Chúa, không bao giờ để mất Chúa nữa (Dc 5:4). Để có thể hiểu rõ hơn mầu nhiệm này, con hãy nhớ Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng làm cho loài người có khả năng đạt tới hạnh phúc đời đời, dắt họ trên đường tới hạnh phúc. Nhưng bao lâu người ta chưa đạt được hạnh phúc đời đời, Thiên Chúa cũng để cho họ sự hoài nghi 'có đạt tới hạnh phúc không', do đó ban cho người ta hy vọng hoan hỉ và lo lắng đạt được hạnh phúc cuối cùng. Sự lo lắng này gây ra trong tâm trí người ta lòng sợ hãi và khinh ghét tội lỗi suốt đời, mà chỉ với điều đó thôi người ta có thể giành được tối đại hạnh phúc, ngăn giữ người ta khỏi sa bẫy, khỏi bị dẫn đi lạc đường bởi những thứ vật chất hữu hình. Thiên Chúa trợ giúp cho lòng lo lắng này bằng cách ban thêm khả năng suy luận, đức tin và lòng cậy trông. Những thứ này khích lệ người ta yêu mến tìm kiếm và đạt được cùng đích của họ. Ngoài các nhân đức này và những nhân đức khác được ban cho khi chịu Phép Rửa Tội, Chúa gởi ơn thúc đẩy giúp đỡ để giữ cho linh hồn tỉnh thức khỏi lãng quên sự hiện diện tốt lành của Chúa, ngăn ngừa sự lãng quên Chúa và chính linh hồn mình. Nhờ đó linh hồn đi đúng đường cho tới khi tìm được mục đích cao cả, mọi khuynh hướng và ước vọng sẽ được hoàn toàn thoả mãn.

Vì thế con có thể hiểu sự ngu dại của loài người và ít người ngừng lại để suy nghĩ mầu nhiệm tạo dựng, an bài và mọi công trình của Đấng Toàn Năng hướng về hạnh phúc cao cả này. Sự lãng quên này sinh ra quá nhiều điều ác độc nơi nhân loại: họ chìm đắm trong ham mê hưởng thụ của cải trần gian và hoan lạc giả trá, chẳng khác gì họ đã tìm được trong những thứ đó cứu cánh tối hậu. Cao điểm của sự ngoan cố chống lại lệnh Đấng Tạo Hóa là loài người ham mê gắn bó các vật hữu hình như thể những thứ đó là cùng đích. Đáng lẽ người ta phải dùng các vật thụ tạo làm phương tiện để giành cho được, chứ không để mất, Thiên Chúa Tối Cao. Con yêu quí của Mẹ, vì thế con hãy nhớ sự điên khùng nguy hiểm này của loài người. Con hãy coi mọi hoan lạc trần thế này là điên khùng, những tiếng cười vui vẻ là đau buồn, vui thỏa cảm giác là tự lừa dối, là nguồn gốc sự khùng dại, các thứ này đầu độc trái tim, cản trở và tiêu diệt mọi sự khôn ngoan đích thực. Vì thế, cho tới khi con chiếm được Thiên Chúa trọn vẹn, con hãy sống trong lo lắng thánh thiện, thường xuyên sợ mất Thiên Chúa và cuộc sống đời đời.

 

CHƯƠNG 2

 CHÚA CỨU THẾ HƯỚNG DẪN ĐỨC HIỀN MẪU MARIA VỀ LUẬT ÂN SỦNG

 

Như được đề cập trong các chương trước, Mẹ Maria là môn đệ đầu tiên và đặc biệt ưu ái của Con cực thánh. Mẹ được chọn giữa mọi thụ tạo làm khuôn mẫu của Luật Phúc Âm, mà theo khuôn đó Tác Giả Luật Phúc Âm sẽ đúc nên tất cả các thánh nhân của Luật Mới này và xét xử mọi hoa trái Ơn Cứu Chuộc. Đối với Mẹ Maria, Ngôi Lời Nhập Thể tiến hành công việc như một họa sĩ điêu luyện tuyệt vời, người nghệ sĩ thấu triệt ở mức siêu đẳng mọi chi tiết nghệ thuật; người nghệ sĩ đã trút hết tài năng vào tác phẩm được chọn lọc, tìm đạt được cực độ tinh túy và danh vọng chỉ nơi một danh phẩm duy nhất để phô diễn toàn thể tài năng. Điều hiển nhiên là tất cả mọi sự thánh thiện và vinh quang các thánh đều do tình yêu và công nghiệp Chúa Kitô (Eph 2:3) nhưng so sánh với sự tuyệt vời của Mẹ Maria, những thánh thiện và vinh quang các thánh dường như không nghĩa gì, chẳng khác chi những nét chấm phá nguệch ngoạc; vì nơi tất cả các thánh đều có khuyết điểm (1 Gioan 1:8). Hình ảnh sống động này của Con Một vô cùng yêu dấu Thiên Chúa Cha tuyệt vời trọn hảo, không chút tì vết khuyết điểm. Những nét chấm phá tiên khởi của Chúa nơi Mẹ Maria cũng đều đẹp tuyệt vời vượt xa những trau chuốt cuối cùng được thực hiện nơi các thần thánh đệ nhất đẳng. 

Mẹ Maria là khuôn mẫu mọi toàn hảo thánh thiện và nhân đức nơi tất cả các thần thánh, tột mức mà tình thương yêu của Chúa Kitô có thể tác thành nơi các thụ tạo. Mẹ Maria được mọi ân sủng và vinh quang mà mọi người được, Mẹ Maria còn được những ân sủng và vinh quang mà không một thụ tạo nào khác có thể được; Con cực thánh ban cho Mẹ tất cả mọi sự Mẹ có thể nhận và Chúa có thể ban. Các thánh tôn vinh Đấng tạo thành vì sự thánh thiện cao cả nơi các ngài, mà sự cao cả của Đấng Tối Cao biểu hiện rõ ràng qua vẻ mỹ miều nơi những thụ thạo thấp hèn nhất. Vinh quang toàn thể các thánh chung lại là vinh quang Mẹ Maria. Mẹ vượt hơn tất cả các thánh về sự thánh thiện. Toàn thể các thánh hưởng hạnh phúc theo mức độ các ngài bắt chước sự thánh thiện của Mẹ. Mẹ Maria đạt tới tột đỉnh trong hàng ngũ người công chính, chính vì lý do này Mẹ cũng được coi là dụng cụ hoặc động lực mà nhờ đó các thánh đạt được địa vị các ngài. Chúng ta phải cân nhắc sự tuyệt vời của Mẹ Maria (mặc dầu chỉ từ ngoài xa) qua sự vất vả mà Chúa Kitô áp dụng vào việc khuôn đúc Mẹ. Chúng ta suy gẫm mức độ vất vả chừng nào Chúa đã trút ra trên Mẹ và chừng nào Chúa dành cho toàn thể Giáo Hội. Để thiết lập và phong phú hoá Giáo Hội, Chúa chỉ cần ba năm rao giảng, tuyển lọc Tông Đồ đoàn, giảng dạy mọi người, ghi khắc Luật Phúc Âm bằng cuộc sống công khai của Chúa; như thế quá đủ để chu toàn nhiệm vụ Thiên Chúa Cha ký thác, công chính hoá và thánh hóa mọi người thực tâm tin theo Chúa. Nhưng để in trên Đức Hiền Mẫu Maria hình ảnh sự thánh thiện của Chúa, Chúa đã không phải chỉ mất ba năm, nhưng mười lần ba năm, thực hiện việc này bằng tất cả quyền năng và tình yêu Thiên Tính, không giờ khắc nào ngưng tăng thêm ân sủng và sự thánh thiện cho Mẹ. Sau cùng, Chúa còn để cho Mẹ Maria trong tình trạng mà Chúa có thể tiếp tục tăng thêm sự tuyệt hảo cho Mẹ sau khi Chúa về với Thiên Chúa Cha hằng hữu. Lý luận của chúng ta bất xứng, ngôn từ chúng ta không thể nói được sự cao cả của Mẹ Maria; vì Mẹ cao cả như mặt trời (Dc 6:9); mắt người trần gian không thể chịu được sự huy hoàng rực rỡ sáng chói nơi Mẹ, cũng không một thụ tạo trần thế nào có thể hiểu được sự rực rỡ vinh hiển của Mẹ.

Như đã nói, Chúa Kitô Đấng cứu chuộc chúng ta khởi sự tỏ rõ các dự định về Đức Hiền Mẫu sau khi Thánh Gia từ Ai Cập trở về, từ đó trở đi Chúa không ngừng tiến hành công trình với tư cách là Thầy Dạy, là Đấng Soi Sáng mọi mầu nhiệm về Ngôi Lời Nhập Thể và Ơn Cứu Chuộc. Sau khi Thánh Gia từ Jerusalem trở về, Mẹ Maria được thị kiến Thiên Chúa, không phải thị kiến trực diện, nhưng đầy tràn ảnh hưởng mới của Thiên Chúa và các bí nhiệm của Đấng Tối Cao. Mẹ Maria được đặc biệt soi sáng về các quyết định liên quan tới Luật Ân Sủng, lúc này được Ngôi Lời Nhập Thể thiết lập, và liên quan tới quyền năng được dành cho Ngôi Lời Nhập Thể trong bản tính Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh. Đồng thời Mẹ Maria nhìn thấy cách thức Thiên Chúa Cha trao cho Thiên Chúa Con cuốn sách có bảy ấn niêm phong, mà thánh Gioan nói trong Khải Huyền (Kh 5:1), không một thụ tạo nào trên trời dưới đất có thể gỡ ấn niêm phong và mở sách đó, cho tới khi Con Chiên gỡ các ấn niêm phong sách đó bằng Khổ Hình và Cái Chết, bằng các giáo lý và công nghiệp. Vì trong hình ảnh này Thiên Chúa muốn gợi cho biết rằng trong sách này không có điều gì khác hơn là Luật Mới và Giáo Hội được thiết lập trên nền tảng Phúc Âm nơi trần thế. Do quyết định của Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh, Mẹ Maria sẽ là người đầu tiên đọc và hiểu sách này. Con Một vô cùng yêu dấu sẽ mở sách này cho Mẹ, làm sáng tỏ mọi điều cho Mẹ, trong khi đó Mẹ thực hành Luật này cách toàn hảo. Ngôi Lời mở và vạch lối cho nhân loại từ trong Tân Ước, sách này được ký thác nơi Mẹ Maria, Đức Hiền Mẫu đích thực của Chúa. Mẹ Maria nhìn thấy cách thức Con Một Thiên Chúa Cha hằng hữu và của Mẹ hoan hỉ chấp nhận quyết định này; và cách thức nhân tính thánh hiến của Chúa, thay cho Mẹ, vâng theo quyết định này với niềm vui khôn tả.

Mẹ Maria ra khỏi thị kiến và đến với Con cực thánh, quì phục nơi chân Chúa, Mẹ nói: “Chúa của mẹ, Ánh Sáng và Thầy dạy mẹ, hãy nhìn mẹ bất xứng được chuẩn bị cho việc chu toàn các ước nguyện của Con, hãy lại thu nhận mẹ làm môn đệ và nữ tì, dùng mẹ làm khí cụ cho sự khôn ngoan và quyền năng của Con. Hãy thi hành trong mẹ điều làm vui lòng Con và vui lòng Thiên Chúa Cha hằng hữu.” Con cực thánh đón nhận Mẹ với sự uy nghiêm quyền uy của Vị Thiên Chúa, là Thầy Dạy và chỉ dạy Mẹ các mầu nhiệm vô cùng cao cả. Bằng những lời có sức thuyết phục uy lực vô cùng, Chúa giải thích cho Mẹ Maria ý nghĩa cao siêu nhất các việc được Thiên Chúa Cha hằng hữu ký thác cho Chúa về Công Cuộc Cứu Chuộc nhân loại, việc thiết lập Giáo Hội và Luật Mới Phúc Âm. Chúa tuyên bố và tái xác định rằng trong việc thi hành các mầu nhiệm cao cả này Mẹ Maria sẽ phải là Người Đồng Hành và Phụ Tá của Chúa, nhận và hưởng các hoa trái đầu mùa ân sủng. Vì thế Đức Trinh Mẫu Maria sẽ phải theo Chúa trong mọi gian khổ cho tới khi Chúa chết trên Thánh Giá bằng trái tim cao cả đại lượng, được chuẩn bị kỹ càng trong sự kiên trì và kiên quyết vô địch. Chúa thêm những chỉ dẫn cao siêu để làm cho Mẹ sẵn sàng đón nhận toàn bộ Luật Phúc Âm, đón nhận sự hiểu biết và thực hành mọi giáo huấn của Luật Phúc Âm với trình độ trọn hảo. Trong dịp này, Mẹ Maria cũng được thấy rõ các mầu nhiệm thánh khác liên quan đến các việc Chúa Giêsu thi hành ở trần gian. Mẹ Maria đón nhận mọi lời và thánh ý Chúa với lòng khiêm tốn thẳm sâu, vâng phục, tôn kính, tạ ân và yêu mến nồng nàn.

 LỜI MẸ MARIA

 

Thiên Chúa Tối Cao, Đấng nhân từ đại lượng tuyệt đối, đã tạo dựng muôn loài và không từ chối sự săn sóc quan phòng đối với bất cứ ai. Chúa trung thành ban ơn soi sáng cho các linh hồn để họ có thể nhận biết Chúa và đời sống vĩnh cửu nếu họ không tự ý ngăn cản ánh sáng, không từ bỏ việc tìm kiếm nước trời. Đối với các linh hồn, theo phán xét mầu nhiệm của Chúa, được gọi vào Giáo Hội, Chúa còn tỏ ra đại lượng hơn nữa. Với ân sủng của Nhiệm Tích Rửa Tội, Chúa đổ đầy linh hồn họ không phải chỉ có những ơn căn bản mà các thụ tạo không thể tự giành được do nỗ lực riêng; cả những ơn được ban cách đặc biệt cho các linh hồn mặc dầu họ không có công nghiệp gì. Chúa ban các ơn này “cách nhưng không” để các linh hồn có thể được sẵn sàng hơn và sốt sắng tuân giữ Thánh Luật. Thêm vào ơn soi sáng chung cho đức tin, Chúa ban cho linh hồn các ơn siêu nhiên về hiểu biết, các ơn cần thiết cho việc thấu triệt các mầu nhiệm Phúc Âm và nhiệt tâm thực hành việc lành. Trong loại ân sủng này Chúa đã rộng lượng với một mình con hơn với nhiều thế hệ, do đó con phải đặc biệt yêu thương đền đáp lại và tự hạ tới bụi đất trước mặt Chúa.

Để con có thể được chỉ dạy cặn kẽ, với tư cách là Hiền Mẫu yêu thương, Mẹ muốn cảnh giác con về sự quỉ quyệt của Satan đối với việc hủy diệt các công trình của Chúa. Ngay từ giây phút đầu tiên bắt đầu có lý trí, từng người bị theo dõi không lúc nào ngưng bởi nhiều tên quỉ tàn bạo. Vì ngay khi các linh hồn ở hoàn cảnh có thể nâng tư tưởng lên tới sự hiểu biết Thiên Chúa, khởi sự thực hành các thánh đức được Phép Rửa Tội in vào linh hồn, thì lũ quỉ, với lòng tức tối và óc xảo quyệt không thể tưởng tượng, tìm cách nhổ rễ hạt giống Thiên Chúa đã gieo. Nếu chúng không thành công trong việc này, chúng cố gắng cản trở việc tăng trưởng hạt giống lời Chúa, ngăn cản hạt giống đó sinh hoa trái bằng việc lôi kéo người ta vào những thứ xấu xa tồi bại, vô ích tầm thường. Bằng cách đó người ta hướng tư tưởng rời xa đức tin và đức cậy trông, xa việc theo đuổi các thánh đức, dẫn người ta tới việc quên mất họ là Kitô Hữu, lái sự chú ý của họ xa khỏi việc nhận biết Thiên Chúa, xa các mầu nhiệm Ơn Cứu Chuộc và cuộc sống vĩnh cửu. Hơn nữa cũng kẻ thù đó làm thấm dần vào lòng cha mẹ sự chểnh mảng căn bản và lòng yêu thương trần tục đối với con cái. Chúng lôi kéo các nhà giáo dục tới tình trạng cẩu thả khiến đám trẻ không tìm được nơi nền giáo dục sức mạnh nâng đỡ để chống lại sự ác độc của ma quỉ và xã hội. Vì thế những người trẻ bị mất đi ánh sáng thánh đức cùng các khuynh hướng tốt lành; chúng trở nên sa đọa băng hoại và đi theo con đường dẫn tới diệt vong.

Nhưng Chúa nhân từ vô cùng không bỏ quên người ta trong sự nguy hiểm này, Chúa canh tân trong họ các ơn soi sáng thúc đẩy trợ giúp thánh thiện đặc biệt. Chúa ban cho họ các giáo huấn thánh của Giáo Hội qua các nhà giảng thuyết và thừa tác. Chúa ban ơn trợ giúp từ các Bí Tích và nhiều ơn thúc đẩy khác để giữ họ đi theo con đường sự sống. Sự kiện có ít người đi theo đường cứu độ là do các tật xấu, thói hư bị tiêm nhiễm và nuôi dưỡng lúc niên thiếu. Lời trong Sách Thứ Luật hết sức đúng: “Tuổi thanh xuân của ngươi thế nào thì ngày già của ngươi cũng thế” (Tl 33:25). Vì lý do đó ma quỉ tận lực gia tăng ảnh hưởng ác độc nơi các linh hồn trong những năm đầu đời, hy vọng có thể xúi bẩy người ta dễ phạm tội nặng nề hơn trong những năm về sau nếu chúng thành công nhiều hơn trong việc lôi cuốn họ phạm lỗi nhẹ lúc thiếu thời. Do các lỗi lầm nhẹ này ma quỉ lôi kéo người ta tới tình trạng phán đoán mù quáng. Dù với tội nhẹ, linh hồn mất dần khả năng kháng cự, dẫn tới chịu lụy phục ma quỉ, ngã gục dưới sự khống chế của kẻ thù tàn bạo. Ách thống khổ của lòng ác độc ngày càng xiết chặt trên linh hồn đó. Linh hồn khốn khổ đó bị giày xéo bởi chính tội lỗi của mình và bị thúc đẩy tiến tới, dưới sự khống chế của ma quỉ, từ bờ vực sâu này tới bờ vực thẳm kia, từ hố sâu này tới hố sâu khác (Tv 41:8). Bằng những phương cách này, Lucifer đã ném xuống hoả ngục hết sức nhiều linh hồn và tiếp tục việc đó hàng ngày, tăng thêm lòng kiêu ngạo của nó chống lại Đấng Toàn Năng. Bằng cách này, Lucifer cho thế giới thấy quyền lực tàn bạo của nó, gieo rắc khắp loài người sự quên lãng đối với sự chết, giờ phán xét, thiên đàng và hoả ngục, liệng quá nhiều dân tộc xuống các vực sâu tối tăm tội lỗi dâm đãng, như thấy trong các phái dị giáo và các môn phái giả trá của những người chống lại Thiên Chúa.

Vì thế, con của Mẹ, con hãy cảnh giác đề phòng điều nguy hiểm kinh khủng này, đừng bao giờ để cho rời xa trí óc con sự ghi nhớ Lề Luật, các lệnh truyền, các giới răn Chúa, các chân lý của Giáo Hội Công Giáo và các học thuyết Thánh Kinh. Con đừng để cho một ngày nào qua đi mà không dành nhiều thì giờ vào việc suy gẫm những điều này, khuyến khích các chị em nữ tu của con và tất cả những người nghe theo con cùng làm như thế. Vì kẻ thù con cố gắng không ngừng để che khuất sự hiểu biết của con bằng việc quên lãng Luật Chúa, tìm cách rút ý chí con khỏi việc thực hành thống hối. Con biết các việc làm của đức tin sống động, đức trông cậy vững vàng, đức yêu mến nhiệt thành, tất cả đều phát xuất từ trái tim thống hối và khiêm tốn (Tv 50:19).  

 

CHƯƠNG 3

CHÚA GIÊSU VÀ MẸ MARIA LIÊN TIẾP CẦU NGUYỆN CHO NHÂN LOẠI

 

Với khả năng nghị luận hạn hẹp, chúng ta cố gắng tìm cách làm sáng tỏ, tôn vinh các việc làm của Chúa Kitô và Đức Hiền Mẫu rất thánh, nhưng sự thực hiển nhiên đúng như lời Sách Thánh: các mầu nhiệm đó vượt quá khả năng ngôn từ chúc tụng của nhân loại. Chúng ta cũng không thể nào dò thấu các mầu nhiệm đó, và còn nhiều mầu nhiệm khác vĩ đại hơn những điều chúng ta từng tìm cách giải thích. Những lời chúng ta giải thích đều quá tầm thường; chúng ta không đáng được biết, cũng không thể nói đầy đủ về số ít mầu nhiệm chúng ta cố gắng tìm hiểu. Khả năng hiểu biết của các thiên thần sốt mến Seraphim thượng đẳng cũng không đủ để thấu triệt các huyền nhiệm xảy ra giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong những năm Chúa sống bên Mẹ. Vị Giáo Sư hằng sống chỉ dẫn cho Mẹ mọi điều trong Luật Ân Sủng và Luật mới này phải được hoàn thành như thế nào cho tới Tận Thế. Mẹ Maria được Con cực thánh chỉ dạy tường tận mọi việc, Chúa nói rõ thời gian và địa điểm từng biến cố, các quốc gia và tỉnh thành nơi các biến cố này xảy ra trong sự hiện hữu của Giáo Hội.

Tất cả các nhiệm tích này đã thường xuyên diễn ra nơi phòng cầu nguyện khiêm tốn của Mẹ Maria. Tại nơi thánh này, Đấng Thượng Tế của Luật Mới thường xuyên cầu nguyện và Chúa Kitô luôn kết thúc bằng những lời bầu cử nồng nàn cho nhân loại. Chúa cũng nói với Đức Trinh Mẫu Maria về mọi chi tiết Công Cuộc Cứu Chuộc, truyền thông cho Mẹ những đặc ân lớn lao và các kho tàng ân sủng, mà Chúa đến để tuôn đổ trên con cái sự sáng Tân Ước và Giáo Hội. Nhiều lần Chúa Cứu Thế xin Thiên Chúa Cha hằng hữu đừng để cho tội lỗi và sự vong ân bội bạc của loài người làm trở ngại ơn cứu độ họ. Chúa Kitô luôn thấy rõ tội lỗi nhân loại và sự trầm luân quá nhiều linh hồn vong ân bội bạc; ý nghĩ chết vì những người này làm cho Chúa nhiều lần toát máu. Các Thánh Sử không chủ trương kể lại mọi biến cố trong cuộc đời trần thế của Chúa Kitô, các ngài chỉ kể lại việc toát mồ hôi máu một lần trước Cuộc Khổ Hình Cứu Chuộc, việc này thực sự đã xảy ra nhiều lần trước sự hiện diện của Đức Hiền Mẫu Maria, mà tác giả được thấy một số lần.

Trong khi cầu nguyện, Thầy chí thánh của chúng ta đôi khi quì gối, đôi khi sấp mình trên đất theo hình thánh giá, hoặc có khi được nâng lên không trung trong hình thánh giá. Trước sự hiện diện của Đức Hiền Mẫu, Chúa thường cầu nguyện:

 

 ”Hỡi Thánh Giá yêu dấu! Khi nào các cánh của ngươi nhận lấy cánh tay Ta, khi nào Ta sẽ nằm nghỉ trên ngươi, khi nào các tay Ta, bị đóng vào ngươi, sẽ dang rộng đón chào mọi kẻ tội lỗi? (Mt 9:13). Ta từ trời xuống thế không vì mục đích nào khác hơn việc mời gọi họ bắt chước và kết hiệp với Ta. Hai cánh tay Ta ngay cả lúc này và mãi mãi muôn đời dang rộng để ôm lấy mọi người và làm cho họ được sung túc.”

“Hỡi những người nghèo khó, hãy tới các kho tàng ân sủng của Ta. Hỡi những kẻ bé nhỏ, hãy đến với những âu yếm và hoan lạc của Cha đích thực các ngươi. Hãy đến với Ta, hỡi những ai đau khổ và kiệt sức, Ta sẽ nâng đỡ và giải khát cho các ngươi (Mt 11:28). Hãy đến với Ta, những người ngay lành, vì các người là sở hữu, là gia tài của Ta. Tất cả mọi con cái Adong hãy đến, Ta mời gọi tất cả. Ta là đường, là chân lý và là sự sống (Gioan 14:6), Ta sẽ không từ chối điều gì các người ước muốn.”

 “Lạy Cha hằng hữu, chúng là sản phẩm từ tay Cha, xin đừng bỏ chúng; vì Con sẽ hiến thân Con làm hy lễ trên Thánh Giá để hồi phục cho chúng sự công chính và tự do. Nếu chúng sẵn sàng, Con sẽ đưa sự công chính và tự do trở lại lòng trí những người được Cha tuyển chọn và đưa họ về thiên quốc, nơi thánh danh Cha phải được tôn vinh.”

Đức Hiền Mẫu Maria hiện diện trong mọi lời cầu nguyện này; nơi linh hồn cực trinh khiết Mẹ, như trong khối pha lê tinh khiết nhất, ánh sáng của Con Một vô cùng yêu dấu Thiên Chúa Cha và của Mẹ phản chiếu. Những lời cầu nguyện trong lòng và ngoài miệng Chúa vang dội lên trong Mẹ Maria, làm cho Mẹ bắt chước những lời Chúa cầu nguyện trong cùng một thể thức. Khi Mẹ Maria thấy Chúa toát mồ hôi máu lần đầu tiên, trái tim hiền mẫu của Mẹ đau đớn và hết sức ngạc nhiên trước những kết quả xảy ra nơi Chúa Kitô vì tội lỗi bội bạc loài người mà Chúa thấy trước và cho Mẹ biết. Trong nỗi đau đớn của trái tim, Mẹ Maria hướng về đồng loại kêu lên:

 

“Con cái loài người! Các người chẳng hiểu biết chút gì việc Thiên Chúa quí trọng hình ảnh Chúa nơi các người chừng nào! Vì, để làm giá cứu chuộc các người, Chúa dâng hiến chính máu Chúa và không nề quản đổ hết máu cực thánh ra cho các người. Ước gì tôi có thể liên kết ý chí của các người với ý chí của tôi, để tôi có thể làm cho các người yêu mến và vâng phục Chúa! Những người hiếu thảo, những người công chính được chúc lành giữa nhân loại, những người (này) là con cái trung thành của Thiên Chúa Cha! Xin Chúa đổ tràn đầy ánh sáng và ân sủng cho những ai đáp ứng lòng Chúa nồng nàn khao khát cứu độ họ.”

 “Ước chi mẹ có thể là người nô lệ hèn hạ của con cái Adong để hướng dẫn, giúp đỡ họ chấm dứt tội lỗi và thoát khỏi sự trầm luân đời đời! Lạy Chúa và Chủ Tể! Hỡi sự sống và ánh sáng linh hồn mẹ! Ai có thể quá sức cứng lòng và tàn ác đối với chính họ, đến mức không cảm thấy được các ơn Chúa thúc đẩy? Kẻ nào có thể quá sức vong ân bội bạc hững hờ đến mức không màng chi tới tình yêu vô cùng nồng cháy của Chúa? Làm sao trái tim mẹ có thể chịu được loài người, những kẻ được lòng nhân từ đại lượng vô cùng của Chúa hết sức ưu ái lại quá sức lỗ mãng và phản loạn? Hỡi con cái Adong! Các người hãy trút lòng ác độc vô nhân đạo của các người trên tôi. Hãy làm đau đớn, sỉ nhục tôi theo ý các người, nhưng hãy kính trọng và yêu mến Chúa vì các người mắc nợ lòng yêu thương của Ngài.”

 “Hỡi Con và Chúa của mẹ, Con là Ánh Sáng chiếu soi ánh sáng, Con Một Thiên Chúa Cha hằng hữu, đồng bản tính với Thiên Chúa Cha (Dt 1:3), cùng hằng hữu, cao cả, vô thủy vô chung, cùng ở với Thiên Chúa Cha trong một Thiên Chúa và trong một Uy Quyền Tối Thượng (Gioan 10:30). Con được chọn giữa muôn ngàn (Dc 5:10), xinh đẹp hơn hết mọi con cái loài người, thánh thiện, vô tội và không chút tì vết. Lạy Thiên Chúa hằng hữu, làm sao nhân loại có thể không màng tới đối tượng của tình yêu cao quí nhất của họ? Đấng Tạo Hóa, Đấng tạo dựng nên họ? Đấng là Cùng Đích gồm mọi hạnh phúc vĩnh cữu? Ước chi mẹ có thể hiến dâng mạng sống mẹ để mọi người có thể thoát khỏi sự lầm lạc của họ!”

Trong tình yêu này và với lòng kính trọng sâu xa nhất, Mẹ Maria lau mồ hôi máu trên mặt Con cực hiền dịu của Mẹ. Vào những lần khác, Mẹ thấy Chúa trong hoàn cảnh khác hẳn, chói chang trong vinh quang và hiển dung như về sau xảy ra trên núi Tabor (Mt 17:2), giữa muôn ngàn thiên thần thờ lạy, giữa tiếng ca hát dịu dàng chúc tụng cảm tạ Con Một Thiên Chúa Cha làm người. Mẹ Maria nghe và hợp lời với các thiên thần chúc tụng cảm tạ Chúa Cứu Thế. Thánh ý Chúa định rằng phần cảm giác của nhân tính cực thánh Ngôi Lời đôi khi phải được hưởng sự an ủi này.

Nhiều lần, khi Con Thiên Chúa cực thánh của Mẹ ở trong tình trạng đau khổ hoặc vui mừng, và đang cầu nguyện với Thiên Chúa Cha, hoặc đúng ra là, đang đàm luận với Thiên Chúa Cha về các mầu nhiệm vô cùng cao cả Ơn Cứu Chuộc, Thiên Chúa Cha chấp nhận hoặc phê chuẩn các lời Chúa Con xin cho việc cứu chuộc nhân loại, hoặc tỏ cho nhân tính cực thánh Chúa Cứu Thế các quyết định huyền nhiệm về ơn tiền định, về việc luận phạt một số linh hồn. Mẹ Maria nghe hết các lời này. Mẹ hạ mình xuống tới bụi đất, với lòng tôn thờ kính úy khôn sánh, thờ lạy Đấng Toàn Năng, hợp lời với Con của Mẹ cầu nguyện, van xin, cảm tạ, dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu thay cho nhân loại để ca tụng mọi phán định khôn dò của Ngài. Đức Trinh Mẫu Maria ấp ủ những bí tích huyền nhiệm này nơi trái tim. Mẹ ghi nhớ, biến những điều này thành chất dinh dưỡng tình yêu bừng bừng cháy của Mẹ. Không một đặc ân nào, không một ơn ưu ái bí nhiệm nào không sinh hoa kết trái trong Mẹ. Mẹ đáp ứng, chu toàn tất cả mọi điều theo những ước nguyện cao siêu nhất của Đấng Toàn Năng.

 LỜI MẸ MARIA

 

Con của Mẹ, một trong những lý do nhân loại phải gọi Mẹ là “Mẹ hay thương xót” là lòng Mẹ chứa chan yêu thương ước ao mọi người được no thỏa thánh sủng, được nếm sự ngọt ngào của Chúa như Mẹ được hưởng. Mẹ mời gọi tất cả mọi người cùng với Mẹ tới nguồn suối của Thiên Chúa. Những người nghèo khó, đau khổ, hãy tới, vì nếu họ đáp ứng và theo Mẹ, Mẹ sẽ cho họ sự bảo vệ giúp đỡ của Mẹ, Mẹ sẽ cầu bầu xin Con Mẹ cho họ, xin được cho họ bánh huyền nhiệm bởi trời, bánh này sẽ cho họ dinh dưỡng và sự sống (Kh 2:27). Con hãy từ bỏ mình, trút bỏ mọi việc làm theo tính yếu đuối nhân loại. Nhờ ánh sáng chân thực mà con nhận được về các việc Con Mẹ và Mẹ đã làm, con hãy suy gẫm, xét  mình trong gương này, để đạt tới vẻ đẹp mà Đức Vua Tối Cao tìm kiếm nơi con.

Đây là phương thức hiệu lực nhất trọn hảo hóa các việc con làm, Mẹ ước muốn con viết lời khuyên này trong trái tim con. Bất cứ khi nào con muốn thi hành một việc nội tâm hoặc bên ngoài, trước hết con hãy xem xét điều con sắp nói hoặc sắp làm có phù hợp thánh ý Chúa, con có làm vì vinh danh Chúa và mưu ích cho người khác không. Khi nào con chắc chắn đây là động lực việc con làm, con hãy thi hành việc đó trong liên kết với Chúa và theo gương Chúa, nhưng con đừng làm việc đó nếu không tìm thấy đúng động lực này. Đây là phương cách bất di bất dịch Mẹ theo đuổi việc bắt chước Chúa và Thầy dạy Mẹ, mặc dầu nơi Mẹ không có chút miễn cưỡng nào mà chỉ có lòng ước ao bắt chước Chúa cách trọn hảo. Việc bắt chước này là thành quả lời giáo huấn chí thánh, trong đó Chúa thúc giục chúng ta thi hành những gì Thiên Chúa Toàn Năng hài lòng và đáng được chấp nhận nhất. Hơn nữa từ nay trở đi con phải cẩn thận không làm, không nói, ngay cả đến không nghĩ tới bất cứ thứ gì, mà không xin phép Mẹ, không tham khảo ý Mẹ là Mẹ và Thày dạy con. Con hãy cảm tạ ơn Chúa ngay khi Mẹ đáp lời con; nếu Mẹ không đáp lời con sau khi đã liên tục thỉnh ý Mẹ, Mẹ hứa và bảo đảm với con rằng Chúa sẽ ban ơn soi sáng cho con biết điều gì hợp với thánh ý Chúa hơn cả. Tuy nhiên con hãy ký thác mọi sự cho sự chỉ dẫn của cha linh hướng, và đừng bao giờ quên việc thực hành này!

 

CHƯƠNG 4

  THÁNH GIUSE TỪ TRẦN TRONG HẠNH PHÚC

 

 Thời gian trôi qua, sức khỏe của thánh Giuse suy nhược dần và ngài tới gần cái kết thúc không thể tránh, khi mọi con cái Adong phải trả món nợ chết (Dt 9:27). Mẹ Maria gia tăng săn sóc lo lắng phụ giúp, tận tụy phục vụ thánh phu quân, không giây phút nào gián đoạn. Thấy ngày giờ thánh Giuse rời khỏi trần thế đã gần kề, Mẹ Maria nói với Con cực thánh: “Lạy Chúa là Thiên Chúa Tối Cao, Con Một Thiên Chúa Cha hằng hữu, Đấng cứu độ trần gian, nhờ ánh sáng thiên đàng, mẹ thấy gần tới giờ Con định cho Giuse tôi tớ của Con lìa bỏ trần gian. Mẹ xin Con, do lòng thương xót từ thuở đời đời và lòng nhân từ và quyền năng vô cùng của Con, ban ơn trợ giúp cho dưỡng phụ Giuse trong giờ phút đó. Hãy làm cho cái chết của dưỡng phụ Giuse được cao quí theo ý Con, vì sự ngay chính trong cuộc sống của ngài đã luôn hài lòng Con, để ngài ra đi bình an và hy vọng chắc chắc phần thưởng đời đời dành cho ngài trong ngày Con mở cửa thiên đàng cho các người trung tín. Con của mẹ, xin Con nhớ đến lòng khiêm tốn và yêu thương của nô bộc của Con; xin Con nhớ đến các công nghiệp và nhân đức trội vượt của ngài; nhớ đến lòng trung thành ân cần lo lắng mà người công chính này đã bằng mồ hôi nước mắt mình nâng đỡ Con và mẹ, nữ tì khiêm nhượng của Con.”

Chúa Cứu Thế nói: “Thưa Mẹ của Con, điều Mẹ xin vui lòng Con, các công nghiệp của dưỡng phụ Giuse được Con vui nhận. Lúc này, Con sẽ giúp đỡ và dành cho dưỡng phụ một nơi giữa các thần thánh của Con (Tv 115:15), ngài sẽ được hết sức cao sang mà các thiên thần và cả nhân loại phải ca tụng. Con sẽ không làm cho một người trần thế nào như cho phu quân Mẹ.” Mẹ Maria tạ ơn Con cực hiền dịu về lời hứa này. Suốt chín ngày đêm trước khi từ trần, thánh Giuse liên tục được vui hưởng sự kề cận chăm sóc của Mẹ Maria và Con cực thánh Mẹ. Do lệnh Chúa Cứu Thế, các thiên thần, ba lần mỗi ngày suốt chín ngày này, tấu nhạc thiên quốc, hoà những lời ca chúc tụng với các phép lành cho thánh Giuse. Ngôi nhà khiêm tốn nhưng cực kỳ cao quí của Thánh Gia tràn đầy hương thơm ngào ngạt lạ lùng đến độ không những chỉ an ủi thánh Giuse, mà cũng làm sảng khoái tất cả mọi người lân cận.

Một ngày trước khi từ trần, thánh Giuse ngút cháy trong lửa yêu thương linh thánh, chìm đắm trong cơn xuất thần lâu giờ. Chính Chúa tăng thêm sức lực cho cuộc hiệp thông lạ lùng này. Trong cơn ngất trí này, thánh Giuse thấy rõ Bản Tính Thiên Chúa, hiểu rõ mọi điều ngài đã tin: Thiên Chúa khôn lường, mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và Ơn Cứu Chuộc, Giáo Hội trần thế với tất cả mọi Bí Tích và mầu nhiệm của Giáo Hội. Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh bổ nhiệm và chỉ định thánh Giuse làm Sứ Giả Chúa Cứu Thế đến với các thánh Tổ và Tiên Tri nơi Lâm Bô; truyền cho thánh Giuse chuẩn bị các thánh nhân đó tới nơi an nghỉ hạnh phúc vĩnh cửu. Mẹ Maria thấy tất cả mọi việc này phản ánh trong linh hồn Chúa Giêsu cùng với tất cả các mầu nhiệm khác, đúng như được tỏ rõ cho phu quân yêu dấu của Mẹ. Mẹ chân thành nồng nàn cảm tạ Chúa vì các điều này.

Khi thánh Giuse ra khỏi cơn ngất trí, mặt ngài rực rỡ ánh huy hoàng lạ lùng, linh hồn ngài hoàn toàn biến dạng trong thị kiến Thiên Chúa. Thánh Giuse xin hiền thê rất thánh chúc lành; nhưng Mẹ Maria xin Thiên Chúa Con chúc lành thánh Giuse thay Mẹ. Kế đó Mẹ Maria khiêm nhượng quì gối xin thánh Giuse chúc lành, vì là phu quân và gia trưởng của Mẹ. Với ơn trên trợ lực, người của Chúa chu toàn lời yêu cầu này để an ủi hiền thê khôn ngoan của ngài. Mẹ Maria hôn bàn tay thánh Giuse đã chúc lành Mẹ và xin ngài chào mừng các thánh nơi lâm bô thay Mẹ. Thánh Giuse tột bực khiêm tốn, gắn kín cuộc đời của ngài bằng hành động tự hạ, xin Mẹ Maria tha thứ những khiếm khuyết của ngài trong việc phụng sự và yêu thương Mẹ, xin Mẹ giúp sức và cầu bầu cho ngài trong giờ lâm chung. Thánh Giuse dâng lên Chúa Cứu Thế những lời cảm tạ khiêm tốn vì mọi hồng ân suốt cả cuộc đời, đặc biệt những ơn ngài nhận được trong thời gian cuối đời này. Lời cuối cùng thánh Giuse nói với Mẹ Maria là: “Hiền Thê được chúc phúc hơn hết mọi phụ nữ và tất cả mọi người được tuyển chọn. Xin các thiên thần và cả loài người chúc tụng hiền thê; xin cho muôn thế hệ nhận biết, ca tụng tôn vinh địa vị của hiền thê; xin cho trong hiền thê mà thánh danh Đấng Tối Cao được nhận biết, thờ lạy và chúc tụng xuyên qua mọi thế hệ tương lai; xin cho Thiên Chúa được chúc tụng đến đời đời vì đã tạo dựng hiền thê hết sức đẹp mắt Chúa và trước mặt mọi thần thánh. Tôi ước nguyện được hưởng dung nhan hiền thê trong Nước Cha trên trời.”

Kế đó người của Chúa, hướng sang Chúa Cứu Thế với lòng tôn kính sâu thẳm nhất, muốn được quì gối trước mặt Chúa. Nhưng Chúa Giêsu cực độ dịu hiền bước tới đón ẵm thánh Giuse trong cánh tay, thánh Giuse tựa đầu trên vòng tay Chúa, ngài nói: “Lạy Chúa và Thiên Chúa Tối Cao, Con Thiên Chúa Cha hằng hữu, Đấng Tạo Thành và Cứu Độ nhân loại, xin chúc lành cho nô bộc và các kỳ công của Chúa. Lạy Đức Vua vô cùng nhân từ, xin hãy tha thứ những lỗi lầm nô bộc đã phạm trong việc phụng sự và đối thoại với Chúa. Tôi ca tụng, tôn vinh Chúa, dâng lên những lời cảm tạ đời đời và chân thành lên Chúa vì đã nhân từ chiếu cố chọn tôi làm phu quân của Hiền Mẫu đích thực của Chúa; xin cho sự cao cả và vinh quang Chúa là lời nô bộc này tạ ân cho đến đời đời.” Chúa Cứu Thế chúc lành cho thánh Giuse và nói: “Cha của Con, hãy nghỉ yên lành trong ân sủng của Thiên Chúa Cha và của Con, xin cha đưa tới cho các thánh Tiên Tri và các Thánh, đang chờ đợi cha nơi lâm bô, tin vui mừng ơn cứu độ họ đã gần.” Thánh Giuse tột đỉnh diễm phúc nằm trong vòng tay Chúa Cứu Thế đã từ trần khi Chúa nói những lời này; Chúa vuốt mắt cho ngài. Cùng lúc đó muôn vàn thiên thần, vốn phục vụ Đức Vua và Nữ Vương các ngài, hợp tiếng dịu dàng dâng lên những lời ca chúc tụng. Do lệnh Chúa, các thiên thần đưa linh hồn rất thánh của thánh Giuse tới nơi lưu ngụ của các thánh Tổ và Tiên Tri. Nơi ngục tổ tông, thánh Giuse lập tức được mọi người nhận ra, vì ngài được mặc trong những vẻ huy hoàng của ân sủng tuyệt vời, là người được coi là cha và là bạn thân tín Chúa Cứu Thế, xứng đáng được sự tôn kính cao độ nhất. Đúng theo thánh ý và sự ủy thác của Chúa, việc thánh Giuse tới lâm bô và lời loan báo ngày các thánh được cứu khỏi tù đày đã gần tới làm bừng lên niềm vui khôn tả tại nơi tập hợp vô vàn thánh nhân.

Thánh Giuse, người tốt phước nhất trong toàn thể nhân loại, thọ hơn sáu mươi tuổi. Khi ba mươi ba tuổi, ngài kết hôn với Đức Trinh Nữ Maria và sống bên Mẹ Maria với tư cách là phu quân của Người hơn hai mươi bảy năm. Khi thánh Giuse từ trần, Mẹ Maria tròn bốn mươi mốt tuổi rưỡi. Mẹ Maria vẫn nguyên thể chất toàn hảo như khi ba mươi ba tuổi. Mẹ không tỏ ra dấu hiệu suy nhược, hoặc do tuổi tác, hoặc do yếu đau, nhưng luôn ở nguyên tình trạng tuyệt hảo của nữ tính. Mẹ Maria đau buồn tự nhiên vì thánh Giuse từ trần; Mẹ yêu thương thánh Giuse là phu quân, là người ưu việt trong sự trọn lành và thánh thiện, là người bảo vệ và ân nhân của Mẹ.

 Có chút khác biệt trong các ân sủng được ban cho vị Đại Thánh Tổ Giuse với những ơn được ban cho các thánh khác. Nhiều vị thánh được ban các thánh sủng và đặc ân không nhằm gia tăng sự thánh hoá chính các ngài, nhưng để thăng tiến việc phụng sự Đấng Tối Cao nơi các linh hồn khác; các ơn đó là những đặc ân và thánh sủng được ban “nhưng không” không tùy thuộc sự thánh thiện của người nhận. Nơi thánh Giuse, mọi ơn Chúa đều làm gia tăng nhân đức và sự trọn lành cá nhân; vì mục đích nhiệm mầu mà các ơn Chúa hướng tới và làm cho thăng tiến được liên kết chặt chẽ với sự thánh thiện trong cuộc sống của ngài. Thánh Giuse càng trở nên thánh thiện và giống các thiên thần, ngài càng xứng đáng là phu quân của Mẹ Maria, Đấng là kho tàng các nhiệm tích thiên đàng. Thánh Giuse phải là một phép lạ của sự thánh thiện, mà chính ngài thực sự như thế.

Thánh nhi Giuse được sinh ra với thân xác đẹp tuyệt tác toàn vẹn làm cho hai đấng sinh thành và bà con thân thuộc đặc biệt hân hoan, sự việc tương tự như xảy ra ngày thánh Gioan Tẩy Giả chào đời, mặc dầu nguyên do sự việc đó được giấu kín hơn. Chúa đẩy nhanh trong thánh Giuse việc sử dụng trí khôn tới mức toàn hảo khi ngài ba tuổi, ban cho ngài sự khôn ngoan thiên đàng, cho linh hồn ngài những ân sủng và thánh đức. Từ thời gian đó, cũng bằng lý trí và sự khôn ngoan tự nhiên, ấu nhi Giuse bắt đầu nhận biết bằng đức tin rằng Thiên Chúa là nguyên do và là Đấng Hóa Công tạo dựng muôn loài. Ấu nhi Giuse nhiệt thành lắng nghe và hiểu sâu sắc mọi điều được dạy cho liên quan đến Thiên Chúa và các kỳ công của Ngài. Ngay lúc thiếu thời, thánh Giuse đã thực hành những cách cầu nguyện, chiêm niệm cao siêu, hăng say việc tập luyện các nhân đức thích hợp với tuổi nhỏ của ngài. Thánh Giuse có thiên hướng tốt lành, giầu yêu thương, nhã nhặn, thành thực, không phải chỉ thánh thiện mà còn như thiên thần nữa, lớn lên trong nhân đức trọn lành và tiến tới việc ngài kết hôn với Đức Maria bằng cuộc sống hoàn toàn công chính thánh thiện khôn sánh. Khi đó, nhờ lời Mẹ Maria cầu bầu, thánh Giuse được Chúa ban thêm tính thích nghi, tăng thêm các phẩm chất tốt; vì ngay khi Mẹ Maria được Chúa cho biết Chúa muốn Mẹ đi vào cuộc sống hôn nhân với thánh Giuse, Mẹ Maria tha thiết xin Chúa thánh hóa thánh Giuse và gieo cho ngài những tư tưởng tột độ trinh trong và những ước nguyện phù hợp với các ước nguyện của Mẹ. Chúa nghe lời Mẹ cầu nguyện và cho Mẹ thấy những hiệu lực vĩ đại của quyền năng Chúa làm nơi tâm trí thánh dưỡng phụ Giuse.

Chúa trút vào linh hồn ngài những tập quán nhân đức và các đặc ân tột đỉnh trọn hảo. Chúa làm cho quân bình các quan năng của thánh nhân, ban cho ngài tràn đầy hồng ân và củng cố các hồng ân đó cách lạ lùng. Về thánh đức và sự trọn lành của đức trinh khiết, vị phu quân thánh thiện Giuse được nâng lên cao hơn các thiên thần sốt mến Seraphim, vì sự trinh khiết mà các thiên thần có được không ở nơi thân xác. Không bao giờ một hình ảnh ô uế thú tính và cảm giác tự nhiên xâm nhập bất cứ quan năng nào của thánh Giuse, dẫu chỉ chốc lát cũng không. Việc thoát khỏi mọi hình ảnh và bản chất tự nhiên, tính đơn sơ như thiên thần của ngài làm cho thánh Giuse thích hợp với việc đồng hành, hiện diện bên Đấng cực trinh khiết hơn hết muôn loài, mà nếu không có hoàn cảnh siêu việt này hẳn thánh Giuse đã không thể nào xứng đáng với địa vị tột đỉnh cao cả tuyệt vời này.

Thánh Giuse cũng nổi bật cách lạ lùng về các nhân đức khác, đặc biệt về đức bác ái; ngài ở tại nguồn nước hằng sống, mà nguồn nước này chảy vọt tới sự sống đời đời (Gioan 4:14); thánh Giuse ở kề bên bầu lửa, được tiêu hoá đi mà không chút đối kháng. Điều đúng nhất có thể nói được về tình yêu mến của thánh Giuse là lửa yêu mến của ngài đối với Thiên Chúa chính là nguyên do ngài chết. Chúa Cứu Thế và Mẹ Maria, hai đối tượng tình yêu của thánh Giuse, đều ở kề bên ngài; Chúa và Mẹ Maria liên kết mật thiết với thánh Giuse hơn hết bất cứ người trần gian nào khác; trái tim tột độ trong sạch và trung thành của ngài nhất định phải được tan biến đi do những hiệu lực yêu thương kết hợp như thế. Chúc tụng Chúa, Đấng tạo thành những điều vĩ đại này; hạnh phúc thay thánh Giuse, người diễm phúc nhất trong cả loài người, ngài đã đáp lại cách xứng đáng tình yêu của Chúa Cứu Thế và Đức Hiền Mẫu rất thánh. Thánh Giuse xứng đáng được muôn thế hệ và muôn dân nhận biết tôn kính, vì Chúa đã không làm những việc lạ lùng như thế với bất cứ người nào khác, Chúa cũng không tỏ lòng yêu thương như thế cho người nào khác.

Đặc ân và hạnh phúc lớn lao nhất thánh Giuse được hưởng khi còn ở trần thế là ngài được biết các mầu nhiệm về Chúa Cứu Thế và Đức Hiền Mẫu Maria rất thánh. Ngài đã sống chung với Chúa và Mẹ Maria suốt bấy nhiêu năm, là dưỡng phụ Chúa Cứu Thế, là phu quân đích thực của Đức Nữ Vương thiên đàng. Do sự thánh thiện cao cả của ngài, thánh Giuse còn được Đấng Tối Cao dành cho nhiều đặc ân khác nữa, những đặc ân này đặc biệt quan trọng cho những ai xin thánh Giuse cầu bầu cho cách chính đáng. Lời thánh Giuse bầu cử có hiệu lực rất mạnh:

 

1.      Thứ nhất, xin được đức trinh khiết, khắc phục các khuynh hướng xác thịt;

2.      Thứ hai, xin được giúp đỡ mạnh mẽ trong việc thoát khỏi tội lỗi, trở lại tình trạng ân nghĩa với Thiên Chúa;

3.      Thứ ba, ơn gia tăng lòng yêu mến tận hiến cho Mẹ Maria rất thánh;

4.      Thứ bốn, ơn chết lành và bảo vệ chống lại ma quỉ trong giờ chết;

5.      Thứ năm, ơn làm cho ma quỉ kinh hoảng khi người cầu xin kêu tên thánh Giuse;

6.      Thứ sáu, được sức khỏe thể chất và ơn trợ giúp trong mọi khó khăn;

7.      Thứ bảy, ơn an toàn sinh con trong các gia đình.

 

Các ơn này và nhiều đặc ân khác Thiên Chúa ban cho những người thành tâm cầu xin lời bầu cử của thánh Giuse, phu quân Đức Nữ Vương thiên đàng. Tác gỉa nài nỉ mọi con cái trung thành của Giáo hội nhiệt thành yêu mến thánh Giuse, họ sẽ thực sự được các đặc ân này, nếu họ cư xử cách chính đáng để xứng đáng nhận được các ơn đó.

 LỜI MẸ MARIA

 

Con của Mẹ, mặc dầu con đã mô tả thánh Giuse, phu quân của Mẹ, là người cao quí nhất trong các thần thánh của Jerusalem trên trời, nhưng con không thể làm nổi bật cách chính xác sự thánh thiện cao cả của ngài, cũng không một ai trong con cái loài người có thể biết điều đó trọn vẹn trước khi họ được chiêm ngưỡng thánh nhan Thiên Chúa. Khi đó mọi người sẽ hết sức ngỡ ngàng vì Chúa sẽ làm cho họ hiểu mầu nhiệm này. Vào ngày tận thế, khi mọi người được phán xét, những người bị luận phạt sẽ cay đắng khóc than hối hận tội lỗi của họ đã cản trở không để cho họ hiểu đúng giá trị phương tiện mạnh thế này của việc rỗi linh hồn của họ, đã tự mình làm mất các phương tiện đúng ra họ có thể đạt được cách dễ dàng là nhờ Đấng Bầu Cử này để được tình thân của Đấng Phán Xét Tối Cao. Toàn thể nhân loại đã quá coi thường các đặc ân và đặc quyền được dành cho thánh phu quân của Mẹ, họ không biết lời cầu bầu của ngài xin Chúa mạnh thế chừng nào. Con rất yêu dấu của Mẹ, Mẹ bảo đảm với con rằng thánh Giuse là một trong những người được Thiên Chúa ưu ái nhất, rất mạnh thế ngăn cánh tay thịnh nộ của Chúa. Mẹ muốn con hết lòng biết ơn Chúa đã đoái nhìn ban cho con quá sức nhiều ơn soi sáng hiểu biết mầu nhiệm này, và cũng vì đặc ân mà Mẹ đang làm cho con. Từ nay trở đi, suốt cuộc đời trần thế còn lại của con, con hãy cẩn thận tiến tới trong việc tận hiến, yêu mến nồng nàn đối với thánh phu quân của Mẹ. Con hãy chúc tụng Chúa vì đã ưu ái ban cho thánh Giuse những đặc ân hết sức cao quí, đã làm cho Mẹ hết sức vui mừng vì con biết được mọi sự cao cả của ngài. Con phải xin thánh Giuse cầu bầu cho mọi nhu cầu của con. Con phải khuyến khích nhiều người tôn kính thánh Giuse và làm cho các nữ tu của con nổi bật trong việc mộ mến ngài. Điều gì đức phu quân của Mẹ cầu bầu xin Chúa cho người trần thế đều được Chúa ban, nhờ lời ngài bầu cử, người ta được hưởng nhiều ân ngoại lệ nếu họ không tự làm cho mình bất xứng hưởng các ơn đó. Tất cả các đặc ân này là phần thưởng dành cho sự trọn lành cao cả của đấng thánh tuyệt vời này và vì các nhân đức vĩ đại của ngài. Vì lòng nhân từ của Chúa bị lôi kéo cách ưu ái rộng lượng tới những ai kêu cầu xin thánh Giuse bầu cử, Chúa sẵn sàng đổ tràn đầy lòng nhân từ thương xót cho những ai ký thác cậy nhờ thánh Giuse cầu xin cho.

 

CHƯƠNG 5

 * MẸ MARIA HIẾN DÂNG CON CỰC THÁNH LÀM HY LỄ LÊN THIÊN CHÚA CHA HẰNG HỮU; 
* CHÚA GIÊSU RỜI KHỎI NAZARETH.

 

Tình yêu Đức Hiền Mẫu Maria đối với Con cực thánh phải luôn luôn là tiêu chuẩn theo đó chúng ta đo lường mọi hành động cũng như các nỗi vui buồn suốt cuộc đời Mẹ ở trần gian. Nhưng chúng ta và cả đến các thiên thần không thể nào đo lường sự vĩ đại chính tình yêu của Mẹ Maria, trừ ra bằng tình yêu mà các thiên thần nhìn thấy nơi Thiên Chúa. Tất cả mọi điều từng được mô tả bằng ngôn từ hạn hẹp chúng ta, những lối so sánh và suy luận, bất quá chỉ là phần tối thiểu của toàn thể những gì lò lửa yêu mến linh thánh này thực sự tích chứa. Mẹ Maria yêu Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa Cha hằng hữu, đồng bản tính, đồng quyền năng và mọi sự trọn lành với Thiên Chúa Cha. Mẹ Maria yêu Chúa Giêsu là Con đích thực của Mẹ, Con Mẹ vì Chúa là con người, được tạo thành do chính thịt máu Mẹ. Mẹ Maria yêu Chúa Giêsu vì, với tư cách là con người, Chúa là Đấng Thánh trên hết mọi đấng thánh và là nguyên do chính của mọi sự thánh thiện (Dan 9:24). Người đẹp vô song giữa đám phàm nhân (Tv 44:3). Chúa là Con vô cùng thảo hiếu của Mẹ, là Ân Nhân vô cùng rộng lượng của Mẹ, vì chính Chúa, do phận là con, đã nâng Mẹ lên địa vị cao quí nhất giữa muôn loài. Chúa tôn vinh Mẹ giữa muôn loài, trên hết mọi loài bằng các kho tàng thiên tính, ban cho Mẹ mọi đặc ân, phúc lành và thánh sủng vượt trên hết mọi thụ tạo cộng chung lại.

Chỉ có sự khôn ngoan tột đỉnh của Mẹ Maria mới hiểu rõ giá trị các nguyên nhân và nền tảng trên đó tình yêu của Mẹ được thiết lập và hiểu sự khôn ngoan nơi Mẹ cùng với nhiều ân sủng khác nữa. Không một thứ gì có thể cản trở tình yêu nơi trái tim cực trinh khiết Mẹ. Mẹ tột đỉnh thảo hiếu; đức khiêm tốn sâu thẳm làm cho Mẹ trở thành Người Đối Thoại trung thành nhất. Mẹ không nhu nhược yếu đuối, thánh sủng vô cùng dư đầy nơi Mẹ tác động toàn thể hiệu lực. Mẹ không chậm chạp chần chờ, cũng không bất cẩn hững hờ vì Mẹ được tràn đầy lửa yêu mến cực kỳ nồng nàn và chuyên cần. Mẹ không xao lãng quên sót, trí nhớ tuyệt vời của Mẹ không khi nào ngưng xoáy vào các đặc ân Mẹ nhận được cùng các nguyên do và giáo huấn của tình yêu sâu xa nhất. Mẹ sống trong chính tình yêu Thiên Chúa; Mẹ ở trước thánh nhan Chúa, trong học đường yêu thương của Con Mẹ, bắt chước y hệt các việc Chúa làm trong khi có Chúa ở bên. Vầng Trăng Maria đẹp tuyệt vời này, ở độ đầy nhất hướng về Mặt Trời công chính Giêsu, được tách biệt khỏi mọi thứ vật chất trần thế, hoàn toàn biến đổi trong ánh sáng Vầng Thái Dương Giêsu, đã hưởng mọi hiệu lực của tình yêu hỗ tương, các ân sủng và ưu ái của Chúa. Mẹ ở đỉnh cao hạnh phúc khi sắp tới lúc mất đi mọi đặc ân này từ Con Mẹ. Mẹ đau đớn khôn tả khi nghe tiếng Thiên Chúa Cha hằng hữu gọi, như xưa Chúa đã gọi hình bóng Mẹ là Tổ Phụ Abraham, đòi việc dâng hiến ký thác toàn thể tình yêu và hy vọng là Isaac yêu dấu (Stk 22:1) của Mẹ.

Đức Hiền Mẫu biết rõ thời giờ Mẹ dâng hiến Hy Lễ đang dần tới. Con cực yêu dấu của Mẹ đã bước vào tuổi ba mươi, thời điểm được ấn định cho việc đền trả nợ nần mà Chúa gánh đền đã tới. Sở hữu Chúa trọn vẹn là toàn thể hạnh phúc, Mẹ Maria vẫn cho rằng chưa tới lúc mất đi Kho Tàng đó, Mẹ chưa phải chịu điều đau khổ này. Vì thế khi thời điểm tới, Mẹ Maria được bọc trong thị kiến vô cùng cao quí, cảm thấy được gọi và đặt trước tòa Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh. Từ ngai toà Thiên Chúa phát ra lời quyền uy tối thượng: “Hỡi Maria, Ái Nữ và Người Yêu Dấu của Ta, Người hãy dâng cho Ta Con Một vô cùng yêu dấu làm Hy Lễ.” Do quyền năng tối thượng của những lời này, Đức Hiền Mẫu rất thánh được ơn soi sáng hiểu biết thánh ý Đấng Toàn Năng, Mẹ hiểu quyết định Ơn Cứu Chuộc nhân loại qua Khổ Hình và Tử Nạn của Con cực thánh, cùng với tất cả mọi diễn tiến từ nay trong việc rao giảng và cuộc đời công khai của Chúa Cứu Thế. Khi sự hiểu biết này được canh tân và thấu triệt, Mẹ cảm thấy linh hồn Mẹ bị chế ngự bởi những cảm nghĩ vâng phục, khiêm nhượng, yêu mến Thiên Chúa, xót thương nhân loại, lòng trắc ẩn và sự đau buồn cực độ vì mọi điều Con Mẹ phải chịu.

Với trái tim hào hiệp không nao núng, Mẹ đáp lời Đấng Tối Cao: “Lạy Vua hằng hữu, lạy Thiên Chúa Toàn Năng Cao Cả vô cùng khôn ngoan và nhân từ, mọi sự hiện hữu, ngoài Chúa, chỉ do lòng thương xót và lượng cao cả Chúa mà có, Chúa là chúa tể muôn loài. Sao Chúa lại truyền cho con, một con trùng đất hèn hạ, hiến dâng lên theo thánh ý Chúa Người Con, mà do lòng thương chiếu cố Chúa đã ban cho con? Lạy Thiên Chúa Cha hằng hữu, Ngài là của Chúa, vì từ thuở đời đời trước cả sao mai Chúa đã sinh ra Ngài (Tv 109:3), Chúa đã sinh ra Ngài và sẽ sinh ra Ngài đời đời. Nếu con mặc cho Ngài vóc dáng kẻ tôi đòi trong dạ và do máu con, nếu con đã nuôi dưỡng nhân tính Ngài bằng sữa của con và chăm sóc nhân tính Ngài với tư cách hiền mẫu: nhân tính cực thánh này là của Chúa, và con cũng thế, vì con đã nhận được từ Chúa mọi thứ mà con hiện hữu và mọi thứ con có thể cho Ngài. Làm sao con có thể dâng lên Chúa điều là của Chúa nhiều hơn của con? Lạy Đức Vua tối cao, con xưng tụng sự cao cả và lòng nhân từ Chúa bao la vô cùng trong việc ban cho các thụ tạo những kho tàng ân sủng vô tận của Chúa. Để ràng buộc Chúa với các thụ tạo đó, Chúa muốn nhận được của lễ từ họ như của “cho không”, cho dù đó là chính Con Một vô cùng yêu dấu Chúa, Chúa sinh ra Ngài từ bản tính và từ ánh sáng Thiên Tính của Chúa. Cùng một trật với Ngài muôn ơn lành cao cả đã đến với con, từ tay Ngài con nhận được của cải không biết cơ man nào mà kể (Kn.11). Ngài là Gương Thánh Đức cho con, Chất Liệu cho tinh thần, Sự Sống linh hồn, Linh Hồn của cuộc đời con, Chất Bổ Dưỡng mọi niềm vui sống của con. Hiển nhiên là của lễ vô giá nếu dâng Ngài lên Chúa là Đấng duy nhất biết giá trị Ngài. Nhưng trao Ngài vào tay những kẻ thù ác độc để với giá mạng sống Ngài, vốn quí giá hơn toàn thể mọi kỳ công Chúa đã tạo dựng để thoả mãn đức công bằng của Chúa! Lạy Chúa Tối Cao, việc này hiển nhiên là hy lễ vĩ đại mà Chúa đòi hỏi nơi mẹ của Ngài. Tuy nhiên xin đừng để cho ý con mà là thánh ý Chúa được trọn toàn. Xin cho sự tự do của nhân loại nhờ đó được chuộc lại. Xin cho đức công bằng của Chúa được thoả mãn. Xin cho tình thương yêu vô cùng của Chúa được hiển lộ. Xin cho thánh danh Chúa được muôn loài nhận biết và tôn vinh. Con xin đặt Ngài trong tay Chúa trước mặt muôn loài.

Con xin đặt vào tay Chúa Isaac yêu dấu của con, để Ngài được thực sự hiến dâng. Con dâng Con của con, Hoa Trái lòng con, để theo thánh ý bất khả di dịch của Chúa, Ngài có thể đền trả nợ nần thiếu mắc không do lỗi Ngài, mà do tội lỗi con cháu Adong, để trong Tử Nạn, Ngài có thể hoàn tất mọi điều các thánh Tiên Tri, được Chúa soi dạy, đã viết và tiên báo.”

Hy Lễ duy nhất, cao cả nhất, đáng được chấp nhận nhất, được chính Chúa Cứu Thế dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu từ thuở tạo dựng vũ trụ cho tới tận thế. Hy Lễ Mẹ Maria hiến dâng được liên kết cực độ mật thiết với và giống Hy Lễ Chúa Cứu Thế. Nếu tình yêu thương vĩ đại nhất là hiến dâng chính mạng sống mình vì người yêu, hiển nhiên Mẹ Maria vượt rất xa bất cứ mức độ yêu thương tột đỉnh nào của cả loài người, vì Mẹ yêu thương Chúa Con gấp nhiều lần hơn sinh mạng Mẹ. Nhân loại không ước lượng được tình yêu của Mẹ Maria. Tình yêu của Mẹ Maria chỉ có thể đo lường được bằng tình yêu Thiên Chúa Cha đối với Thiên Chúa Con. Lời Chúa Kitô nói với ông Nicodemo: “Thiên Chúa hết sức yêu thương thế gian đến độ đã ban Con Một của Ngài để không một ai tin vào Con Chúa mà bị hư mất” (Gioan 15:7), cũng có thể được nói trong cùng mức độ về tình yêu của Đức Hiền Mẫu thương yêu. Cũng cách đó và cân xứng, chúng ta mắc nợ Mẹ Maria ơn cứu độ vì Mẹ Maria cũng yêu thương chúng ta hết sức đến độ hiến dâng Con duy nhất của Mẹ để cứu chuộc chúng ta. Nếu Mẹ không hiến dâng Hy Lễ chuộc tội chúng ta theo cách này khi được Thiên Chúa Cha yêu cầu, hẳn Ơn Cứu Chuộc nhân loại đã không được thực thi do cùng quyết định, vì quyết định này phải được hoàn tất với điều kiện là ý của Đức Hiền Mẫu Maria phải trùng hợp với thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu. Đây là ơn mà con cháu Adong phải đền trả Mẹ Maria rất thánh .

Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh nhận hy lễ Mẹ Maria hiến dâng, lập tức thưởng và đền đáp lại bằng ân sủng đặc biệt để an ủi Mẹ trong nỗi đau buồn, biểu lộ rõ ràng hơn thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu và các lý do của lệnh Chúa truyền. Vì thế, Mẹ Maria vẫn còn trong thị kiến, được nâng lên mức độ ngây ngất cao cả hơn, trong đó Mẹ được chuẩn bị để trực diện Thiên Chúa. Trong thị kiến này, do việc thấy rõ ràng bản tính Thiên Chúa, Mẹ hiểu Đấng Tốt Lành vô cùng muốn thông ban các kho tàng vô cùng của Chúa cho nhân loại qua các việc làm của Ngôi Lời Nhập Thể. Linh hồn Mẹ tràn đầy hân hoan trước viễn ảnh mọi mầu nhiệm thánh này, Đức Hiền Mẫu thiên đàng canh tân việc hiến dâng Thiên Chúa Con cho Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa an ủi Mẹ bằng bánh ban sự sống là sự hiểu biết cao siêu để với lòng dũng cảm chịu đựng vô địch, Mẹ có thể phụ tá Ngôi Lời Nhập Thể trong Công Cuộc Cứu Chuộc với tư cách là Đấng Đồng Công và Phụ Tá, mà theo sự an bài của Đấng Khôn Ngoan vô cùng đã thực sự xảy ra về sau trong những năm tháng còn lại của cuộc đời Mẹ.

Do các hiệu lực và sức mạnh được thông cho Mẹ trong thị kiến này, Mẹ được chuẩn bị để tạm biệt Thiên Chúa Con vì Chúa đã quyết định ăn chay trong sa mạc sau khi chịu Phép Rửa. Chúa nói với Mẹ: “Thưa Mẹ của Con, Con đã nhận được thân xác nhân tính của Con hoàn toàn từ xương thịt và máu Mẹ, nhờ đó Con đã mặc lấy hình hài kẻ tôi đòi trong dạ trinh khiết Mẹ (Phil. 2:7). Mẹ đã nuôi Con bằng sữa Mẹ, săn sóc Con bằng những vất vả cực nhọc và mồ hôi. Vì lý do này Con cho rằng Con là của Mẹ nhiều hơn bất cứ người nào khác có thề nhìn nhận mình là con đối với mẹ của họ. Xin Mẹ cho phép và đồng ý cho Con chu toàn thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu. Đã đến lúc Con phải rời khỏi cuộc sống bên Mẹ, khởi đầu Công Cuộc Cứu Chuộc nhân loại. Thời gian an nhàn đã hết, giờ chịu đau khổ để cứu chuộc con cháu Adong đã tới. Con muốn hoàn thành công cuộc này của Thiên Chúa Cha với sự phụ tá của Mẹ; Mẹ sẽ là Người Đồng Hành và Phụ Tá của Con trong việc chuẩn bị cho Khổ Hình Tử Nạn trên Thánh Giá của Con. Lúc này Con phải để Mẹ ở lại một mình, nhưng ơn lành, sự che chở yêu thương và uy quyền của Con luôn ở với Mẹ. Rồi Con sẽ trở về xin Mẹ đồng công và đồng hành với Con trong mọi cực khổ vất vả; vì Con phải chịu mọi đau khổ vất vả đó trong thân xác loài người Mẹ đã cho Con.”

Quì nơi chân Chúa Con, Mẹ nói: “Lạy Chúa và Thiên Chúa hằng hữu của mẹ, mẹ coi sinh mạng mẹ chẳng đáng kể, nếu mẹ có thể cứu được sinh mạng Con, hoặc mẹ có thể chết vì Con nhiều lần. Nhưng thánh ý Thiên Chúa Cha và của Con phải được toàn thành, mẹ hiến dâng ý riêng mẹ làm hy lễ cho việc chu toàn này. Xin hãy nhận lấy, hỡi Con và là Chúa của mẹ; xin cho hy lễ mẹ hiến dâng đáng được chấp nhận, xin cho ơn bảo vệ linh thánh của Con không bao giờ thiếu đối với mẹ. Mẹ không được đi theo Con trong mọi khổ cực vất vả và Thánh Giá của Con là điều đau đớn còn lớn lao hơn nhiều đối với mẹ. Con của mẹ, xin cho mẹ được xứng đáng hưởng đặc ân này, với tư cách là mẹ đích thực của Con, mẹ xin Con cho mẹ đi theo, chia sẻ mọi khổ cực thánh giá của Con để đổi lại hình hài nhân tính Con đã nhận từ nơi mẹ.” Đức Hiền Mẫu cực yêu thương xin Chúa đem theo một ít thực phẩm Mẹ đã chuẩn bị sẵn, hoặc Chúa cho phép gởi tới nơi Chúa sẽ đến. Nhưng Chúa Cứu Thế không nhận thực phẩm như Mẹ nói, đồng thời Chúa soi sáng Mẹ về những gì thích hợp cho biến cố này. Chúa Cứu Thế và Mẹ Maria đi tới cửa ngôi nhà nghèo nàn của Thánh Gia; Mẹ lại quì xin được chúc lành và hôn chân Chúa. Thầy chí thánh chúc lành cho Mẹ rồi khởi đầu hành trình tới sông Jordan, ra đi như Mục Tử hiền lành đi tìm các chiên lạc, vác chúng trên vai, đem chúng trở lại con đường hằng sống mà chúng đã bị lừa dối dụ dỗ đi lạc (Lc 15:5).

Khi Chúa Cứu Thế tìm thánh Gioan Tẩy Giả để nhận Phép Rửa, Chúa đã ở một phần tuổi ba mươi. Chúa đi thẳng tới bờ sông Jordan, nơi thánh Gioan Tẩy Giả đang làm phép rửa (Mt 3:13), Chúa nhận Phép Rửa do thánh Gioan khoảng ba mươi ngày sau khi Chúa tròn tuổi hai mươi chín. Tác giả không thể diễn tả cách xứng đáng nỗi đau đớn của Mẹ Maria trong biến cố Chúa ra đi này; cũng không thể nào mô tả lòng thương yêu Chúa Cứu Thế đối với Mẹ Maria. Mọi ngôn từ đều quá sức thiếu thốn hạn hẹp đối với những gì đã xảy ra nơi trái tim Chúa Con và Mẹ Maria. Thiên Chúa cho phép các hiệu lực này hoạt động trong Chúa Cứu Thế và Mẹ Maria tới cực độ, mức độ thích hợp với sự thánh thiện của cả Mẹ và Con. Thầy chí thánh của chúng ta rảo bước hướng tới mục tiêu Ơn Cứu Chuộc nhân loại mà Chúa bị thu hút bởi sức mạnh tình thương vô cùng.

Lạy Chúa yêu dấu vô cùng của con! Tại sao trái tim chúng con không để cho chúng con gặp Chúa với tình yêu đáp ứng thuận thảo? Tại sao sự hoàn toàn vô dụng của loài người, hơn nữa, sự vong ân bội nghĩa của chúng con, không làm cho Chúa ngưng lại? Lạy Chúa tốt lành và Sự Sống đời đời của con, không có chúng con cũng như có chúng con, Chúa vẫn hạnh phúc vô cùng và trong mọi sự trọn lành toàn hảo, thánh thiện và vinh quang. Chúng con chẳng thêm được chút chi vào những gì Chúa có trong chính Chúa, vì Chúa hoàn toàn độc lập với mọi thụ tạo. Lạy Chúa yêu dấu của con, tại sao Chúa quá lo lắng ưu phiền tìm kiếm, lo lắng săn sóc chúng con? Tại sao Chúa chuộc mua hạnh phúc cho chúng con bằng giá Khổ Hình và Thánh Giá? Hiển nhiên vì tình thương và lòng nhân từ khôn lường Chúa coi hạnh phúc chúng con là hạnh phúc của chính Chúa, chỉ có chúng con cứ khăng khăng miệt mài trong việc tìm vui thú riêng mình chẳng khác gì người xa lạ đối với Chúa và với chính chúng con.

 LỜI MẸ MARIA

 

Con của Mẹ, Mẹ muốn con suy xét và đi ngày càng sâu vào mầu nhiệm con đã viết, ghi khắc trong linh hồn con để bắt chước Mẹ ít nhất một phần nào mầu nhiệm này. Con hãy suy gẫm về thị kiến Thiên Chúa mà Mẹ được trong dịp này, Mẹ được làm cho hiểu giá trị cao cả Chúa ấn định cho các cực nhọc vất vả, Khổ Hình và Tử Nạn của Con Mẹ, cho tất cả những ai sẽ bắt chước và theo Chúa Giêsu trên đường Thánh Giá. Vì biết điều này, Mẹ đã không phải chỉ để cho Con Mẹ chịu Khổ Hình và Tử Nạn, Mẹ còn xin Chúa làm cho Mẹ trở nên bạn đồng hành, đồng công trong mọi phiền sầu, đau đớn thống khổ mà Thiên Chúa Cha hằng hữu đã thuận ban. Khi đó, để khởi đầu theo gót các đắng cay đau khổ của Chúa, Mẹ xin Con và Chúa của Mẹ lấy đi những hoan hỉ trong lòng. Lời xin này được chính Chúa soi sáng cho Mẹ, vì Chúa muốn như thế, vì tình yêu dạy và thúc giục Mẹ. Lòng ao ước chịu đau khổ, các ước nguyện của Thiên Chúa Con dẫn Mẹ tiến tới trên đường chịu đau khổ. Vì yêu thương Mẹ vô cùng, chính Chúa đã cho Mẹ những ước nguyện đó; Chúa làm cho những người Chúa yêu thương phải chịu đau đớn và để cho họ phải chịu khổ cực (Cn 3:12). Mẹ, là Mẹ Chúa, không bị để cho mất ơn đặc biệt giống như Chúa, mà chỉ có ơn đó mới làm cho cuộc sống này đáng quí trọng hơn hết. Lập tức thánh ý này của Đấng Tối Cao, điều Mẹ tha thiết xin, bắt đầu được chu toàn: Mẹ bắt đầu cảm thấy thiếu vắng ơn vỗ về hoan hỉ, Chúa khởi sự cư xử với Mẹ cách nghiêm khắc hơn. Đó là một trong những lý do Chúa không gọi Mẹ là Mẹ, mà gọi là Bà, tại tiệc cưới Cana, dưới chân Thánh Giá (Gioan 2:4, 19:26), và trong nhiều dịp khác, khi Chúa giữ lại những lời yêu thương dịu dàng. Đây không phải là dấu chỉ sự giảm thiểu tình yêu thương của Chúa, mà đúng ra là sự tinh lọc sâu sắc tình yêu, Chúa làm cho Mẹ giống Chúa trong những đau khổ được chọn làm kho tàng sản nghiệp vô giá của Chúa.

Nhờ đó con sẽ hiểu sự ngu dại và lầm lẫn của loài người. Họ trôi giạt rất xa khỏi đường ánh sáng, khi mà, theo một định luật, hầu như tất cả mọi người đều cố gắng hết sức để trốn tránh vất vả cực nhọc đau khổ, sợ hãi con đường hãm mình và đường Thánh Giá vương giả an toàn. Bị nhận chìm bởi điều dại dột giả trá lừa đảo này, người ta không những chỉ ghê tởm việc bắt chước Chúa Kitô và Mẹ chịu đau khổ, mà họ còn tự mình tước bỏ nguồn ân sủng đích thực cao quí nhất của cuộc sống. Tự làm cho việc họ hồi phục trở nên bất khả, vì tội lỗi làm cho người ta yếu đuối, mà thuốc duy nhất chữa tội lỗi là chịu đau khổ. Người ta phạm tội vì ham mê hèn hạ, gớm ghét sự đau khổ lo buồn, trong khi đó đau khổ làm cho người ta được ơn tha thứ của Vị Chánh Án chí công. Nhờ lo buồn đau đớn thống hối, những hậu quả tội lỗi được làm nhẹ bớt; quá độ về dâm dục và cuồng vọng bị nghiền tan; tính kiêu căng và thái độ ngạo mạn được làm cho khiêm tốn; xác thịt bị khắc phục. Do lòng thống hối ăn năn, các khuynh hướng về điều ác độc, về các thụ tạo, về cảm giác và trần thế, được kiềm chế; việc xét đoán được rõ ràng; ý nguyện được đặt trong giới hạn, những chuyển động rời rạc do các dục vọng được điều chỉnh lại cho đúng. Cũng nhờ lo buồn vì tội lỗi, tình yêu và lòng thương xót của Chúa được kéo xuống trên những người bị đau khổ, những người kiên trì chịu đựng đau khổ, hoặc tìm chịu đau khổ để bắt chước Con cực thánh Mẹ. Với khoa học đau khổ này mọi kho tàng được chúc phúc của loài người được canh tân. Những ai trốn chạy đau khổ là những người điên khùng, những ai không biết gì về khoa chịu đau khổ là những người khờ dại.

 

CHƯƠNG 6 

* CHÚA KITÔ CHỊU PHÉP RỬA VÀ ĂN CHAY BỐN MƯƠI NGÀY; 
* NHỮNG VIỆC MẸ MARIA THỰC HIỆN TRONG CÁC BIẾN CỐ NÀY

 

Sau khi từ biệt Thánh Mẫu nơi ngôi nhà thanh bần Nazareth, Chúa Cứu Thế giong ruổi tới sông Jordan, không một người trần gian nào đi theo nhưng có việc thực thi lòng yêu mến vô cùng nồng nàn đồng hành. Chúa tới gần thị trấn Betha, còn gọi là Betharaba, ở phía bên kia sông Jordan, nơi vị Tiền Hô đang rao giảng và làm phép rửa. Ngay những bước đầu tiên khi rời khỏi nhà, Chúa Cứu Thế, ngước mắt lên Thiên Chúa Cha hằng hữu, dâng những việc Chúa sắp sửa khởi đầu cho việc cứu chuộc nhân loại: những vất vả, buồn phiền, khổ hình và chết trên Thánh Giá, gánh tội đền thay nhân loại trong việc vâng phục thánh ý Chúa Cha. Chúa Cứu Thế cũng dâng lên Thiên Chúa Cha nỗi buồn tự nhiên với tư cách người Con đích thực và yêu thương xa lìa Hiền Mẫu, rời khỏi sự hiện diện tuyệt vời của Mẹ mà Chúa đã vui hưởng hai mươi chín năm nay. Chúa muôn loài bước đi một mình, không kèn không trống, không người tùy tùng. Vua tối cao trên hết mọi vua, Chúa trên hết các chúa (Kh 19:16) bị các thần dân của Người khinh miệt làm lơ.

 Suốt hành trình tới sông Jordan, Chúa Cứu Thế ban phát lòng thương xót chữa lành bệnh tật thể xác và linh hồn cho nhiều người tại nhiều nơi khác nhau. Tuy nhiên các việc này đều được thực hiện kín đáo; vì trước khi nhận phép rửa, Chúa không cho một bằng chứng công khai nào về quyền năng vô biên và nhiệm vụ cao cả của mình. Trước khi xuất hiện tại sông Jordan, Chúa đổ tràn đầy trái tim thánh Gioan Tẩy Giả ơn soi sáng và niềm vui mới, thay đổi và nâng cao tâm hồn Vị Tiền Hô. Nhận biết những tác động huyền nhiệm mới này, thánh Gioan Tẩy Giả bỡ ngỡ la lên:

 

“Mầu nhiệm cao cả biết bao? Những linh cảm hạnh phúc biết chừng nào? Từ khi nhận biết sự hiện diện của Chúa lúc tôi còn trong dạ mẹ, chưa bao giờ tôi cảm thấy linh hồn tôi xúc động xao xuyến như thế này! Chắc hẳn bây giờ Chúa đã tới rồi hoặc Chúa đang ở gần tôi?”

Ơn soi sáng này nơi thánh Gioan Tẩy Giả được nối tiếp bằng thị kiến trong đó ngài thấy hết sức rõ ràng mầu nhiệm kết hợp Ngôi Lời Thiên Chúa với bản tính loài người và các mầu nhiệm khác của Ơn Cứu Chuộc. Được soi sáng, thánh Gioan Tẩy Giả đã nói những chứng ngôn mà Thánh Sử Gioan ghi trong Phúc Âm các việc xảy ra khi Chúa Cứu Thế ở trong sa mạc và sau đó, khi Chúa trở lại bờ sông Jordan. Thánh Sử kể lại một trong những lời chứng công khai khi các người Do Thái chất vấn ngài, và lần khác khi thánh Gioan Tẩy Giả kêu lên: “Kìa Chiên Thiên Chúa,” (Gioan 1:36). Mặc dầu thánh Gioan Tẩy Giả đã được chỉ dạy về các mầu nhiệm vô cùng cao cả này khi được lệnh đi rao giảng và làm phép rửa; tất cả các mầu nhiệm đó lại được cho ngài thấy cách rõ ràng đầy đủ hơn vào dịp này khi được báo cho biết Chúa Cứu Thế đang đi tới để chịu phép rửa.

Lúc đó Chúa Cứu Thế nhập chung với đám đông xin thánh Gioan Tẩy Giả làm phép rửa như mọi người khác. Thánh Gioan Tẩy Giả, biết Chúa Cứu Thế, đã quì xuống chân Chúa, lưỡng lự nói: “Lạy Chúa, tôi phải được Chúa rửa cho tôi mà sao Chúa lại xin tôi làm phép rửa cho Chúa?” Nhưng Chúa Cứu Thế trả lời: “Bây giờ hãy để vậy. Vì như thế chúng ta hoàn tất mọi thánh ý Thiên Chúa” (Mt 3:14-15)

 

 “Sau khi thánh Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Chúa Cứu Thế, các tầng trời mở ra, Chúa Thánh Thần trong hình chim bồ câu ngự xuống trên đầu Chúa Giêsu và Thiên Chúa Cha phán: ‘Đây là Con Yêu Dấu của Ta, Ta hài lòng vì Con’” (Mt 3:17). Nhiều người được ân thưởng nghe tiếng nói này, họ cũng thấy Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Cứu Thế. Đây là bằng chứng hiển nhiên nhất được ban để chứng tỏ Thiên Tính của Chúa Cứu Thế, và Thiên Chúa Cha nhìn nhận Chúa Cứu Thế là Con, cũng như về bản chất lời chứng nhận được Thiên Chúa Cha ban ra; hiển nhiên Chúa Cứu Thế được chứng minh là Thiên Chúa thực, đồng bản tính và trọn lành như Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa Cha muốn chính Ngài trước tiên xác nhận thiên tính của Chúa Cứu Thế. Một huyền nhiệm khác nữa trong lời Thiên Chúa Cha là khôi phục vinh dự của Thiên Chúa Con trước mắt nhân loại và là phần thưởng cho việc Thiên Chúa Con tự hạ mình nhận phép rửa, mặc dầu Chúa Cứu Thế hoàn toàn không vương mắc tội lỗi nào và không bao giờ có nơi Chúa sự vấp phạm tội lỗi (Dt 7:26).

Chúng tôi xin trở lại đề tài chính là những việc làm của Mẹ Maria. Ngay khi Con chí thánh chịu phép rửa, mặc dầu Mẹ được ơn soi sáng biết các việc Chúa Cứu Thế làm, các thiên thần hầu hạ Chúa Cứu Thế đã thông báo cho Mẹ biết mọi việc xảy ra ở sông Jordan (các thiên thần này là những vị mang huy hiệu tiêu biểu Khổ Hình Cứu Chuộc như được mô tả ở phần thứ nhất). Để mừng tất cả các mầu nhiệm này về việc Chúa Cứu Thế nhận Phép Rửa và việc công khai tuyên bố Thiên Tính của Chúa, Đức Hiền Mẫu Maria sáng tác nhiều ca vịnh mới chúc tụng tạ ân tuyệt vời dâng lên Thiên Chúa Tối Cao và Ngôi Lời Nhập Thể. Mẹ Maria bắt chước mọi hành động khiêm tốn và cầu nguyện của Chúa Kitô, Mẹ cũng thực hành nhiều hành động riêng để kết hợp với mọi việc Chúa làm. Với lòng yêu mến nồng nàn, Mẹ Maria cầu bầu cho nhân loại được phước lộc nhờ Nhiệm Tích Rửa Tội và xin cho Phép Rửa được ban khắp thế giới. Thêm vào với những lời cầu nguyện, ca vịnh tạ ân, Mẹ Maria xin các thiên thần giúp Mẹ ca tụng Con cực thánh vì đã hạ mình nhận Phép Rửa nơi tay một trong các thụ tạo.

Ngay sau khi nhận Phép Rửa, Chúa Cứu Thế đi từ sông Jordan vào sa mạc. Chỉ có các thiên thần hộ vệ, phục dịch và thờ lạy, hát ca chúc tụng Thiên Chúa vì những việc lúc này Chúa sắp sửa thi hành để cứu chuộc nhân loại. Chúa tới nơi đã chọn để ăn chay: một địa điểm trong sa mạc giữa những hốc đá trọc nhô ra cheo leo, nơi có cái hang khuất. Chúa dừng lại ở đây trong những ngày ăn chay (Mt 4:1). Với lòng khiêm nhượng thẳm sâu và trong tư thế sấp mình xuống đất mở đầu lời cầu nguyện như thường lệ, Chúa Giêsu chúc tụng, tạ ân Thiên Chúa Cha hằng hữu vì những kỳ công của Ngài và đã vui lòng ban cho Chúa Cứu Thế nơi ẩn dật này.

Chúa Cứu Thế kiên trì không ăn uống chút gì ròng rã bốn mươi ngày, dâng việc ăn chay lên Thiên Chúa Cha hằng hữu để đền bù những xáo trộn và tội lỗi mà nhân loại bị lôi cuốn vào vì tính tham lam ăn uống khiến phẩm giá trở nên hèn mạt, nhưng lại phổ thông đến độ tính tham lam ăn uống được đề cao. Để đảm đương chức vụ Nhà Giảng Thuyết, Thầy Dạy muôn đời, Đấng Trung Gian và Cứu Độ nhân loại trước mặt Thiên Chúa Cha, Chúa Cứu Thế đã chiến thắng mọi tật xấu, đền bù mọi tội lỗi nhân loại do thói xấu tham lam ăn uống bằng việc chính Chúa thi hành những thánh đức đối nghịch các tật xấu đó.

Một người cha trần gian đầy lòng yêu thương sẵn sàng hy sinh toàn thể sản nghiệp để tránh cho con cái khỏi những hình phạt khủng khiếp vì đại trọng tội chúng phạm. Cũng vậy, Người Cha và Bào Huynh yêu thương vô cùng của chúng ta là Chúa Giêsu Kitô, muốn trả hết nợ nần thay cho chúng ta. Để đền bù tội chúng ta kiêu ngạo, Chúa Giêsu hiến dâng lòng khiêm nhượng thẳm sâu. Để đền chuộc tội chúng ta tham lam, Chúa tự nguyện sống cuộc đời hoàn toàn khó nghèo. Để đền chuộc tội chúng ta mê đắm sắc dục, Chúa thực hành việc đền tội và khắc khổ. Tội chúng ta ghen ghét và tính nóng nảy giận dữ được Chúa đền bù bằng đức hiền lành và bác ái đối với kẻ thù. Chúa đền bù tội chúng ta lười biếng chểnh mảng bằng những khổ cực vất vả không ngừng. Chúa đền bù tội chúng ta lừa dối và ganh tị bằng lòng thực thà ngay thẳng chân thật dịu dàng trong việc giao tiếp đầy yêu thương. Bằng cách này, Chúa không ngừng làm nguôi lòng Đấng Phán Xét chí công và xin ơn tha thứ cho chúng ta, những đứa con cứng đầu hoang đàng. Không những Chúa Cứu Thế liên tiếp xin ơn tha thứ cho chúng ta, mà còn làm cho xứng đáng được hưởng những ân sủng và hồng ân mới, để chúng ta có thể làm cho mình xứng đáng ở với Chúa, được thấy Thiên Chúa Cha và hưởng gia nghiệp đời đời. Mặc dầu Chúa Giêsu có thể giành được cho chúng ta mọi ơn này bằng những việc làm tầm thường nhất của Chúa, nhưng Chúa không hành động như chúng ta. Chúa cho thấy tình yêu của Chúa bao la vô cùng, để chúng ta không thể chối tội bội bạc và trái tim chúng ta chai đá.

Ngay khi Mẹ Maria biết Chúa Cứu Thế đang trên đường tới sa mạc để hoàn thành thánh ý, Mẹ khóa các cửa nơi Mẹ ở, không để một ai biết sự hiện diện của Mẹ. Cuộc tĩnh tâm của Mẹ Maria trong suốt thời gian Chúa Giêsu ăn chay đã hết sức trọn vẹn, mọi người lối xóm đều nghĩ Mẹ đi với Con chí thánh. Mẹ Maria vào phòng cầu nguyện, ở trong đó suốt bốn mươi ngày đêm và cũng không ăn uống chút gì, y hệt như Chúa Cứu Thế thực hành ở sa mạc. Cả Chúa Cứu Thế và Mẹ Maria đều ăn chay nhiệm ngặt như nhau. Mẹ Maria thi hành theo Chúa mọi lời cầu nguyện, việc làm, mọi cử chỉ, không sót một điều nào; Mẹ Maria cũng thi hành các việc này đồng thời với Chúa. Mặc dù Chúa Giêsu hiện diện ở bên hoặc ở xa, Mẹ Maria biết những việc trong linh hồn Chúa Kitô, lúc này Mẹ thấy mọi cử động của thân xác Chúa qua thị kiến hoặc qua các thiên thần thông báo.

Do việc bắt chước Chúa Cứu Thế, Mẹ Maria cộng tác với Chúa trong mọi lời cầu nguyện, giành được cũng những chiến thắng vinh quang đối với các tính mê tật xấu. Mẹ Maria phụ giúp đền thay với tỉ lệ thích đáng các tội lỗi nhân loại do các tật xấu gây ra. Trong khi Chúa Cứu Thế giành cho chúng ta được hết sức nhiều ân sủng, đền trả cách dư dật mọi nợ nần tội lỗi chúng ta, Mẹ Maria rất thánh, với tư cách Đấng Đồng Công với Chúa Cứu Thế và Mẹ chúng ta, cho chúng ta sự cầu bầu nhân từ xót thương và trở nên Đấng Trung Gian trong phạm vi chức năng cao cả của Mẹ.

Chúa Kitô cho phép Lucifer lầm tưởng Chúa chỉ là một thụ tạo tuy nhiên tột đỉnh thánh thiện công chính. Chúa để cho Lucifer nổi lên lòng can đảm xảo quyệt trong cuộc thử thách, vì đó là ấn tượng về những ưu thế nó thấy trong các cuộc tấn công cám dỗ các nạn nhân của nó. Do lòng kiêu căng phách lối, Lucifer khởi đầu trận chiến trong hoang địa này bằng năng lực dũng mãnh hung hãn khủng khiếp hơn so với những thứ mà tất cả ma quỉ đã từng sử dụng trong các trận chiến chống lại loài người. Lucifer và các phản thần đồng bọn đã tận dụng mọi khả năng và mưu kế ác độc, đã trở thành hung hãn sôi sục chống lại sức mạnh siêu việt mà chúng sớm nhận ra nơi Chúa Kitô. Nhưng Chúa Cứu Thế đã kiềm chế mọi hành động của Lucifer bằng sự khôn ngoan và lòng nhân từ vô cùng; bằng cách chính trực kín đáo, Chúa giấu nguồn gốc nhiệm mầu mọi quyền năng vô cùng, chỉ cho thấy vừa đủ để chứng minh Chúa là một người đã tiến rất xa trong sự trọn lành đủ để giành được những chiến thắng vinh quang này chống lại các kẻ thù từ hỏa ngục. Để khởi đầu cuộc chiến đấu với tư cách một con người, Chúa Giêsu đã từ nơi thẳm sâu linh hồn dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu mà sự thông minh của ma quỉ không thể dò thấu: “Lạy Cha và Thiên Chúa hằng hữu của Con, lúc này Con lâm chiến với kẻ thù để đập tan quyền lực nó, hạ lòng kiêu ngạo và mưu kế quỉ quyệt của nó đối với các linh hồn yêu dấu của Con. Vì vinh danh Cha, vì mưu ích cho các linh hồn, Con chịu sự cám dỗ liều lĩnh của Lucifer. Con muốn từ đó đập nát đầu nó để nhân loại không mắc tội khi bị những cám dỗ của nó. Lạy Cha, Con tha thiết xin Cha nhớ trận chiến và chiến thắng khải hoàn của Con vì mưu ích cho nhân loại, những người bị kẻ thù chung tấn công. Xin Cha ban sức mạnh cho những kẻ yếu đuối qua chiến thắng của Con, xin cho họ được chiến thắng vinh quang. Xin Cha cho họ được can đảm nhờ gương sáng của Con, xin cho họ học ở Con cách chống trả và khắc phục kẻ thù của họ.”

Trong trận chiến này, các thiên thần phục dịch Chúa Kitô đã lánh mặt không cho Satan nhìn thấy, để nó không thể hiểu và nghi ngờ quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa Cứu Thế. Các thiên thần ngợi khen Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, Đấng hài lòng vì các kỳ công của Ngôi Lời Nhập Thể. Từ phòng cầu nguyện, Mẹ Maria cũng chứng kiến trận chiến như sau. Cuộc cám dỗ Chúa Kitô bắt đầu vào ngày thứ ba mươi lăm Chúa ăn chay trong sa mạc và kéo dài cho tới khi kết thúc bốn mươi ngày chay tịnh, như các Thánh Sử ghi trong Phúc Âm. Lucifer giả dạng một người đến với Chúa như một khách lạ chưa hề gặp hoặc biết Chúa bao giờ. Lucifer tự mặc cho mình trong ánh sáng rực rỡ, như một thiên thần, và phỏng đoán Chúa Giêsu sau những ngày ăn chay lâu dài như thế chắc phải đói lắm, nó nói với Chúa: “Nếu Ông là Con Thiên Chúa, hãy truyền cho những tảng đá này trở nên bánh” (Mt 4:4a). Lucifer tinh quái đưa ra giả thuyết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, nó cố gắng tìm kiếm chút dữ kiện về điều nó đang hết sức nghi ngờ. Nhưng Chúa Cứu Thế chỉ trả lời bằng vài tiếng: “Người ta sống không phải chỉ nhờ bánh, nhưng nhờ lời Thiên Chúa phán dạy” (Mt 4:4b).

Lucifer thấy nó bị đánh bại bởi sức mạnh của câu trả lời này và do quyền năng tiềm ẩn kèm theo những lời đó, nhưng nó không muốn tỏ ra yếu kém, cũng không rút lui khỏi cuộc tranh tài. Chúa Giêsu cho phép ma quỉ tiếp tục việc cám dỗ, và vì mục đích này Chúa để cho ma quỉ đưa thân xác Chúa lên Jerusalem, đặt trên nóc đền thờ. Tại đây Chúa có thể nhìn thấy rất đông người nhưng không một ai nhìn thấy Chúa. Lucifer cố gắng khích động trong lòng Chúa ý muốn hão huyền tự gieo mình từ nóc đền thờ cao xuống đất, để đám đông người ta, nhìn thấy Chúa không bị thương tổn gì, sẽ ca tụng Chúa là một vĩ nhân và kỳ diệu của Thiên Chúa. Lần nữa nó dùng lời Sách Thánh nói với Chúa: “Nếu Ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống, vì Sách Thánh có lời chép rằng Thiên Chúa sai thiên thần hộ vệ Ngài và nâng Ngài trên tay để chân Ngài không chạm phải đá” (Mt 4:6). Các thiên thần hộ vệ Vua của mình hết sức ngạc nhiên là Chúa, chỉ vì mưu ích cho nhân loại, đã cho phép Lucifer đưa thân xác Chúa trong tay nó. Chúa Sự Khôn Ngoan trả lời: “Lời Sách Thánh cũng nói: ngươi không được thử thách Thiên Chúa của ngươi” (Mt 4:7). Khi đáp bằng những lời này, Chúa Cứu Thế cho thấy sự hiền lành vô song, đức khiêm nhượng thẳm sâu nhất, sự uy nghi cao cả vượt trên hết mọi cám dỗ của Satan, và chỉ một đức khiêm nhượng đó đã đủ nghiền nát sự kiêu ngạo của Lucifer, gây cho nó những đau khổ giày vò xấu hổ nó chưa bao giờ cảm thấy.

Dù bị đánh bại nhục nhã như thế, Lucifer lại tấn công Chúa cách khác, nó tìm cách xúi giục tham vọng bằng cách hứa tặng một phần quyền lực của nó. Để đạt mục đích này, ma quỉ đưa Chúa lên đỉnh núi cao, từ đó có thể nhìn thấy nhiều nước, và nói với Chúa bằng lời táo bạo xảo trá: “Tôi sẽ cho Ông tất cả những thứ này nếu Ông quì xuống thờ lạy tôi” (Mt 4:9). Đức Vua và Thiên Chúa đã trả lời bằng giọng uy nghiêm cao cả: “Hãy xéo đi, Satan, vì lời Sách Thánh chép rằng: ngươi phải thờ phượng Thiên Chúa của ngươi, và ngươi phải phụng thờ một mình Thiên Chúa mà thôi” (Mt 4:10). Do lệnh truyền “Hãy xéo đi, Satan,” Chúa Kitô đã tước đi việc cho phép Lucifer cám dỗ Chúa thêm nữa, tống cổ Lucifer và toàn thể các đạo quân của nó xuống hoả ngục.

Chúa Kitô, Thiên Chúa Chiến Thắng, của chúng ta khi đó hát những lời chúc tụng tạ ân Thiên Chúa Cha hằng hữu vì đã ban cho Chúa chiến thắng này đối với kẻ thù chung của Thượng Đế và loài người; giữa muôn lời ca mừng chiến thắng của muôn vàn thiên thần, Chúa Giêsu được đưa trở lại sa mạc. Các thiên thần kiệu Chúa trên tay, mặc dầu Chúa không cần các thiên thần giúp đỡ, vì Chúa có thể dùng sức mạnh Thiên Tính của Chúa; các thiên thần dâng lên Chúa những phục dịch này để đền đáp việc Chúa chịu đựng sự cả gan táo bạo của Lucifer khi nó đưa nhân tính của Chúa Kitô, mà chính Thiên Tính đích thực thực sự ở trong đó, lên nóc đền thờ và lên đỉnh núi. Quá sức tưởng tượng, Thiên Chúa có thể cho phép ma quỉ việc như thế, nếu việc đó không được kể cho chúng ta biết trong Thánh Kinh (Mt 4:1-11).

Chúng ta trở lại Nazareth. Từ phòng cầu nguyện, Mẹ Maria chứng kiến những trận chiến đấu của Con cực thánh. Mẹ Maria chứng kiến tất cả những trận chiến này nhờ ánh sáng Thiên Chúa và do những tin tức không hề gián đoạn của các thiên thần thông tin qua lại giữa Chúa Cứu Thế và Đức Hiền Mẫu. Mẹ Maria lặp lại cũng chính những lời cầu nguyện và cùng một lúc như Chúa Cứu Thế! Mẹ Maria cũng nhập trận chiến tương tự chống lại Lucifer, mặc dầu có tính cách tinh thần.

Thầy chí thánh hướng những bước chân cương quyết nhất về phía sông Jordan, nơi thánh Gioan Tẩy Giả còn đang rao giảng và làm phép rửa. Do sự hiện diện của thánh Gioan tại đó, Chúa muốn qua miệng thánh Gioan đạt được lời chứng mới về sứ mệnh và Thiên Tính của Chúa. Hơn nữa, Chúa bị tình thương yêu thúc đẩy muốn gặp nói chuyện với thánh Gioan, vì trong khi Chúa chịu Phép Rửa, trái tim vị Tiền Hô đã bừng cháy và bị thương vì tình yêu của Thiên Tính Chúa Cứu Thế, tình yêu này lôi cuốn mọi thụ tạo quá sức mãnh liệt. Nơi những trái tim được chuẩn bị kỹ lưỡng, như trái tim thánh Gioan, lửa yêu mến bốc cháy hết sức mãnh liệt. Khi Vị Tẩy Giả thấy Chúa Cứu Thế đang đi tới phía ông lần thứ nhì, ông chỉ vào Chúa và nói những lời được Thánh Sử ghi: “Kìa Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian.” Thánh Gioan Tẩy Giả nói thêm: “Đây chính là Đấng mà tôi đã nói (về Ngài): Ngài đến sau tôi, nhưng trọng hơn tôi; vì Ngài có trước tôi. Tôi không biết Ngài; nhưng để tỏ rõ cho dân Do Thái nhận ra Ngài, mà tôi đến làm phép rửa bằng nước” (Gioan 1:29-31).

Hai môn đệ đầu tiên của Chúa Kitô lúc đó đang ở với thánh Gioan (Tẩy giả), xúc động khi nghe lời chứng này; nhờ ánh sáng ân sủng, hai ông bắt đầu theo Chúa Giêsu. Chúa nhân từ quay lại nhìn và hỏi hai ông tìm kiếm điều gì (Gioan 1:38). Hai ông đáp các ông muốn biết nơi Chúa ở. Chúa bảo hai ông đi theo. Hai ông ở với Chúa suốt ngày hôm đó như thánh Gioan kể. Thánh Gioan nói một trong hai ông là thánh Andrê, anh em của thánh Phêrô, nhưng không nói tới người kia. Nhưng tác giả được cho hiểu người đó chính là thánh Gioan, mà vì khiêm tốn, không muốn nói tên mình ra. Như thế hai ông này, thánh Gioan và Andrê, những trái đầu mùa sứ vụ tông đồ của thánh Gioan Tẩy Giả, là những môn đệ đầu tiên của Vị Tiền Hô theo Chúa Cứu Thế do kết quả chứng ngôn ngài đưa ra mà không do Chúa gọi công khai. Thánh Andrê lập tức đi tìm anh/em của ông là Simon và dẫn ông này đi theo, nói rằng ông (Andrê) đã tìm thấy Chúa Cứu Thế, Ngài xưng mình là Đấng Kitô. Nhìn ông Simon, Chúa nói: “Anh là Simon con ông Gioan: anh sẽ được gọi là Cephas, nghĩa là đá (Phêrô)” (Gioan 1:35-42).  Toàn thể việc này xảy ra trong ranh giới xứ Judea, và ngày hôm sau Chúa vào xứ Galilea. Tại đó Chúa gặp ông Philip và bảo ông theo Chúa. Ông Philip lập tức đi tìm ông Nathanael, dẫn ông này đến với Chúa Giêsu. Ông Philip kể lại cho ông Nathanael những việc đã xảy ra và nói các ông đã tìm được Chúa Cứu Thế nơi Đức Giêsu Nazareth. Ông Nathanael nói chuyện với Chúa như được ghi trong Chương Nhất, Phúc Âm thánh Gioan, trở thành môn đệ thứ năm theo Chúa Kitô (Gioan 1:43-51).

Cùng với năm môn đệ này, những khối đá đầu tiên nền tảng Giáo Hội mới, Đức Kitô đi vào xứ Galilea khởi đầu công việc rao giảng công khai và làm phép rửa (của Chúa). Chúa thắp lên trong lòng các Tông Đồ, từ giây phút các ông được kêu gọi theo Thầy chí thánh, ánh sáng mới và lửa yêu mến siêu nhiên, đổ tràn đầy tâm hồn các ông sự dịu ngọt ân sủng Chúa (Tv 20:4). Không thể nào mô tả đầy đủ những vất vả Thầy chí thánh phải chịu đựng trong việc linh hướng dạy dỗ năm môn đệ này và các môn đệ khác để xây dựng Giáo Hội trên các ông. Chúa tìm kiếm các tông đồ với lòng ân cần ưu tư lớn lao. Chúa thường thúc đẩy các ông tiến tới bằng sự giúp đỡ mãnh liệt đầy hiệu lực. Chúa soi sáng tâm hồn, làm phong phú trái tim các ông bằng những đặc ân và thánh sủng tuyệt vời. Chúa đón nhận các ông với lòng nhân từ. Chúa nuôi dưỡng các ông bằng sữa ngọt ngào nhất là các giáo lý, chịu đựng các ông với lòng kiên trì vô địch. Chúa vỗ về các ông như người cha hiền từ yêu thương săn sóc vỗ về con thơ vì bản chất nhân loại thấp hèn không quen với những hơi thở cao quí siêu việt của Thánh Linh. Không những các ông phải là môn đệ toàn hảo, mà còn phải là bậc thầy tột bực về sự trọn lành nơi trần thế và trong Giáo Hội, nên kỳ công biến đổi, nâng các ông từ bản chất tự nhiên thô kệch lên tới địa vị thiên đàng siêu nhiên nhờ các giáo huấn và gương sáng của Chúa, nhất thiết phải là cuộc đầu tư vĩ đại. Trong việc thực hiện kỳ công này, Chúa đã để gương sáng về lòng kiên trì, hiền lành, bác ái đáng ca ngợi cho tất cả các giáo chủ, các nhà lãnh đạo và bất cứ ai có trách nhiệm hướng dẫn người khác. Những bằng chứng lòng nhân từ Hiền Phụ của Chúa cũng không kém quan trọng đối với chúng ta. Chúa không chỉ bằng lòng với việc chịu đựng các lỗi lầm, bất toàn, những khuynh hướng và đam mê tự nhiên nơi các tông đồ, mà còn để cho lòng nhân từ hiền dịu của Chúa tuôn tràn quá sức lạ lùng đổ vào các ông, ngõ hầu chúng ta có thể được khuyến khích tin cậy ký thác (vào Chúa), để chúng ta không tự mình làm mất can đảm vì vô số bất toàn yếu đuối tự nhiên nơi bản chất trần thế chúng ta.

Mẹ Maria được thông báo việc Chúa Cứu Thế kêu gọi các Tông Đồ, các môn đệ và việc Chúa rao giảng công khai. Mẹ tạ ân Thiên Chúa Cha hằng hữu về những môn đệ đầu tiên này. Cũng như Con chí thánh, Mẹ chấp nhận các ông là con của Mẹ, dâng các ông lên Thiên Chúa Uy Linh. Trong dịp Chúa Cứu Thế tuyển chọn năm môn đệ đầu tiên, Mẹ Maria được Thiên Chúa Tối Cao ban những mạc khải mới, trong đó Mẹ lại được Chúa cho biết quyết định chí thánh hằng hữu liên quan đến Việc Cứu Chuộc nhân loại và cách thức việc đó phải được thực thi trong việc rao giảng của Con cực thánh.

Năm môn đệ xin Chúa Giêsu cho các ông được gặp và tôn kính Thánh Mẫu Chúa. Theo lời các ông xin, Chúa đi qua xứ Galilea trực chỉ Nazareth; dọc đường Chúa tiếp tục giảng dạy, xưng mình là Thầy dạy chân lý và lời hằng sống. Bị lôi cuốn bởi sức mạnh các lời Chúa dạy, được ánh sáng và ân sủng đổ tràn đầy trái tim, nhiều người theo Chúa; nhưng lúc này Chúa không kêu gọi thêm một môn đệ nào.

 Khi giong ruổi trên đường về Nazareth, Chúa Cứu Thế liên tục dạy dỗ các môn đệ: không những chỉ về các mầu nhiệm đức tin, mà còn về mọi thánh đức, cả bằng lời nói và gương sáng, như Chúa vẫn tiếp tục làm suốt thời kỳ Chúa rao giảng Phúc Âm. Để thực hành điều này, Chúa tìm kiếm người nghèo khó đau khổ, an ủi người bệnh tật đau buồn, thăm viếng người tật nguyền và người tù tội; vì lòng xót thương, Chúa làm nhiều phép lạ chữa lành thân xác cũng như linh hồn. Tới lúc này, Chúa vẫn chưa nhận mình là tác giả một phép lạ nào cho tới khi dự tiệc cưới Cana.

Khi Chúa Cứu Thế đang trên đường về Nazareth, Mẹ Maria chuẩn bị đón tiếp Chúa và các môn đệ. Mẹ biết mọi việc xảy ra, và với lòng hiếu khách, Mẹ dọn dẹp gọn gàng ngôi nhà nghèo nàn, lo chuẩn bị sẵn sàng thực phẩm cần thiết để tiếp đãi Chúa và các môn đệ. Chúa Giêsu, trong khi không có Mẹ Maria hiện diện, đã trút vào tâm trí các môn đệ lòng tôn kính đối với địa vị cao cả của Đức Hiền Mẫu rất thánh. Cũng vậy, Đức Hiền Mẫu Maria cực kỳ khôn ngoan và tôn kính, trước sự hiện diện của Con cực thánh, muốn chỉ dạy cho các môn đệ về sự tôn thờ đối với Thầy chí thánh, Đấng là Thiên Chúa và Chúa Cứu Thế. Với lòng khiêm nhượng thẳm sâu và tôn thờ khi Mẹ đón tiếp Chúa Cứu Thế, Mẹ Maria trút đầy tâm hồn các môn đệ lòng tận hiến yêu mến kính trọng, tôn thờ đối với Thầy chí thánh. Mẹ Maria phục dịch Chúa Cứu Thế và các môn đệ để làm gương sáng và mẫu mực cho việc yêu mến tận hiến đích thực. Mẹ tức thời nhận chức Sư Mẫu và Mẹ tinh thần các môn đệ Chúa Kitô bằng việc hướng dẫn các ông cách đối thoại với Thiên Chúa và Chúa Cứu Thế. Các ông bị lôi cuốn đến với Mẹ Maria, quì trước mặt Mẹ, xin được nhận là con và tôi tớ của Mẹ. Người đầu tiên làm việc này là thánh Gioan mà từ đó trở đi trội vượt trong việc xưng tụng tôn kính Mẹ Maria. Mẹ Maria đã nhận thánh Gioan với lòng yêu thương đặc biệt, vì ngoài sự trội vượt của thánh Gioan hơn các Tông Đồ khác ở đức trinh khiết, ngài còn hiền lành và khiêm nhượng.

Mẹ Maria đón tiếp tất cả như thượng khách, phục dịch cơm nước, hoà hợp sự ân cần của hiền mẫu với lòng khiêm nhượng và vẻ uy nghi của nữ vương. Mẹ Maria quì gối phục vụ bữa ăn của Chúa với lòng tôn kính sâu xa. Đồng thời Mẹ Maria nói với các Tông Đồ về bản tính Thiên Chúa và Chúa Cứu Thế, chỉ dạy các ông những giáo lý cao siêu của đức tin Kitô hữu. Đêm đó, khi các Tông Đồ đã nghỉ, Chúa Cứu Thế đích thân đến phòng cầu nguyện của Mẹ cực trinh khiết như Chúa vẫn thường làm, và Mẹ Maria, Đấng khiêm nhượng nhất trong các người khiêm nhượng, quì nơi chân Chúa như Mẹ vốn thường thực hiện suốt bao năm qua. Về phương diện thi hành đức khiêm nhượng, Mẹ Maria cho rằng tất cả những việc Mẹ có thể làm dường như vẫn còn quá ít, càng ít hơn so với đáng lẽ ra Mẹ phải làm nếu xét theo phương diện tình yêu vô cùng và những hồng ân bao la Mẹ nhận được từ tay Chúa. Mẹ Maria xưng mình vô dụng như bụi đất. Chúa Giêsu đỡ Mẹ đứng lên và nói với Mẹ những lời hằng sống và ơn cứu chuộc đời đời. Vì trong giai đoạn này Chúa Giêsu bắt đầu đối xử với Mẹ Maria hết sức dè dặt để cho Mẹ cơ hội lập công.

LỜI MẸ MARIA

 

Con của Mẹ, Mẹ thấy con ước nguyện hạnh phúc vĩ đại nơi các môn đệ Con chí thánh Mẹ, đặc biệt nơi thánh Gioan, môn đệ được quí mến nhất. Mẹ đặc biệt yêu mến thánh Gioan vì ngài ngay thẳng và trinh trắng như chim bồ câu; ngài rất đẹp lòng Chúa cả vì sự trinh khiết và vì lòng yêu mến đối với Mẹ. Phần con, gương thánh Gioan phải được dùng như động lực thúc đẩy con thi hành những điều Con của Mẹ và Mẹ trông chờ nơi con. Con yêu dấu, con biết Mẹ là Hiền Mẫu cực trinh khiết và Mẹ tiếp nhận với tình mẫu tử tất cả những ai nồng nàn tận hiến ước nguyện làm con, là môn đệ của Mẹ trong Chúa Kitô. Bằng tình yêu Chúa đã ban cho Mẹ, Mẹ ôm ấp tất cả mọi người đó trong vòng tay rộng mở, Mẹ là Đấng Bầu Cử, là Trạng Sư bào chữa cho họ. Sự nghèo nàn, vô dụng, yếu đuối của con sẽ chỉ là nguyên nhân cấp bách hơn để Mẹ tỏ cho thấy lòng nhân từ đại lượng vô bờ của Mẹ. Vì thế, Mẹ kêu gọi con trở nên ái nữ được tuyển chọn và yêu dấu của Mẹ trong Giáo Hội.

Tuy nhiên, Mẹ sẽ chỉ chu toàn lời Mẹ hứa tùy thuộc vào một phần vụ ở phía con nếu con tận lực bắt chước thánh Gioan cách trọn hảo: đó là con có lòng ganh đua yêu mến đích thực và thánh thiện mà vì lòng yêu mến đó Mẹ đã yêu thương thánh Gioan, và mọi hồng ân từ đó tuôn ra. Vì thế, con phải hứa chu toàn mọi điều Mẹ truyền cho con bây giờ, không được thiếu sót một điểm nào dù nhỏ nhặt nhất. Mẹ muốn con chịu vất vả cho tới khi mọi lòng tự ái chết hẳn trong con, khắc phục chế ngự mọi hiệu lực tội nguyên tổ cho tới khi mọi khuynh hướng trần thế do tội đó gây ra bị tiêu diệt hoàn toàn. Con phải tìm kiếm duy trì trong con lòng thành thực đơn sơ như chim bồ câu mà những đức tính này tiêu diệt mọi gian xảo lừa dối. Con phải là một thiên thần trong mọi việc con làm. Sự chiếu cố của Đấng Tối Cao đối với con quá sức vĩ đại đến độ ban cho con ánh sáng và sự thông minh hơn cả thiên thần và người ta. Mẹ đã xin được cho con những hồng ân vĩ đại này. Vì thế, thiệt là hợp tình hợp lý về phần Mẹ có thể trông chờ con đáp ứng những ân sủng đó bằng mọi hành động và tư tưởng của con. Đối với Mẹ, con phải liên tục nuôi dưỡng lòng trìu mến tha thiết ước ao làm vui lòng và phụng sự Mẹ, luôn luôn chăm chú lắng nghe những lời Mẹ khuyên dạy, luôn nhìn vào Mẹ để biết và thực hành những điều Mẹ dạy con. Như thế con sẽ là ái nữ đích thực của Mẹ, và Mẹ sẽ là Đấng Bảo Vệ và Hiền Mẫu của con.