PHẦN IV

CHƯƠNG 1

THÁNH GIUSE QUYẾT ĐỊNH RỜI XA HIỀN THÊ

Đức Maria cưu mang Con Thiên Chúa làm người đã tới tháng thứ năm khi đức phu quân Giuse trinh khiết bắt đầu nhận thấy hoàn cảnh của Người. Một hôm thánh Giuse thấy Đức Trinh Nữ từ trong phòng cầu nguyện bước ra, ngài thấy nơi Người sự thay đổi rất khác thường, không thể nào giải thích cho xuôi điều hiển nhiên trước mắt. Người của Chúa bị thương tận đáy lòng, linh hồn ngài bị thương tổn vì không thể gạt bỏ sự thực hiển nhiên. Lý do sự phiền sầu này là sự trinh khiết, tình yêu mãnh liệt tột độ và tuyệt đối trung thành mà ngay từ thuở ban đầu thánh nhân đã trao trọn vẹn cho hiền thê. Hơn nữa, vẻ duyên dáng diễm kiều và thánh thiện của Đức Maria cột chặt linh hồn thánh Giuse với hiền thê. Vì Đức Maria toàn hảo khôn ngoan thận trọng khiêm tốn nhu mì ít nói, nên ngoài sự lo lắng băn khoăn phục vụ Đức Maria, thánh Giuse tự nhiên nuôi ước vọng tình yêu của ngài được đáp ứng từ phía hiền thê. Điều này được Thiên Chúa an bài, để do lòng ước ao trao đổi tình yêu, thánh Giuse có thể được thúc đẩy phục vụ Đức Trinh Mẫu trung thành hơn.
Thánh Giuse không dính líu chút gì tới việc Đức Trinh Nữ mang thai, mà những kết quả việc đó hiển nhiên ở trước mắt ngài, không thể chối cãi; chắc chắn không thể tránh được sỉ nhục khi người ta biết việc này. Ý nghĩ này làm cho thánh Giuse lo lắng buồn phiền. Ngài biết mức độ sự thất sủng tủi hổ về phần mình và hiền thê yêu dấu trong hoàn cảnh mỗi người. Nỗi ưu tư đặc biệt sâu sắc trong lòng thánh Giuse khiến ngài đau đớn nhất là sợ phải nộp Đức Maria cho chức quyền để Người bị ném đá chết (Lêvi 20:10), vì đây là tội ngoại tình bị kết án tử. Thánh Giuse chìm trong lo âu đau đớn chẳng khác gì bị ngàn lưỡi gươm bén xuyên thấu, mà không có lấy một chỗ nào để ẩn tránh khác hơn lòng tín nhiệm hoàn toàn nơi hiền thê Maria. Cũng vì không dám hé răng tiết lộ sự đau trong lòng với một ai, ngài thấy mình bị bao vây bởi những đau buồn chết người (Tv 17:5), cảm thấy trong chính ngài lời Sách Thánh: “Lòng ghen tương thì khốn nạn hơn hỏa ngục” (Dc 8:6).
Giữa những lo lắng giày vò tâm trí này, thánh Giuse kêu cầu và đặt mình trước nhan thánh Chúa: “Lạy Thiên Chúa Tối Cao, Chúa biết hết mọi ước nguyện và những tiếng thở dài của con. Con thấy mình bị nhồi đập vì sự cuồng bạo từ những cơn sóng buồn phiền (Tv 31:10) đã làm đau đớn trái tim con. Con hoàn toàn tin cậy nơi hiền thê được Chúa ban cho con. Con hoàn toàn tin cậy sự thánh thiện của Người. Nhưng các dấu hiệu của sự thay đổi bất ngờ này nơi Người không ngừng dâng lên những hoài nghi đày đọa đáng sợ, e rằng lòng tín nhiệm của con bị đặt lầm chỗ. Cho tới giờ phút này con không thấy ở Người điều gì khả dĩ giải thích cho bất cứ điểm hoài nghi nào nơi lòng khiêm tốn và đặc biệt nhân đức của Người, đồng thời con không thể chối cãi được Maria đang mang thai. Chắc con chết vì phiền sầu, trừ phi có mầu nhiệm gì che giấu mà con không đo lường được. Lý trí cho rằng Người vô tội, trong khi đó tri giác lại kết án Người.
Người không nói nguyên do việc thai nghén, trong khi con thấy việc đó trước mắt. Con phải làm gì? Cả hai chúng con cùng thề hứa giữ Đức Trinh Khiết vì vinh danh Chúa. Giả dụ có thể Người đã vi phạm lòng trung thành đối với Chúa và với con, con sẽ bênh vực danh dự Chúa mà quên phần con vì yêu mến Chúa. Nhưng làm sao Người có thể giữ được sự trinh trắng thánh thiện nếu đã phạm đại trọng tội trong trường hợp này? Con hoãn lại sự xét đoán của con. Vì không thể thấu hiểu được nguyên do những gì con thấy, con trút hết linh hồn đau đớn của con trước nhan thánh Chúa (Tv 141:3). Lạy Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Jacob, xin Chúa nhận nước mắt con làm hiến lễ đáng được chấp nhận. Nếu tội lỗi con xứng đáng bị Chúa thịnh nộ, thì xin Chúa đại lượng nhân từ không khinh chê sự đau buồn dữ dội của con. Con không tin Maria yêu dấu đã xúc phạm đến Chúa. Dẫu vậy con lại càng không thể nào cho rằng có điều gì mầu nhiệm mà con, với tư cách là phu quân lại không được cho biết. Xin Chúa thống trị trí khôn và trái tim con bằng ánh sáng, để con có thể biết hầu chu toàn thánh ý.”
Thánh Giuse kiên trì cầu nguyện thiết tha hơn nữa. Ngài đoán chừng phải có điều gì mầu nhiệm trong việc thai nghén của Đức Maria mà giấu ngài, nhưng vẫn không thể tìm được chút gì bảo đảm. Ý nghĩ này không mạnh hơn để bào chữa cho Đức Maria so với những lý do dựa trên sự thánh thiện của Người. Vì thế, ý nghĩ Đức Maria có thể là Mẹ Chúa Cứu Thế đã không đến trong trí ngài. Đôi khi ngài xua đuổi những ức đoán đi, nhưng chúng trở lại bằng những con số đông hơn với chứng cớ hiển nhiên hùng hồn hơn. Vì thế, thánh Giuse bị nhồi đập giữa những cơn sóng hoài nghi dồn dập. Từ sự đuối sức cùng cực, đôi khi thánh Giuse rơi vào tình trạng rối vò không thể nào tìm được sự bình an cho trái tim, cũng không tìm được một tiêu chuẩn nào để căn cứ vào đó để có thể lèo lái cuộc sống. Dẫu vậy sự kiên trì chịu đựng dưới cái đọa đày này quá sức lớn lao, và là bằng chứng hiển nhiên của đức thận trọng cao cả thánh thiện của ngài. Điều đó làm cho ngài xứng đáng với hồng ân vô cùng cao cả duy nhất đang chờ đợi.
Đức Maria biết hết mọi diễn biến trong trái tim thánh Giuse, Người đi vào trái tim thánh Giuse bằng ánh sáng thần linh. Mặc dầu tâm hồn Đức Maria chan chứa yêu thương đau xót đối với những đau khổ của đức phu quân, Người không nói một lời nào về vấn đề đó; mà chỉ tiếp tục phục vụ thánh Giuse tận tình chu đáo. Người của Chúa không biểu lộ điều gì bề ngoài khi nhìn Đức Maria, nhưng nỗi lo âu của ngài lớn lao hơn tâm trạng như thế của tất cả mọi người đã từng sống trên đời. Việc thai nghén không nặng nề đau đớn gì đối với Đức Maria; nhưng vì Người phục vụ thánh Giuse tại bàn ăn hoặc việc nội trợ, hẳn không thể tránh để lộ tình trạng cơ thể ngày càng rõ. Với tâm hồn nặng đau đớn, thánh Giuse để ý tới những hành động cử chỉ của Đức Maria, ngài duyệt xét lại các ý kiến của mình. Mặc dầu thánh thiện công chính, thánh Giuse tự cho phép mình, do cuộc hôn nhân, được Đức Trinh Nữ kính trọng và phục vụ, được hưởng mọi điều xứng với địa vị gia trưởng và phu quân nhưng khiêm tốn thận trọng. Bao lâu còn chưa biết bí mật nơi hiền thê yêu dấu, thánh Giuse xét thấy đúng rằng cần phải biểu lộ quyền hạn trong phạm vi những giới hạn chính đáng, theo gương các thánh Tổ và Tiên Tri. Vì biết các thánh Tổ đòi hỏi các và vợ phục tòng tuyệt đối, ngài không muốn bỏ không theo gương các Tổ Phụ. Hẳn thánh Giuse đã hoàn toàn đúng trong việc này nếu Đức Maria cũng chỉ như những phụ nữ khác. Tuy nhiên không một phụ nữ nào đã hoặc sẽ sống, đã hoặc sẽ hết sức vâng lời, khiêm tốn tận tụy đối với chồng như Đức Maria đã cư xử với thánh phu quân. Đức Maria phục vụ thánh Giuse với lòng kính trọng ân cần. Mặc dầu biết các tư tưởng rối vò và nhận xét của phu quân về sự thai nghén của mình, Đức Maria không bỏ sót một săn sóc nào đối với ngài, Người cũng không cố giấu giếm hoặc biện giải tình trạng của mình.
Vì đức khôn ngoan và khiêm tốn đã không cho phép Đức Maria nghĩ đến mình, không thể tự mình làm sáng tỏ điều huyền nhiệm nơi Người. Mặc dầu lòng trắc ẩn yêu thương đối với phu quân làm cho Đức Maria lo lắng phải an ủi và làm cho ngài khuây khỏa, Người không làm điều đó bằng cách nói rõ về mình hoặc che giấu việc thai nghén. Người phục vụ đức phu quân bằng những biểu lộ tình yêu tận tụy hơn, ân cần hơn. Nhiều lần Đức Maria quì gối phục vụ cơm nước cho thánh Giuse. Việc này an ủi thánh Giuse đôi chút, nhưng cũng gây cho ngài sự phiền muộn mới. Vì do đó ngài chỉ nhìn thấy những động lực của tình yêu và kính trọng được gia tăng mà vẫn chưa biết chắc hiền thê của mình giả dối hoặc không. Đức Maria không ngừng cầu nguyện cho thánh phu quân, xin Đấng Tối Cao thương nhìn đến an ủi ngài; phần còn lại Người hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa.
Thánh Giuse không thể hoàn toàn giấu kín sự đau lòng dữ dội, thường tỏ ra tư lự bơ phờ. Đôi khi quên lãng vì ưu phiền, ngài đã nói với hiền thê thiên đàng bằng giọng hơi gay gắt, mà trước kia chưa bao giờ xảy ra. Đây là ảnh hưởng tự nhiên của sự đau đớn nơi trái tim ngài, chứ không do cảm giác tức giận hóa ra trả thù; vì ý nghĩ trả thù không bao giờ đến với thánh Giuse. Dẫu vậy, Đức Nữ Vương không bao giờ thiếu vẻ ngọt ngào, mà chỉ gia tăng nỗ lực làm nhẹ bớt tâm tư của thánh phu quân. Đức Trinh Nữ phục dịch ở bàn ăn, kéo ghế mời thánh Giuse ngồi, dâng thức ăn, nước uống. Nhưng nếu sau khi Đức Maria chu toàn tất cả những việc phục dịch này, thánh Giuse nài Đức Maria ngồi xuống, ngài lại càng tin hơn rằng Người đang mang thai.
Cho dù sự đau buồn của Đức Trinh Nữ vượt mọi giới hạn, nhưng khả năng của tâm hồn đại lượng nhân từ của Người còn cao cả hơn nhiều, nhờ đó có thể che giấu sự buồn phiền hoàn toàn hơn, và dành hết khả năng vào việc săn sóc yêu thương thánh phu quân Giuse. Tâm tư buồn phiền của Người chỉ làm tăng thêm việc tận tụy lo lắng cho sức khỏe và hạnh phúc của thánh Giuse. Vả lại, vì nguyên tắc hành động bất khả vi phạm của Đức Maria là phải thi hành mọi sự cách cẩn trọng hoàn hảo, Người tiếp tục không nói đến mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể vì không nhận được chỉ dạy nào về việc tiết lộ. Mặc dầu chỉ một mình Người có thể giải tỏa đức phu quân bằng một lời giải thích, Người giữ lại điều đó vì kính trọng và trung thành với bí tích của Vua trên trời (Tôbia 13:7). Đức Maria nói với thánh Giuse về sức khỏe của ngài, vì ngài bị suy nhược trầm trọng. Đức Trinh Nữ khuyên ngài nghỉ ngơi dưỡng sức, vì cần phải bồi dưỡng sức khỏe đã bị hao mòn để có thể phục vụ Chúa lâu dài.
Đức Maria buồn rầu vô hạn vì biết thánh Giuse quyết định rời bỏ Người, tự mình vắng mặt. Người nói với các thiên thần: “Hỡi các thiên thần đặc sứ của Đức Vua Tối Cao, Đấng nâng quí vị lên bậc diễm phúc, và do Ơn Quan Phòng nhân từ của Chúa, tháp tùng bảo vệ tôi, xin các thiên thần, quí bạn hữu của tôi, trình lên trước thánh nhan Chúa nhân từ những đau buồn của phu quân Giuse. Tôi nhờ các thiên thần khẩn khoản xin Thiên Chúa đoái nhìn và với tư cách Người Cha đích thực, xin Chúa an ủi Giuse. Và cả các thiên thần nữa, hằng hết lòng tận trung vâng lời Chúa, cũng xin nghe lời cầu nguyện của tôi, nhân danh Chúa, Đấng hằng hữu, mà tôi dâng cho Ngài thân xác loài người trong lòng tôi, tôi khẩn khoản xin các thiên thần đừng chần chờ, hãy giúp cho phu quân tôi bớt đau đớn nơi trái tim ngài, xua đuổi khỏi tâm trí ngài quyết định rời bỏ tôi.” Các thiên thần đã lập tức vâng lời, trút vào trái tim thánh Giuse nhiều tư tưởng tốt lành, lại thuyết phục ngài rằng hiền thê Maria của ngài thánh thiện hoàn toàn nhất, ngài không thể tin có điều gì sai trái nơi Người. Các thiên thần cũng nhắc thánh Giuse nhớ rằng Thiên Chúa quá sức cao siêu, không ai lường được các việc Chúa làm, các phán xét của Chúa bí ẩn vô cùng (Tv 33:19), Thiên Chúa luôn trung thành đối với những ai trông cậy Ngài, không bao giờ khinh miệt hoặc bỏ rơi những người đó trong mọi khổ não của họ.
Nhờ những soi dẫn thánh thiện này và nhiều chỉ dạy khác, tinh thần bối rối của thánh Giuse được tương đối lắng dịu, mặc dầu ngài không biết các điều đó từ đâu tới. Nhưng vì nguyên do nỗi lo âu không được dứt đi, chẳng mấy chốc ngài lại bị các tư tưởng đó giày vò. Vì không tìm được điều gì bảo đảm làm cho trái tim nguôi ngoai, ý định rút lui bỏ hiền thê lại xâm chiếm tâm trí ngài. Đức Maria biết điều này và kết luận là cần phải phá tan điều nguy hiểm này nên đã khẩn khoản hơn xin cách cứu chữa và cầu cứu Con cực thánh. Mẹ Maria cầu xin: “Lạy Chúa và Thiên Chúa linh hồn con, với điều Chúa cho phép, mặc dầu con chỉ là bụi tro (Stk 8:27), con sẽ nói trước thánh nhan Chúa và giãi bày những thở dài con không thể nào giấu Chúa được (Tv 37:19). Con không được bất cẩn trong việc giúp đỡ phu quân con đã nhận từ tay Chúa. Con thấy Giuse bị những khổ tâm áp đảo mà Chúa đã gởi tới cho người, con không thể nào nhẫn tâm để người trong hoàn cảnh đó. Nếu con được đẹp lòng Chúa, con tha thiết xin Chúa, lạy Thiên Chúa hằng hữu, vì tình yêu mà Chúa đến ngự trong lòng nữ tì của Chúa để cứu độ nhân loại, xin vui lòng an ủi tôi tớ Giuse của Chúa và sắp đặt cho nguời giúp đỡ con trong việc chu toàn các công trình vĩ đại của Chúa. Con, nữ tì của Chúa, rất cần có một đấng phu quân bảo vệ và giám hộ. Lạy Chúa và Thiên Chúa, xin đừng để Giuse thi hành quyết định rút lui khỏi đời con.”
Đấng Tối Cao đáp lời Đức Maria: “Người Yêu vô cùng dấu ái của Ta, ngay bây giờ Ta sẽ đến thăm và an ủi Giuse tôi tớ Ta. Sau khi Ta đã tỏ hiện cho Giuse, qua thiên thần, mầu nhiệm mà tới nay Giuse không biết, Người có thể nói cho Giuse biết tất cả mọi điều Ta đã làm cho Người, không cần phải giữ kín từ nay trở đi về các vấn đề này. Ta sẽ đổ tràn đầy Thần Linh Ta trên Giuse, cho Giuse đủ khả năng chu toàn phần mình trong các mầu nhiệm này, giúp đỡ Người trong các mầu nhiệm đó và trong tất cả mọi việc sẽ xảy ra.” Nhờ lời Thiên Chúa hứa, Đức Maria được khuây khỏa an ủi và dâng lời tạ ân nồng nàn.
Trong khi đó thánh Giuse lo lắng suy nghĩ về cách hành động sao cho chính đáng. Ngài đã mang nỗi thống khổ này ròng rã hai tháng rồi, và bây giờ, bị sức nặng lớn lao của nỗi khổ tâm chế ngự, ngài tự nhủ: “Tôi không thể tìm được cách nào tốt đẹp để thoát khỏi những khó khăn này hơn là tự tôi vắng mặt. Tôi thú nhận rằng hiền thê của tôi toàn hảo, không tỏ ra điều gì sai lỗi, trái lại Người hiển nhiên là một đấng thánh; nhưng Người mang thai mà tôi không thể đo lường được mầu nhiệm. Tôi không muốn làm tổn thương danh giá thánh thiện của Người bằng việc làm cho Người chịu hình phạt theo luật, đồng thời tôi không thể đứng bên và chứng kiến những hậu quả việc Người có thai. Bây giờ tôi rời xa Người, trao phó chính tôi cho sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng quản trị tôi.” Thánh Giuse quyết định ra đi đêm đó. Để chuẩn bị hành trình, ngài gói ghém vài y trang và các thứ lặt vặt. Ngài cũng đã đòi tiền công các dịch vụ đã làm, và đi ngủ với ý định ra đi lúc nửa đêm. Theo thói quen dâng mọi ý định lên Thiên Chúa, khi đã tới quyết định này, ngài nói với Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa tối cao hằng hữu của tổ phụ Abraham, Isaac và Jacob của chúng con, Chúa thực sự là nơi nương náu duy nhất cho kẻ nghèo khó đau khổ. Mọi nỗi buồn phiền khổ tâm của con đều quá rõ ràng đối với lòng nhân hậu Chúa. Lạy Chúa, Chúa cũng biết, mặc dầu con không xứng đáng, con vô tội vì những gì gây ra sự đau buồn của con, hơn nữa Chúa cũng biết sự bất hạnh ô nhục và nguy hiểm đem lại cho trường hợp hiền thê của con. Con không tin Người ngoại tình, vì con chỉ thấy ở Người nhân đức và hoàn toàn cao cả; nhưng rõ ràng con thấy Người đang mang thai. Con không biết do ai hoặc cách nào việc đó xảy ra, vì thế con không thể nào duy trì được bình an tâm hồn. Để chọn cái ít xấu nhất, con sẽ rút lui khỏi hiền thê của con, tìm một nơi mà không ai biết con và hoàn toàn ký thác thân con cho sự Quan Phòng của Chúa, con sẽ sống trọn đời ở sa mạc. Lạy Chúa và Thiên Chúa hằng hữu, xin đừng bỏ con, vì con chỉ ước nguyện làm vinh danh và phụng sự Chúa mà thôi.”
Thánh Giuse phủ phục dưới đất cầu nguyện và hứa lên đền thờ Jerusalem dâng một phần số tiền nhỏ mọn ngài dành cho cuộc hành trình, để xin Thiên Chúa gìn giữ hiền thê Maria của ngài khỏi mọi tai họa, giải thoát Người khỏi mọi bất hạnh. Sau khi cầu nguyện, thánh Giuse ngả mình ngủ một lát, định âm thầm ra đi lúc nửa đêm.

Nhờ lời Thiên Chúa hứa, Đức Maria được an tâm. Thiên Chúa Toàn Năng cho Đức Maria thấy mọi việc thánh Giuse chuẩn bị thi hành. Khi nghe lời thánh Giuse khấn hứa vì sự an toàn hạnh phúc của Người, nhìn thấy gói nhỏ và phần lương thực nghèo nàn ngài chuẩn bị cho cuộc hành trình, Đức Trinh Nữ lòng tràn đầy thương xót yêu mến và lại cầu xin cho ngài, tạ ân và chúc tụng Chúa vì ơn quan phòng hướng dẫn mọi hành động của nhân loại vượt trên khả năng hiểu biết của loài người. Thiên Chúa cao cả sắp đặt các biến cố như thế để cả Đức Maria và thánh Giuse được đưa tới đỉnh xa nhất của nỗi thống khổ bề trong nhưng đầy công phúc.
(Trong tiến trình này, lý do sau cùng luôn luôn là chính thánh ý Chúa, công chính, thánh thiện và trọn hảo. Tuy nhiên một vài lý do khác có thể được dùng để giải thích:

Lý do thứ nhất là thánh Giuse công chính khôn ngoan dè dặt cao độ, được tràn đầy ân sủng thiên đàng, có quan niệm hết sức cao về Đức Maria. Đức Maria, Đấng đầy ơn phúc, không cần phải làm cho thánh Giuse tin bằng những chứng cớ hùng hồn, đoan chắc với ngài về địa vị của Người và các mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể; vì nơi những trái tim ngay lành thì ơn soi sáng từ thiên đàng dễ dàng chiếu soi.
Lý do thứ hai là sự bối rối của thánh Giuse khởi đầu bằng tri giác, khi thấy hiền thê của mình mang thai. Đây chỉ là sự báo thù, vì các tri giác, đã bị lừa dối hoặc bị làm cho nghi ngờ, có thể là bị làm cho u mê hoặc bị ngăn chặn vì thiếu thị kiến siêu nhiên.

Lý do thứ ba có thể là thánh Giuse, mặc dầu không mắc tội gì, chịu ảnh hưởng sự đau khổ và các tri giác của ngài, có thể nói, đã bị làm chết đi, bị làm cho bất khả đối với trực giác bén nhạy và việc tiếp xúc của thiên thần. Vì thế thiệt là thích hợp, thiên thần thông báo sứ điệp này cho ngài khi các tri giác đã bị trì trệ ngưng hoạt động. Vì thế khi thánh nhân khôi phục được việc sử dụng đầy đủ các tri giác, tự mình tẩy sạch và sắp đặt bằng nhiều hành động nhân đức để đón nhận hoạt động của Ơn Chúa Thánh Thần, mà trước kia đã bị những bối rối làm cho hoàn toàn gián đoạn.)
Thánh Giuse thức dậy ý thức hoàn toàn rõ rệt rằng hiền thê của ngài đích thực là Mẹ Thiên Chúa (Mt 1:18-25). Hết sức vui mừng vì ơn hiểu biết cao cả này và niềm hạnh phúc khôn tả, thánh Giuse xúc động đau buồn vì những gì ngài đã làm. Với lòng khiêm tốn kính trọng và vui vẻ, thánh Giuse quì sấp mình xuống đất nồng nàn tạ ân Chúa. Ngài tạ ơn Chúa đã cho biết mầu nhiệm này và đã chọn ngài làm phu quân của Đức Maria, Đấng mà Thiên Chúa đã chọn làm Mẹ, mặc dù ngài không đáng là nô lệ của Người. Khi tuyên xưng, nhìn nhận và thi hành các việc nhân đức này, tinh thần thánh Giuse được bình yên, sẵn sàng đón nhận những hồng ân mới của Chúa Thánh Thần. Những hoài nghi lo âu trong vài tháng vừa qua đã xây dựng trong ngài nền móng kiên cố về Đức Khiêm Tốn cần thiết để “người được ký thác những mầu nhiệm cao cả vô cùng của Thiên Chúa”.
Hồi tưởng những sự việc trải qua là bài học ngài nhớ suốt đời. Thánh Giuse kết tội chỉ một mình ngài về tất cả mọi việc đã xảy ra và thốt lên: “Ôi hiền thê trên trời của tôi, Chim Bồ Câu hiền lành nhất của tôi, được Đấng Tối Cao chọn làm nơi Ngài ngự và là Mẹ Ngài, làm sao tên nô lệ bất xứng này dám hoài nghi lòng chung thủy của Người? Làm sao tấm thân tro bụi này dám để cho Người hầu hạ? Người là Nữ Vương trời đất, là Bà Chúa vũ trụ. Làm sao tôi còn chưa hôn đất nơi gót ngọc Người chạm vào? Tại sao tôi lại chưa lo lắng quì mà hầu hạ Người? Làm sao tôi dám ngước mắt lên trước sự hiện diện của Người và dám là bạn đồng hành với Người, hoặc mở miệng nói với Người? Lạy Chúa và Thiên Chúa của con, xin ban cho con hồng ân và sức mạnh để xin Người tha thứ; xin Người rủ lòng thương xót, không khinh miệt tên đầy tớ đau buồn vì lỗi của nó."
Thánh Giuse lúc này rời khỏi căn phòng nhỏ của ngài, quá sức sung sướng thấy mình thay đổi tình cảm từ lúc ngả lưng ngủ. Đức Maria luôn luôn giam mình trong phòng, thánh Giuse không muốn khuấy động sự chiêm niệm ngọt ngào của Người. Trong khi chờ đợi, “người của Thiên Chúa” mở cái gói nhỏ đã chuẩn bị, vừa mở vừa nhỏ lệ mà cảm giác hoàn toàn khác với lúc sửa soạn. Mắt đẫm hoan lệ, ngài tỏ lòng tôn kính đối với hiền thê thiên đàng yêu dấu bằng cách sắp xếp các căn phòng gọn gàng, lau chùi nền nhà đã được gót ngọc Đức Maria chạm tới. Thánh Giuse cũng làm nhiều việc lặt vặt khác trước kia vốn thường để cho Đức Maria làm. Thánh Giuse quyết định thay đổi hoàn toàn mối liên hệ đối với Đức Trinh Nữ, tự giành cho mình vị thế người nô bộc và dành cho Người địa vị Bà Chủ. Đức Maria thấy hết mọi điều xảy đến cho thánh Giuse, không một tư tưởng hoặc một cử chỉ nào của ngài thoát khỏi sự chú ý của Người. Khi tới giờ, thánh Giuse tới phòng Đức Maria, Người đang âu yếm chờ ngài.
Thánh Giuse, lúc này biết rõ mọi chuyện, đã chờ đợi cho tới khi hiền thê của ngài chiêm niệm xong. Tới giờ mà ngài biết, ngài mở cửa căn phòng khiêm tốn nơi Mẹ của Đức Vua thiên quốc ở. Vừa mới bước chân vào, thánh Giuse lập tức quì sụp xuống, nói bằng giọng kính cẩn sùng bái: “Thưa bà chủ và hiền thê của tôi, Hiền Mẫu đích thực của Ngôi Lời Hằng Sống, tôi đây là nô lệ quì phục nơi chân của lòng nhân từ độ lượng của Người, vì Chúa và Thiên Chúa, Đấng (mà) Người cưu mang trong dạ trinh khiết, xin Người tha thứ cho sự táo bạo liều lĩnh của tôi. Tôi biết chắc không một ý nghĩ nào của tôi giấu được sự khôn ngoan minh mẫn trên trời của Người. Tôi ý thức đã lầm lỗi hết sức lớn lao do lòng kiêu căng quyết định rời bỏ Người, sự vô lễ của tôi trong việc cư xử với Người cho tới lúc này như là kẻ bề dưới, thay vì tôi phải phục vụ Người là Mẹ Chúa và Thiên Chúa của tôi. Nhưng Người cũng hiểu tôi đã phạm những lỗi đó vì không biết, vì tôi không được biết các mầu nhiệm của Vua thiên đàng và địa vị cao cả của Người, mặc dầu tôi tôn kính nơi Người những hồng ân khác của Đấng Tối Cao. Thưa bà chủ, xin đừng khiển trách sự ngu đần của một thụ tạo thấp hèn như tôi, kẻ mà lúc này được chỉ dạy tường tận hơn. Tôi xin dâng hiến trái tim và toàn thể sinh mạng tôi để phục vụ giúp đỡ Người. Tôi sẽ không đứng dậy, trước khi chắc chắn được Người xót thương. Tôi cũng sẽ không đứng lên cho tới khi đã được Người tha thứ, được hảo ý của Người và được Người chúc lành.”
Nghe những lời khiêm nhượng của thánh Giuse, Đức Maria đã trải qua nhiều cảm nghĩ khác nhau. Với niềm vui yêu mến trong Chúa, Người thấy thánh Giuse được ký thác các mầu nhiệm Thiên Chúa cách khôn ngoan như thế nào, vì ngài nhìn nhận và tôn kính các mầu nhiệm với đức tin vững chắc và lòng khiêm tốn sâu thẳm. Đức Trinh Nữ hơi lúng túng vì thánh Giuse quyết định từ nay trở đi đối xử với Người cách kính trọng và tự hạ ám chỉ trong lời ngài. Đức Maria khiêm tốn e rằng do việc đổi mới này Người mất cơ hội vâng phục và hầu hạ đức phu quân. Như một người bất chợt thấy mình lâm nguy bị cướp mất đồ tế nhuyễn hoặc kho tàng quí giá, Đức Maria buồn rầu vì tư tưởng là thánh Giuse không còn coi Người là bề dưới phải vâng phục ngài trong mọi sự, vì lúc này ngài nhận ra nơi Người địa vị Mẹ Thiên Chúa.
Đức Trinh Nữ nâng phu quân thánh thiện đứng dậy và, mặc dầu thánh Giuse cố cản, Người quì phục xuống chân ngài, nói: “Thưa chủ nhân và phu quân của thiếp, chính thiếp phải xin phu quân tha thứ vì những đau buồn đắng cay thiếp đã gây ra; vì thế thiếp quì đây xin phu quân tha thứ, cũng xin phu quân quên đi những lo lắng, vì Thiên Chúa Tối Cao đã vui lòng đoái nhìn đến những ước vọng và đau buồn của thiếp.”
Đức Maria an ủi phu quân là việc chính đáng. Vì thế, không phải để bào chữa cho mình, Đức Trinh Nữ nói thêm: “Thiếp hằng ước ao, nhưng không thể tự mình cho phu quân biết một điều nào về bí tích nhiệm mầu ẩn náu trong mình thiếp do quyền phép Đấng Toàn Năng. Là nữ tì Thiên Chúa, thiếp có bổn phận phải chờ sự tỏ hiện thánh ý toàn hảo của Chúa. Không phải thiếp không kính trọng phu quân là chủ nhân của thiếp, mà thiếp đã nín thinh. Thiếp đã và sẽ luôn luôn là nữ tì trung tín, tha thiết đáp ứng những ước vọng thánh thiện và lòng yêu mến của phu quân. Từ đáy trái tim thiếp và nhân danh Chúa, Đấng thiếp cưu mang trong dạ, xin phu quân đừng thay đổi cách xưng hô nói chuyện, tiếp xúc. Thiên Chúa không làm cho thiếp trở thành Mẹ Ngài để được phục vụ và ra lệnh ở đời này, nhưng để là tôi tớ tất cả, là nô lệ tuân phục ý phu quân trong mọi sự. Thưa chủ nhân của thiếp, đây là bổn phận thiếp, nếu không như vậy, hẳn thiếp sẽ sống cuộc sống không vui vẻ mà tràn đầy đau buồn. Điều chính đáng là nếu phu quân cho thiếp cơ hội chu toàn bổn phận đó, vì Đấng Tối Cao đã sắp đặt như thế. Chúa đã ban cho thiếp sự bảo vệ giúp đỡ tận tình và sống an toàn dưới bóng sự ân cần lo lắng của phu quân, nhờ phu quân trợ giúp dưỡng nuôi Con của lòng thiếp, Đấng là Thiên Chúa và Chúa của chúng ta.” Thánh Giuse nâng Đức Trinh Nữ lên để bàn với Người về mọi điều cần thiết đối với mầu nhiệm này.
Được ơn soi sáng đặc biệt và muôn vàn ơn thánh, được hoàn toàn đổi mới trong tinh thần yêu mến sốt sắng, thánh Giuse nói: “Thưa Quí Nương, Người được chúc phúc hơn mọi phụ nữ, hạnh phúc và được sủng ái trước muôn dân và muôn thế hệ. Xin cho Đấng tạo thành trời đất được ca tụng đời đời. Từ ngai tòa cao sang, Chúa đã đoái nhìn đến Người và chọn làm nơi Chúa ngự, chỉ nơi một mình Người mà thôi các lời hứa xưa với các thánh Tổ Phụ và Tiên Tri đã được hoàn tất. Xin muôn thế hệ chúc tụng Thiên Chúa. Chúa không tỏ lộ danh Chúa nơi một ai khác như Ngài đã thực hiện nơi lòng khiêm tốn của Người. Phần tôi, kẻ hèn hạ nhất trong các sinh linh, trong tình thương chiếu cố, Chúa đã chọn tôi làm nô bộc của Người.” Trong những lời chúc tụng và cầu xin này, thánh Giuse được Chúa Thánh Thần soi sáng cùng cách như thánh Elisabeth, khi bà đáp lời Đức Maria chào. Ơn soi sáng và cảm hứng mà thánh phu quân nhận được đã hết sức thích hợp với địa vị và chức vụ của ngài. Nghe lời thánh Giuse, Đức Maria đã đáp lại bằng những lời trong kinh Magnificat, như trong cuộc viếng thăm thánh Elisabeth, và thêm nhiều ca khúc khác nữa. Đức Maria được bốc cháy trong ơn ngất trí, được cất lên khỏi mặt đất trong bầu ánh sáng bao phủ làm cho Người biến hình trong vinh quang.
Với thị kiến thiên đàng này, thánh Giuse ngỡ ngàng hoan hỉ khôn tả. Chưa bao giờ ngài thấy hiền thê tột đỉnh phước đức của ngài trong sự cao sang vinh quang lạ lùng tuyệt vời như thế. Lúc này thánh Giuse nhìn Đức Maria với sự hiểu biết đầy đủ rõ ràng vì toàn thể sự toàn vẹn trinh khiết của Đức Maria và mầu nhiệm về địa vị của Người đã tỏ hiện cho ngài tường tận. Thánh Giuse thấy và nhận ra nơi lòng dạ trinh khiết Đức Maria nhân tính của Thiên Nhi và sự kết hợp hai bản tính của Ngôi Lời. Với lòng khiêm tốn tôn kính thẳm sâu, thánh Giuse thờ lạy Ngôi Lời, nhận Ngài là Chúa Cứu Chuộc, tự hiến thân mình cho Thiên Chúa Cao Sang. Chúa đoái nhìn thánh Giuse cách nhân từ âu yếm đặc biệt khác với mọi người, vì Chúa chấp nhận ngài là Dưỡng Phụ và ban cho ngài tước hiệu đó.
Thánh Giuse đã không thẹn mà hết sức vui mừng vì niềm vui bất ngờ của việc tiết lộ mầu nhiệm đích thực liên quan đến hiền thê Maria. Trong trường hợp thứ nhất, thánh Giuse chứng tỏ sự thánh thiện của mình. Trong trường hợp thứ hai, ngài cho thấy mình xứng đáng với những đặc ân đó. Nếu Thiên Chúa không mở rộng trái tim thánh Giuse, hẳn ngài đã không thể nào tiếp nhận hoặc có thể sống để hưởng niềm vui trong tâm hồn. Trong mọi sự, thánh Giuse đã được canh tân và nâng lên cao, để có thể cư xử cách xứng đáng với Đức Maria, Đấng là Mẹ Thiên Chúa và là hiền thê của ngài; bảo vệ mầu nhiệm Nhập Thể và săn sóc Ngôi Lời làm người. Để thánh Giuse có thể xứng đáng hơn và nhìn nhận nhiều hơn nữa nhiệm vụ giúp đỡ Đức Maria, ngài được biết mọi đặc ân và thánh sủng ngài được ban cho đều nhờ hiền thê của ngài: những ơn trước ngày thành hôn, được tuyển chọn làm phu quân Đức Trinh Mẫu, và những ơn về sau.
Thánh Giuse ý thức Đức Maria cao cả đã hành động khôn ngoan cẩn thận thế nào đối với ngài, không phải chỉ trong việc phục dịch với lòng vâng phục hiền hoà khiêm nhượng sâu thẳm, mà cả trong việc an ủi khi đau khổ, xin cho ngài được ân sủng trợ giúp của Chúa Thánh Thần, trấn an và làm nhẹ bớt nỗi buồn phiền, chuẩn bị ngài lãnh nhận ảnh hưởng Thần Linh Thiên Chúa. Đức Maria đã là công cụ cho việc thánh hóa thánh Gioan Tẩy Giả và mẹ ngài, Người cũng là máng chuyên ân sủng dồi dào gấp bội cho thánh Giuse. Thánh Giuse, tốt phước và trung thành nhất, hiểu và tận lực tận sức tạ ân vì mọi điều này.
LỜI MẸ MARIA
Con của Mẹ, mục đích việc Mẹ tiết lộ cho con quá nhiều bí tích và mầu nhiệm, con đã viết về cả hai thứ đó và nhiều thứ khác nhưng không có khả năng làm sáng tỏ, là để con dùng Cuộc Đời Mẹ như tấm gương sáng cho nguyên tắc bất khả vi phạm cho các hành động của con. Tất cả những điều đó cần được ghi khắc trong trái tim con, Mẹ gợi lại trong trí khôn con các giáo huấn về cuộc sống đời đời, như thế Mẹ làm đúng bổn phận là Thầy của con. Con phải sẵn sàng tuân theo, chu toàn mọi lệnh truyền như một người học trò thiện chí và chuyên cần. Hãy lấy sự lo âu và cẩn thận của thánh phu quân Giuse của Mẹ, việc ngài phục tùng các lời chỉ dạy thánh thiêng, kính trọng ơn thiên đàng soi sáng, làm gương cho con. Chỉ vì trái tim thánh Giuse đã được sắp đặt và chuẩn bị kỹ càng để thực thi thánh ý Chúa, ngài đã được thay đổi và tái tạo hoàn toàn nhờ muôn vàn ân sủng dành cho nhiệm vụ được Đấng Tối Cao ủy thác. Vì thế, hãy để cho ý thức các lỗi lầm của con phục vụ con như nguyên cớ để qui phục với tất cả lòng khiêm nhượng đối với mọi việc Thiên Chúa làm, chứ không phải là cớ để rút lui không thi hành các điều Chúa muốn.
Mẹ muốn nhân dịp này cho con biết lời quở trách nghiêm khắc và sự phẫn nộ của Đấng Tối Cao đối với loài người, để, nhờ ơn Chúa, con có thể so sánh cách cư xử của nhân loại với lòng khiêm tốn hiền lành Mẹ đã dành cho thánh Giuse. Lý do lời quở trách này, Chúa và Mẹ phải đưa ra đối với loài nguời, là vì nhân loại tàn ác vô nhân đạo trong việc ngoan cố đối xử với nhau quá thiếu sót lòng khiêm nhượng và yêu thương. Trong trường hợp này người ta phạm ba tội, những tội này làm buồn lòng Thiên Chúa rất nhiều, làm cho Thiên Chúa Toàn Năng và Mẹ giữ lại rất nhiều lòng thương xót.
Tội thứ nhất là người ta biết mình cùng là con một Cha trên trời (Is. 64:8) mà cư xử với nhau như thù địch. Mọi người đều là công trình của Cha trên trời tạo dựng từ cùng một bản chất; được nuôi dưỡng và giữ cho sống cách bao dung do sự quan phòng của Chúa; được nuôi ăn cùng một bàn các Mầu Nhiệm Thánh, nhất là bằng chính Mình Máu Chúa. Thế mà người ta quên và khinh miệt mọi ơn ích này; tập trung mọi chú ý vào những việc trần thế tầm thường; tự khích động vô cớ, điên cuồng giận dữ; tạo ra bất hòa cãi cọ; nuôi lòng phỉ báng và ngôn từ hằn học, đôi khi lên tới độ trả thù vô nhân đạo ác độc nhất hoặc thù hằn không đội trời chung.
Thứ hai là, khi vì yếu đuối và thiếu hãm mình, bị ma quỉ cám dỗ, người ta thường sa ngã xích mích bất hòa, người ta không lập tức từ bỏ lỗi lầm, cũng không cố gắng làm hoà lại, như phải thi hành giữa anh em với nhau trước mặt vị quan toà công chính. Vì thế người ta chối bỏ Thiên Chúa là Cha nhân từ, bắt buộc Thiên Chúa trở thành quan toà nghiêm khắc đối với tội lỗi họ; không có tội nào thúc đẩy Chúa mau chóng thi hành phép công thẳng bằng tội thù hằn và khinh ghét.
Tội thứ ba là khi một người anh em đến làm hoà, thì người kể như bị xúc phạm không thèm chấp nhận người đến làm hòa, nhưng đòi hỏi sự đền bù lớn lao hơn số lượng, mà người đó biết rằng có thể được Thiên Chúa chấp nhận khi chính người đó dâng để đền bù phép công thẳng của Chúa. Tất cả mọi người đều ước ao Thiên Chúa, Đấng bị xúc phạm nặng nề vô cùng, nhận và tha thứ bất cứ khi nào họ đến với Chúa bằng lòng khiêm tốn thống hối. Trái lại, người ta chỉ là bụi tro, đòi trả thù anh em, không bằng lòng với phần đền bù mà Đấng Tối Cao sẵn sàng chấp nhận đối với tội lỗi của họ.
Trong tất cả mọi tội lỗi mà con cái Giáo Hội phạm, trước thánh nhan Thiên Chúa không có tội nào kinh khủng bằng tội nuôi hận thù. Con sẽ hiểu điều này nhờ ánh sáng thánh sủng và trong uy lực Lề Luật Chúa truyền dạy người ta phải tha thứ cho anh em mình, cho dù chúng đã xúc phạm tới bảy mươi lần bảy lần. Nếu người anh em phạm lỗi nhiều lần trong một ngày, ngay khi người phạm lỗi nói ân hận về điều đó, Thiên Chúa dạy chúng ta tha thứ bấy nhiêu lần mà không kể, không đếm số lần. Những người nào không sẵn sàng tha thứ, Thiên Chúa đe dọa hình phạt nặng nề nhất vì điều ô nhục chúng gây ra. Điều này có thể được gom lại từ những lời đe dọa chính Thiên Chúa phán: Khốn thay cho kẻ nào là nguyên cớ cho tội lỗi sinh ra và nó gây ra tội lỗi. Thà rằng nó rơi xuống đáy biển với cối đá buộc vào cổ còn hơn. Điều này được Chúa nói ra để cho thấy sự nguy hiểm của tội thù hằn, khinh ghét, và sự khó lòng được tha thứ khỏi tội đó, đến mức được so sánh với một người rơi xuống biển với cối đá cột vào cổ. Lời này cũng cho thấy hình phạt tội này là nơi tối tăm đau khổ đời đời (Mt 8:9). Vì thế, giới răn của Con Cực Thánh Mẹ là lời khuyên tốt lành cho các tín hữu, thà rằng họ để mắt bị móc đi, tay bị chặt đi, còn hơn để cho mình mắc phải trọng tội làm hư các trẻ nhỏ.


CHƯƠNG 2

CÁCH CƯ XỬ HÀNG NGÀY CỦA ĐỨC MARIA VÀ THÁNH PHU QUÂN GIUSE

Thánh Giuse, sau khi biết mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, đã có cảm nghĩ hết sức cao về Đức Maria. Thánh Giuse, vốn luôn thánh thiện toàn vẹn, nay được đổi thành con người mới. Ngài quyết định đối xử với Đức Maria theo nguyên tắc mới với lòng tôn kính lớn lao hơn. Theo thánh Giuse, việc này phù hợp với sự khôn ngoan cần phải có đối với hiền thê tuyệt vời của ngài. Do ơn Chúa, thánh Giuse nhận thức rõ ràng ngài chỉ là nô bộc và Đức Maria là Nữ Vương trời đất. Để thỏa lòng ao ước tôn kính Đức Maria theo địa vị Mẹ Thiên Chúa, mỗi khi thánh Giuse đi qua trước mặt hoặc nói chuyện với Người, ngài hết sức kính cẩn. Ngài không để Đức Maria phục vụ hầu hạ, hoặc phải làm bất cứ công việc khiêm nhượng nào như quét dọn nhà cửa, rửa chén bát. Vị phu quân tột đỉnh hạnh phúc ước muốn chính mình làm những việc này, để không làm giảm địa vị cao cả của Đức Maria.
Mẹ Maria xin thánh Giuse đừng quì trước mặt Người, vì mặc dù việc phụng thờ này phải dành cho Chúa, nhưng bao lâu Chúa còn ẩn dật đối mọi người, bề ngoài không thể phân biệt rõ ràng giữa Ngôi Vị của Chúa và ngôi vị Mẹ. Thánh Giuse thuận ý đáp ứng nguyện vọng của Đức Maria. Dẫu vậy một đôi lần, khi Đức Maria không nhìn, thánh Giuse tiếp tục thi hành việc thờ lạy này đối với Chúa nơi cung lòng Đức Maria, và cũng cả đối với Đấng là Mẹ Thiên Chúa, định rằng theo cách đó tôn kính cả hai thích nghi với sự tuyệt vời của mỗi Vị. Thánh Giuse cho rằng không chính đáng nếu để Đức Nữ Vương cao cả phải làm các việc trong nhà, nên ngài tìm cách làm xong trước mọi việc đó. Đức Maria cũng nhiệt thành muốn làm các việc nội trợ trước thánh Giuse. Thánh Giuse làm hết các việc này trong khi Đức Maria chiêm niệm cầu nguyện, không để cho Người thực hiện ước nguyện phục vụ ngài và chu toàn việc nội trợ, mà Người coi là thuộc bổn phận nữ nhi của mình. Đức Maria buồn vì việc này. Người hướng vào Chúa với những lời kêu than khiêm nhượng, xin Chúa truyền cho thánh Giuse không được cản trở Người thực hành đức khiêm nhượng. Đức khiêm tốn rất mạnh thế, có hiệu lực kỳ diệu trước ngai tòa Chúa, không lời cầu nguyện nào bị coi là nhỏ mọn nếu được dâng lên với lòng khiêm tốn. Chúa truyền cho thiên thần bản mệnh thánh Giuse nói cho ngài biết: “Đừng làm trở ngại các ước nguyện khiêm tốn của Đức Maria, Đấng siêu việt trên hết mọi thụ tạo trên trời dưới đất. Bề ngoài hãy để cho Người phục vụ Giuse và bề trong đối xử với Người theo lòng kính trọng cao cả nhất, thờ lạy Ngôi Lời Nhập Thể mọi nơi mọi lúc. Đây là thánh ý Chúa, cũng là mỹ ý của Đức Hiền Mẫu: phục vụ người khác chứ không phải được người khác phục vụ, để dạy cho trần gian bài học về cuộc đời và sự tuyệt vời của lòng khiêm tốn. Giuse có thể giúp đỡ Người trong một số công việc, nhưng luôn tôn kính Chúa muôn loài nơi lòng dạ Người.”
Được lệnh truyền của Đấng Tối Cao chỉ dạy, thánh Giuse nhường cho Công Chúa thiên đàng thực hành đức khiêm nhượng. Như thế cả hai vị có thể dâng lên Thiên Chúa ý nguyện của mình. Do việc thực hành đức khiêm nhượng thẳm sâu và vâng lời đức phu quân, Đức Maria chu toàn không sót một điểm nhỏ nhặt nhất của sự trọn lành. Vâng lời Đấng Toàn Năng, nhưng thánh Giuse đôi khi bối rối khi ngài thấy mình được hầu hạ phục vụ bởi Đấng mà ngài đã nhìn nhận là Bà Chúa của ngài và cả vũ trụ, là Mẹ Thiên Chúa, Đấng tạo dựng ngài.
Trong những chương tiếp, tác giả sẽ tận dụng khả năng hạn hẹp của mình kể lại một vài ngôn từ và đối thoại thiên đàng giữa Đức Maria và thánh Giuse. Ai có thể kể được những hiệu lực thành hình trong trái tim dịu hiền nhiệt thành của thánh Giuse khi ý thức rằng ngài được chọn làm phu quân của Đức Maria, Đấng là Mẹ đích thực Đấng tạo dựng ngài, được Người phục vụ như nữ tì khiêm tốn nhất; đồng thời ngài thấy Đức Maria được nâng lên trong sự thánh thiện, địa vị cao cả vượt trên các thiên thần sốt mến Seraphim thượng đẳng, chỉ dưới một mình Thiên Chúa? Nếu Thiên Chúa đã ban dư đầy ân sủng cho nhà Obededom vì Hòm Bia hình bóng thời Cựu Ước đã ở trong nhà đó một vài tháng (1 Par. 13:4), lẽ nào Chúa lại không ban thánh sủng cao quí dồi dào tột độ cho thánh Giuse, người mà Chúa đã ký thác Hòm Bia đích thực và chính Đấng Ban Luật Lệ ngự trong lòng dạ Người? Sự tốt phước và hạnh phúc của thánh Giuse khôn sánh! Không phải ngài chỉ có trong nhà mình Hòm Bia Sống đích thực của Tân Ước, mà Bàn Thờ, Của Lễ, và Đền Thờ, tất cả đều trao cho ngài trách nhiệm. Cũng vì ngài, người nô bộc trung thành, đã săn sóc những tột đỉnh quí báu này cách tận tụy đáng công (Mt 24:45), thánh Giuse được chính Thiên Chúa đặt trong nhà Ngài để cung cấp mọi sự cần thiết đúng lúc như một người quản lý trung thành nhất (Os. 14:20). Muôn thế hệ và muôn dân cần nhận biết và chúc tụng ngài, ca tụng công nghiệp của ngài, vì Đấng Tối Cao đã không ưu ái một người nào khác như thế.
Ngôi nhà khiêm tốn nhưng hồng phúc của Thánh Gia có ba phòng, các phòng này choán gần hết diện tích ngôi nhà, nơi cư ngụ riêng cho hai đấng phu thê. Các ngài không có nô bộc cũng không có nữ tì. Một phòng ngủ của thánh Giuse, một phòng chứa đồ đạc và dụng cụ thợ mộc. Đức Maria sử dụng phòng thứ ba, phòng này cũng là phòng ngủ của Người. Trong phòng của Đức Maria, có chiếc giường (trường kỷ) được chính thánh Giuse đóng. Đức Maria và thánh Giuse giữ cách xếp đặt này từ ngày đến nhà này. Trước kia thánh Giuse ít khi tới gặp Đức Maria; vì trong khi Người cầu nguyện chiêm niệm, ngài bận làm việc, trừ phi việc gì đó hết sức cần phải hỏi ý Người. Từ khi biết địa vị cao cả của Đức Maria và hạnh phúc cao cả của mình, thánh Giuse lo lắng nhiều hơn về phúc lợi của Đức Hiền Mẫu. Để canh tân niềm vui trong trái tim ngài, thánh Giuse thường tới nơi tĩnh tâm của Đức Nữ Vương thiên đàng, thăm hỏi và nhận những điều Người chỉ bảo. Ngài đến gặp Đức Maria luôn luôn với lòng khiêm tốn tôn kính e dè, trước khi nói với Đức Maria, ngài cẩn thận coi xem Người đang làm gì. Nhiều lần thánh Giuse thấy Đức Maria ngất trí được nâng lên khỏi đất, huy hoàng trong ánh sáng rực rỡ, hoặc đang nói chuyện với các thiên thần, những lần khác thánh Giuse thấy Đức Maria phủ phục trên đất theo hình thánh giá nói chuyện với Thiên Chúa. Đức phu quân tối ư hạnh phúc được chia sẻ các đặc ân này. Bất cứ khi nào ngài thấy Đức Trinh Mẫu trong những trường hợp này, ngài không làm gì hơn là nhìn ngắm Người với lòng tôn kính sâu thẳm. Nhờ đó đôi khi ngài được nghe một vài khúc nhạc thiên quốc du dương tuyệt vời, và hưởng hương thơm ngát kỳ diệu.
Chỉ có Đức Maria và thánh Giuse sinh sống trong nhà này. Công Chúa thiên đàng rất ít khi ra khỏi nhà, trừ trường hợp khẩn thiết để phụng thờ Thiên Chúa hoặc phục vụ giúp đỡ người khác. Bất cứ khi nào có điều gì cần thiết, Người hỏi một bà lối xóm tốt phước, bà này đã từng phục vụ thánh Giuse khi Đức Maria ở lại nhà thánh Zacharia. Người phụ nữ này được Đức Maria đền đáp rất trọng hậu: không phải chỉ một mình bà trở nên thánh thiện trọn lành, mà toàn thể mọi người trong nhà bà đều được chúc phúc nhờ sự giúp đỡ của Đức Maria. Bà này được Đức Maria viếng thăm trong một số lần bà bị bệnh và cả gia đình bà được làm cho phong phú ân sủng thiên đàng.
LỜI MẸ MARIA

Con của Mẹ, trong trường dạy đức khiêm nhượng, mà cả cuộc đời Mẹ là bài học cho con, Mẹ muốn con cẩn trọng chuyên cần. Đức khiêm tốn phải là điều chính yếu con lo lắng trước nhất. Nếu con muốn vui hưởng sự âu yếm ngọt ngào của Chúa, con phải cương quyết giành cho được lòng Chúa ưu ái, chiếm hữu kho tàng ánh sáng vốn bị giấu kín đối với những kẻ kiêu căng (Mt 11:25). Vì nếu không có nền tảng vững chắc của đức khiêm tốn, các kho tàng đó không được ký thác cho bất cứ ai. Tất cả hoài bão của con phải là tự hạ trong việc tự đánh giá con và tư tưởng của con, để trong các hành động bên ngoài con có thể thực sự phô bày đức khiêm tốn bề trong. Đây phải là đối tượng cho sự xấu hổ, là sức mạnh thúc đẩy để con và tất cả các linh hồn có Chúa là Cha và là Phu Quân thấy rằng tính tự phụ kiêu căng của sự khôn ngoan trần thế, nơi kẻ sùng mộ nó, mạnh sức hơn lòng khiêm tốn và biết mình đích thực nơi con cái sự sáng. Con hãy nhìn xem lòng khao khát ngưỡng vọng, việc học hỏi và lo lắng không mệt mỏi của những người cao vọng. Họ phấn đấu để được thế gian kính trọng, tranh đấu không bao giờ nghỉ, mặc dầu hết sức phù vân vô giá trị. Họ cư xử bề ngoài theo những ý niệm giả trá. Họ khoác lấy cho mình thứ mà không phải là họ, cố gắng qua mưu mô lừa dối này để giành được của cải, mà họ không xứng đáng mặc dầu những thứ đó chỉ thuộc về trần thế. Vì vậy, nguyên do sự bối rối xấu hổ đối với người lành là con cái ma quỉ đáp ứng các thúc giục của sự lừa dối mãnh liệt hơn những người được tuyển chọn đáp ứng các thúc đẩy của chân lý. Số người còn ở trần gian lo lắng tận lực phụng sự Thiên Chúa và Đấng Tạo Hóa thì quá ít so với con số những người phụng sự phù vân giả trá, vì kẻ được gọi thì nhiều mà người được chọn thì ít (Mt 20: 16).
 

CHƯƠNG 3

HÀNH TRÌNH ĐI BETHLEHEM

Thánh ý Đấng Quan Phòng ấn định Con Một Thiên Chúa Cha sinh ra tại Bethlehem (Mica 5:1), đã được các Thánh Tổ và Tiên Tri loan báo từ rất nhiều thế hệ trước (Jer. 10:9). Những quyết định do thánh ý tuyệt đối của Thiên Chúa bất khả ngộ, không thứ gì có thể chống lại (Est 13:9), trời đất không qua đi trước khi các điều đó được hoàn tất (Mt 24:35). Việc hoàn tất quyết định bất di dịch này được bảo đảm bằng chiếu chỉ hoàng đế Caesar Augustus ra lệnh kiểm tra dân số toàn đế quốc Lamã (Lc 2:1). Đế quốc Lamã gồm phần lớn các miền đất đã được biết đến trên thế giới thời đó, vì thế họ tự xưng là bá chủ cả thế giới. Mục đích việc kiểm tra dân số này là để mọi cư dân nhìn nhận và nộp thuế cho hoàng đế. Mọi người phải trở về nguyên quán ghi danh kiểm tra. Thánh Giuse nghe biết chiếu chỉ này khi ngài đi lo công việc. Lòng rụng rời lo âu, thánh Giuse trở về nói cho Đức Maria biết. Đức Trinh Nữ nói: “Xin chủ nhân và phu quân đừng lo lắng gì về lệnh vua trần thế, mọi việc xảy đến cho chúng ta đều do Chúa là Vua trời đất an bài; Đấng Quan Phòng sẽ phụ giúp, chỉ dẫn chúng ta trong mọi việc (Gv 22:28). Cứ phó thác cho Chúa, chúng ta sẽ không bị thất vọng.”
Được ký thác mọi mầu nhiệm của Con cực thánh, Đức Maria biết nội dung và việc hoàn thành các lời tiên tri: Con Một Thiên Chúa Cha và của Đức Trinh Nữ phải được sinh ra tại Bethlehem, như “người xa lạ,” như “kẻ vô danh.” Nhưng Đức Maria không nói gì về huyền nhiệm này cho thánh Giuse biết vì không được Thiên Chúa ủy thác. Đức Maria đã giữ kín tất cả mọi điều không được lệnh tiết lộ, mặc dầu Người ước ao an ủi phu quân Giuse. Đức Maria hoàn toàn phó thác cho thánh Giuse điều khiển sắp xếp mà không hành động như những người tự cho mình là giỏi giang, như lời Đấng Khôn Ngoan cảnh giác chúng ta (Cn 3:7). Đức Trinh Mẫu và thánh Giuse bàn thảo về cuộc hành trình. Việc thai nghén của Đức Maria đã trọng tháng và ngày sinh hạ đã gần kề. Thánh Giuse nói: “Thưa Nữ Vương trời đất và Bà Chủ của tôi, nếu Người không nhận được lệnh gì khác từ Đấng Toàn Năng, có lẽ tôi phải đi một mình. Nhưng, mặc dầu chiếu chỉ này chỉ nói đến các gia trưởng mà thôi, tôi không dám ra đi mà không có ai giúp đỡ Người. Tôi cũng không thể sống nếu vắng Người. Tôi cũng không thể nào có được lấy một phút an lòng nếu xa cách Người. Trái tim tôi không thể nào có được dẫu chỉ một chút thư thái nếu không nhìn thấy Người.”
Đức Maria và thánh Giuse quyết định ngày Thánh Gia lên đường. Thánh Giuse đi khắp thị trấn Nazareth cố gắng tìm một con lừa đỡ chân Đức Maria. Không dễ gì tìm được một con lừa vào lúc đó vì quá nhiều người đi khắp nơi để chu toàn nhiệm vụ theo chiếu chỉ nhà vua. Sau nhiều lo lắng tìm kiếm, thánh Giuse tìm được con lừa nhỏ ốm yếu. Nếu chúng ta có thể gọi những con vật như thế là tốt phước, con lừa nhỏ ốm yếu đó tốt phước nhất trong các con vật không có lý tính; không những vì nó được đặc quyền chở Đức Nữ Vương muôn loài và Con cực thánh của lòng Người, Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa (Is. 1:13); mà còn vì con lừa đó đã dâng lên Đấng Tạo Thành việc thờ lạy mà loài người từ chối dâng lên Ngài. Đức Maria và thánh Giuse chuẩn bị hành trang và thực phẩm cho cuộc hành trình năm ngày. Hành trang lần này của hai Vị Lữ Khách thiên đàng cũng như trong chuyến đi lần trước tới nhà ông Zacharia thăm viếng bà Elisabeth. Bánh, trái cây và vài con cá là những thứ thông thường cung cấp dinh dưỡng được mang theo. Đức Trinh Nữ đem theo khăn tã cần thiết cho việc Chúa Cứu Thế giáng sinh. Người muốn sắp đặt mọi thứ theo đúng thánh ý khôn lường của Thiên Chúa, chuẩn bị cho các biến cố Người biết phải xảy ra. Đức Maria và thánh Giuse giao nhà nhờ người lối xóm trông coi.
Đức Maria và thánh Giuse đã từ Nazareth đi Bethlehem, khó nghèo khiêm tốn trước mặt người đời. Nhưng Đức Mẹ và thánh Giuse không đi một mình, các ngài đem theo Kho Tàng Thiên Quốc là chính Thiên Chúa, vì thế được cả triều thần thiên đàng tôn kính. Mọi vật vô hồn nhận biết Hòm Bia Thánh sống động đích thực (Jos 3:16) mau lẹ hơn nước sông Jordan nhận biết Hòm Bia hình bóng, khi nước sông này mở lối cho Hòm Bia thánh và các người tháp tùng đi qua sông. Muôn vàn thiên thần được Thiên Chúa chỉ định phục vụ Đức Nữ Vương suốt hành trình. Thêm vào với đoàn hộ vệ này, nhiều thiên thần khác từ thiên đàng là sứ giả Thiên Chúa Cha hằng hữu đến với Con Một Chúa Cha làm người trong lòng Đức Maria; các thiên thần là sứ giả đưa thông điệp của Chúa Con và Đức Hiền Mẫu dâng lên Thiên Chúa Cha.
Tuy nhiên, cùng với các đặc ân và hân hoan này, Chúa Cứu Thế cũng chịu một số vất vả bất tiện mà Đức Hiền Mẫu rất thánh phải chịu trên đường. Sự tụ họp đông đảo người ta ở các quán trọ, do chiếu chỉ hoàng đế tạo ra, là điều hết sức khó chịu cho Đức Trinh Mẫu và thánh phu quân Giuse. Vì sự khó nghèo ẩn dật, các ngài bị đối đãi hững hờ, coi thường. Thế gian xét đoán, tỏ hảo ý theo bề ngoài, theo ảnh hưởng cá nhân. Đức Maria và thánh Giuse phải nghe đi nghe lại những lời sỉ nhục thậm tệ tại những quán trọ các ngài ghé lại sau cuộc hành trình dài mỏi mệt. Tại một số nơi các ngài bị từ chối không cho vào vì nghèo khó. Nhiều lần người ta để cho Đức Nữ Vương trời đất ở xó góc nào đó nơi hành lang. Tại nhiều nơi khác Người bị đối xử tệ hơn thế. Mẹ Maria và thánh Giuse phải dừng chân ở những nơi còn khiêm nhượng hơn nữa. Nhưng tại bất cứ nơi nào Đức Trinh Mẫu dừng chân, cho dù nơi đó bị coi là hết sức bần tiện, các thiên thần thiết lập cấm thành chung quanh Đức Vua và Đức Nữ Vương. Thánh Giuse thấy Đức Maria được bảo vệ cẩn thận như thế đã yên tâm nghỉ ngơi, mau mắn chìm vào giấc ngủ sau hành trình vất vả. Trong khi đó Đức Maria tiếp tục nói chuyện với các thiên thần.
Được giúp đỡ nhiều cách kỳ lạ như thế, các Vị Lữ Khách của chúng ta tới thị trấn Bethlehem lúc bốn giờ chiều ngày chót của hành trình năm ngày. Lúc đó là tiết đông chí, mặt trời đã lặn, màn đêm xuống. Đức Maria và thánh Giuse tới thị trấn, đi qua nhiều đường phố tìm một quán trọ hoặc chỗ trú qua đêm. Các Ngài gõ cửa những gia đình quen thuộc và thân nhân họ hàng; nhưng không được một nơi nào nhận cho tá túc, ở nhiều nơi các Ngài còn bị đón tiếp bằng những lời sỉ nhục tàn nhẫn. Đức Maria theo thánh phu quân qua các đám đông, đi hết nhà này đến nhà khác, hết cửa này qua cửa kia. Người biết trái tim và nhà của loài người đều đóng chặt đối với các ngài, nhưng lòng chai dạ đá của dân thành khiến Đức Maria đau lòng hơn việc các Ngài không tìm được nơi trú qua đêm. Đức Maria và thánh Giuse lang thang qua các đường phố, khi đi ngang nơi khai sổ nhân danh, các ngài đã ghé vào khai tên và nạp thuế theo đúng chiếu chỉ để khỏi phải trở lại lần nữa, rồi lại tiếp tục tới những nhà khác tìm kiếm chỗ trọ. Các thiên thần kinh ngạc trước những mầu nhiệm cao cả của Đấng Tối Cao, đức nhẫn nhục hiền lành của Đức Trinh Mẫu, và lòng chai đá không tình cảm của loài người. Đồng thời các ngài chúc tụng những công việc và mầu nhiệm của Đấng Toàn Năng, vì từ ngày đó trở đi Thiên Chúa bắt đầu tôn vinh đức khó nghèo khiêm tốn giữa loài người.
Lúc chín giờ đêm, thánh Giuse, lòng đau như cắt, trở lại nói với Đức Maria: “Thưa Bà Chủ hiền dịu của tôi, trái tim tôi vỡ ra vì buồn phiền vì không thể nào tìm được chỗ trú xứng đáng cho Người như tôi ao ước. Tôi không thể nào tìm được cho Người dù bất cứ chỗ che mưa nắng nào, hoặc một nơi nghỉ ngơi, một thứ mà hiếm khi hoặc không bao giờ từ chối đối với những người nghèo nàn bần tiện nhất trần gian. Không thể nào hoài nghi, Thiên Chúa che giấu mầu nhiệm gì đây, vì trong trường hợp như thế này để cho trái tim nhân loại quá sức tàn ác chai đá đến nỗi từ chối không cho chúng ta một chỗ nghỉ đêm. Thưa hiền thê, tôi nhớ phía ngoài thành có một cái hang dùng làm chỗ che mưa nắng cho mục đồng và bầy chiên của họ. Chúng ta hãy tìm cái hang đó; có lẽ bỏ trống, chúng ta hy vọng được thiên đàng giúp đỡ, vì chúng ta không nhận gì nơi người trần thế.” Đức Trinh Nữ nói: “Thưa phu quân và chủ nhân của thiếp, xin đừng để cho trái tim hiền hòa nhất mực của người đau khổ vì những ước ao mãnh liệt mà tình yêu Thiên Chúa thúc đẩy nơi người không chu toàn được. Vì thiếp cưu mang Thiên Chúa trong lòng, xin phu quân cùng thiếp tạ ân Chúa đã sắp đặt các biến cố theo cách này. Nơi phu quân nói đó sẽ là chỗ hài lòng nhất đối với thiếp. Xin hãy để cho những giọt lệ đau buồn của phu quân trở thành hoan lệ. Chúng ta hãy yêu mến ấp ủ sự khó nghèo là kho tàng quí giá khôn lường của Con chí thánh của thiếp. Chúa từ thiên đàng đến trần gian để tìm đức thanh bần, như thế chúng ta hãy dành cho Chúa cơ hội thực hành đức khó nghèo trong niềm vui linh hồn chúng ta. Nhất định thiếp không thể nào hoan hỉ hơn nếu phu quân tìm được nơi đó. Chúng ta hoan hỉ đi bất cứ nơi nào Chúa dẫn chúng ta tới.” Các thiên thần hộ vệ Thánh Gia, soi đường. Khi tới cổng thành các ngài thấy cái hang bỏ trống không ai ở. Đức Maria và thánh Giuse tạ ơn Chúa vì đặc ân này.
LỜI MẸ MARIA

Con yêu quí của Mẹ, nếu con có trái tim hiền lành ngoan ngoãn, thì các mầu nhiệm, mà con hiểu và viết ra, sẽ khơi lên trong lòng con những cảm giác ngọt ngào của tình yêu cảm mến đối với Đấng là Tác Giả các mầu nhiệm vĩ đại đó. Mẹ muốn con luôn nhớ các mầu nhiệm này trong trí khôn, từ nay trở đi với lòng quí mến cao cả ôm ấp việc bị người đời khinh bỉ thờ ơ. Con yêu dấu nhất của Mẹ, con hãy nói Mẹ nghe, nếu đổi việc bị người đời hững hờ và thóa mạ để được Thiên Chúa đoái nhìn với cặp mắt hiền dịu nhất, tại sao con không mua thứ quí giá vô cùng bằng giá quá rẻ? Thế gian có thể cho con điều gì, cho dù nó quí trọng và ca tụng con nhất? Không phải mọi ân huệ trần thế chỉ là hư ảo và lừa dối sao (Tv 4:3)? Không phải tất cả chỉ là ảo ảnh mau qua bồng bềnh và vuột khỏi tay những kẻ vội vã chạy theo nó sao? Vì thế, nếu con có mọi thứ ở đời này là của con, nhưng con từ bỏ, coi khinh nó không có giá trị gì thì đó là hành động lớn lao biết chừng nào? Hãy nghĩ xem con phải trả ít chừng nào trong việc từ bỏ mọi sự để đổi lấy tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu của Mẹ và lòng yêu thương của các thiên thần. Nếu thế gian không hững hờ với con đủ như con muốn, con hãy thi hành phần riêng con tự ý khinh chê nó, để giữ con tự do không bị cản trở trong việc hoàn toàn hiệp thông và vui hưởng Thiên Chúa Tối Cao trong chan hòa yêu thương hoan lạc nhất.
Con Cực Thánh Mẹ là Người Yêu trung thành nhất của các linh hồn, Ngài đã đặt Mẹ làm Thầy dạy, là gương sáng sống động về lòng yêu mến đức khiêm nhượng, thực sự khinh chê phù vân và kiêu căng trần thế. Chúa sắp đặt như thế vì vinh quang Chúa mà cũng vì Mẹ. Mẹ, là Nữ Tì và Mẹ Chúa, phải bị để cho không có chỗ trú ẩn, bị loài người xua đuổi, để từ đó về sau các linh hồn yêu thương của Chúa có thể được khuyên sẵn sàng khước từ việc người đời chào đón, để Chúa, bằng một tình yêu tuyệt vời, phải đến ở với họ. Chúa cũng tìm kiếm cảnh thiếu thốn thanh bần, không phải vì Chúa cần đến những thứ đó để đưa việc thực hành các nhân đức lên tới đỉnh trọn lành, nhưng để dạy loài người con đường ngắn chắc chắn nhất đạt tới đỉnh yêu thương thanh tịnh và kết hợp với Thiên Chúa.
Con yêu dấu nhất của Mẹ, con biết rõ rằng nhờ ơn Chúa con đã liên tiếp được chỉ dạy và khuyến khích quên đi mọi thứ hữu hình thuộc về trần gian để mặc lấy lòng can đảm (Cn 31:17), để nâng con lên bắt chước Mẹ. Con hãy tận lực sao chép lại trong con các việc làm và nhân đức mà con được biết về Cuộc Đời Mẹ. Đây chính là mục đích thứ nhất của kiến thức con nhận được khi viết lịch sử này. Con có gương mẫu tuyệt hảo ở Mẹ, nhờ gương mẫu đó con có thể sắp xếp việc sửa đổi và quản trị cuộc đời con theo cùng một cách Mẹ đã sắp xếp cho Mẹ do việc bắt chước Con vô cùng hiền dịu của Mẹ. Nếu sự e sợ xúi bẫy con rằng lệnh truyền phải bắt chước Mẹ là quá sức, con phải tự chế, phải tự khuyến khích bằng những lời Con chí thánh Mẹ nói trong Phúc Âm thánh Mátthêu: “Anh em phải trọn lành như Cha anh em ở trên trời là Đấng Trọn Lành” (Mt 5:48). Lệnh truyền này của Đấng Tối Cao đặt ra cho Giáo Hội không phải không thể chu toàn. Nếu các con cái trung thành của Chúa biết sắp xếp cách thích nghi, Chúa sẽ không từ chối một ai ân sủng đạt được sự nên giống như Cha trên trời. Con chí thánh Mẹ đã xin được những ơn này cho mọi người. Nhưng sự lãng quên lơ là suy đồi của loài người cản trở không làm cho các hoa trái Ơn Cứu Độ chín mùi trong họ.
Mẹ đặc biệt trông chờ sự trọn lành ở con. Mẹ mời con tiến tới trọn lành nhờ luật yêu thương ngọt ngào kèm theo lời Mẹ chỉ dạy. Nhờ ánh sáng siêu nhiên, con hãy suy xét cân nhắc cẩn thận bổn phận Mẹ đặt cho con và làm đúng bổn phận đó như một người con trung thành tận tụy. Đừng để bất cứ khó khăn hoặc vất vả nào làm xáo trộn con, hoặc ngăn cản con trong bất cứ việc thực hành nhân đức nào, cho dù việc đó khó khăn bao nhiêu chăng nữa. Con cũng đừng bằng lòng chỉ với việc phấn đấu đạt được tình yêu Chúa và cứu rỗi một mình con mà thôi. Nếu con được trọn lành trong việc bắt chước Mẹ chu toàn mọi điều Phúc Âm dạy, con phải làm việc cho phần rỗi các linh hồn khác, ca tụng thánh danh Thiên Chúa Con Mẹ, làm cho chính con trở nên dụng cụ của Chúa trong việc hoàn thành các công trình phi thường của Ngài để tăng thêm sự hài lòng và vinh quang Chúa.


CHƯƠNG 4

CHÚA KITÔ, ĐẤNG CỨU CHUỘC NHÂN LOẠI, GIÁNG SINH BỞI ĐỨC TRINH MẪU MARIA TẠI BETHLEHEM, XỨ JUDEA

Cung điện, được Vua Tối Cao trên hết các vua và Chúa trên hết các chúa chọn để đón mừng Con hằng hữu nhập thể, là một túp lều hoặc hang đá nghèo nàn hèn hạ. Đức Hiền Mẫu Maria và thánh Giuse tới hang đá này sau khi đã bị loài người từ chối mọi tiếp nhận cho tạm trú với lòng hảo tâm tối thiểu. Hang đá này hèn hạ đến độ khắp Bethlehem có vô số khách lạ thiếu chỗ trọ, nhưng không một ai tự hạ tới mức dùng làm chỗ trú đêm. Không một ai cho rằng nơi này thích hợp hoặc đáng dùng làm nơi tạm trú, ngoại trừ các Bậc Thầy đức khiêm tốn khó nghèo là Chúa Cứu Thế, Thánh Mẫu cực trinh khiết và thánh Dưỡng Phụ Giuse. Thiên Chúa Cha hằng hữu đã dành hang chiên bò này cho Chúa Cứu Thế và Đức Hiền Mẫu, thánh hoá nơi đó bằng sự trống không trơ trụi hoang vắng nghèo hèn để làm đền thờ thứ nhất của Ánh Sáng (Malaki 4:2, Tv 111:4), là cung điện cho Mặt Trời công chính đích thực, Mặt Trời từ nơi Bầu Trời Hừng Đông Maria mọc lên cho những tâm hồn ngay chính, biến đêm tội lỗi thành ngày ân sủng.
Khi bước vào nơi tạm trú được dành sẵn, do ánh sáng rực rỡ của muôn ngàn thiên thần hộ vệ, Đức Maria và thánh Giuse dễ dàng nhận thấy sự nghèo nàn quạnh hiu của hang đá, nhưng các ngài coi trọng như đặc ân, chào đón bằng những giọt lệ vui mừng an ủi. Không chần chờ, hai Vị Lữ Khách thánh thiện quì gối chúc tụng, cảm tạ Thiên Chúa vì ân huệ mà các ngài biết đã được dành cho mình do thánh ý khôn ngoan nhiệm mầu. Công Chúa Maria hiểu thấu đáo mầu nhiệm này hơn vì ngay khi thánh hóa phía trong hang bằng những bước chân, Người cảm thấy chan hòa vui mừng phấn khởi. Đức Maria xin Thiên Chúa chúc lành dồi dào cho mọi cư dân trong thành, vì từ chối không tiếp nhận Người, họ đã dành cho Người cơ hội hưởng những ân huệ vĩ đại được chờ đợi tại hang đá hoang vu này. Hang này toàn bằng đá sần sùi, một nơi chỉ dành làm chỗ trú cho súc vật; vậy mà Thiên Chúa Cha hằng hữu đã chọn làm nơi Con Một Ngài giáng sinh.
Các thiên thần hợp thành những đạo quân như các đoàn vệ sĩ bảo vệ Đức Nữ Vương. Các thiên thần cũng hiện rõ với thánh Giuse vì dịp này ngài xứng đáng được hưởng đặc ân đó. Một mặt, để làm dịu bớt nỗi đau buồn của ngài bằng cách để cho ngài thấy chỗ trú nghèo nàn này được trang hoàng bằng sự hiện diện của các thiên thần. Mặt khác, để tưởng lệ, chuẩn bị tinh thần thánh Giuse đón tiếp những biến cố vĩ đại vô cùng Thiên Chúa an bài xảy ra trong đêm nay tại hang đá trống vắng này. Đức Maria, được thông báo đầy đủ về mầu nhiệm xảy ra tại đây, đã khởi sự bằng chính tay Người dọn dẹp hang đá, mà chẳng mấy chốc nữa sẽ được dùng làm ngai tòa, là đền thờ Thiên Chúa. Đức Hiền Mẫu Maria không muốn lỡ dịp này thi hành đức khiêm nhượng, Mẹ cũng không muốn để Con Một vô cùng yêu dấu Mẹ không được thờ lạy tôn thờ ám chỉ trong việc chuẩn bị này là dọn dẹp đền thờ Chúa.
Thánh Giuse, ý thức địa vị cao cả của Đức Maria (đối với ngài thì dường như Người quên mất địa vị cao cả của mình trong việc nồng nàn ước ao được khiêm nhượng), đã nài nỉ Đức Maria đừng tước đoạt việc này, mà ngài coi là được dành riêng cho mình. Thánh Giuse mau mắn khởi sự lau chùi nền và các góc hang. Đức Maria khiêm nhượng tiếp tục phụ giúp ngài. Theo cách chúng ta nói, các thiên thần bối rối trước sự sốt sắng thi hành đức khiêm tốn của Đức Maria, nên đã mau mắn phụ giúp dọn dẹp hang đá. Chỉ trong nháy mắt các thiên thần đã lau chùi dọn dẹp hang đá gọn gàng và tỏa hương thơm thiên đàng ngào ngạt. Bằng những vật liệu đem theo, thánh Giuse nhóm lửa. Trời rất lạnh, Mẹ Maria và thánh Giuse ngồi sưởi bên đống lửa. Các ngài chia sẻ thực phẩm đem theo, dùng bữa tối thanh đạm với niềm hân hoan vô biên. Mẹ Maria hết sức ngây ngất khi nghĩ tới mầu nhiệm Chúa Cứu Thế Giáng Sinh sắp xảy ra, nên không muốn dùng thực phẩm nếu không bị thúc giục bởi đức vâng lời đối với thánh phu quân Giuse.
Bữa tối xong, Đức Maria và thánh Giuse tạ ơn Chúa như thường lệ. Sau khi cầu nguyện và chuyện vãn về các mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể một lát, Đức Trinh Mẫu cảm thấy gần tới giờ Chúa Cứu Thế giáng sinh, Người yêu cầu thánh Giuse đi nghỉ vì đêm đã khuya. Trước khi lui về nghỉ, với mền chiếu đem theo, thánh Giuse sửa soạn máng cỏ thành một thứ giường. Để Đức Maria ở phần hang được chuẩn bị như thế, thánh Giuse lui ra một góc ở gần cửa hang, ở đây ngài bắt đầu cầu nguyện. Lập tức thánh Giuse được Thần Linh Thiên Chúa viếng thăm, cảm thấy hết sức ngọt ngào khác thường, được bao bọc trong Thiên Chúa và được nâng lên ngất trí (= xuất thần). Trong khi ngất trí, thánh Giuse thấy tất cả mọi việc xảy ra trong đêm nay tại hang đá diễm phúc này cho tới khi Đức Hiền Mẫu Maria gọi, ngài mới tỉnh lại.
Đức Nữ Vương muôn loài, từ nơi đang nghỉ, được Thiên Chúa lớn tiếng gọi. Tiếng gọi đó đã mạnh mẽ mà dịu dàng nâng Người lên trên mọi thụ tạo và cảm thấy những ảnh hưởng mới của quyền năng Thiên Chúa. Đây là một trong những lần ngất trí lạ lùng nhất Mẹ được hưởng. Đức Maria lập tức được tràn đầy ơn soi sáng và ảnh hưởng siêu nhiên đặc biệt, cho tới khi nhìn rõ Thiên Chúa. Tấm màn rơi xuống và Đức Maria nhìn trực diện chính Thiên Chúa trong ánh sáng huy hoàng. Người được ơn khôn ngoan, mà mọi khả năng của cả loài người và các thiên thần không thể hiểu thấu đáo hoặc diễn tả đầy đủ. Tất cả sự hiểu biết về thiên tính và nhân tính của Con cực thánh, Đức Maria đã từng nhận được trong các thị kiến trước, đều được canh tân; hơn nữa các mầu nhiệm khác về mọi điều tích chứa vô tận trong lòng Thiên Chúa đều được tiết lộ cho Mẹ. Chúng tôi không có ngôn từ thích hợp đủ để diễn tả những gì được phép nhìn thấy trong các mầu nhiệm này nhờ ánh sáng siêu nhiên; sự phong phú và quá nhiều của các mầu nhiệm đó làm cho chúng tôi phải nhìn nhận mình nghèo nàn, thiếu khả năng diễn tả.
Đấng Tối Cao thông báo cho Đức Trinh Mẫu thời gian Chúa đến trong thế gian đã tới và cách thức việc này bây giờ phải được hoàn thành. Đức Trinh Mẫu nhìn thấy trong thị kiến này mục đích cùng giá trị cao cả vô cùng các mầu nhiệm lạ lùng liên quan đến chính Chúa Cứu Thế và toàn thể nhân loại, vì họ mà các mầu nhiệm này đã được ấn định từ thuở đời đời. Đức Maria sấp mình trước thánh nhan Thiên Chúa, chúc tụng tôn vinh, tạ ân, ca ngợi Chúa cho chính Người và thay cho mọi thụ tạo. Đồng thời Đức Maria xin Thiên Chúa ban ánh sáng và ân sủng mới để có thể xứng đáng đảm đương việc phục vụ, thờ lạy, nuôi dưỡng Ngôi Lời Nhập Thể, mà Người sẽ ẵm bồng, chăm sóc, nuôi dưỡng bằng sữa trinh khiết. Vì hiểu rõ tính chất cao cả của mầu nhiệm này, Đức Hiền Mẫu thiên đàng dâng lên lời cầu xin với lòng khiêm tốn sâu thẳm nhất. Đức Maria tự coi mình không xứng đáng với địa vị nuôi dưỡng, đối thoại như một hiền mẫu với Thiên Chúa nhập thể mà nhiệm vụ đó cho dù các thiên thần Seraphim cao cấp nhất cũng không đủ khả năng. Đức Hiền Mẫu khôn ngoan suy nghĩ cân nhắc vấn đề này cách thận trọng và khiêm nhượng. Vì Đức Maria hạ mình xuống tới bụi đất, nhìn nhận sự hư vô của mình trước thánh nhan Thiên Chúa Toàn Năng, Thiên Chúa đã nâng Người lên, tái xác nhận trên Người tước vị MẸ THIÊN CHÚA. Thiên Chúa truyền cho Đức Maria thi hành địa vị và chức vụ MẸ ĐÍCH THỰC VÀ HỢP PHÁP của CHÍNH CHÚA. Đức Maria sẽ phải đối xử với Ngôi Lời Nhập Thể là CON Thiên Chúa Cha hằng hữu, đồng thời là CON của lòng dạ Người.
Đức Trinh Mẫu Maria ở trong tình trạng ngây ngất thị kiến hạnh phúc này hơn một tiếng đồng hồ trước khi sinh hạ Thiên Chúa làm người. Khi ra khỏi thị kiến, phục hồi việc sử dụng giác quan, Đức Maria cảm thấy và nhìn thấy thân xác Thiên Nhi bắt đầu chuyển động trong dạ trinh khiết của Người để rời khỏi nơi Chúa đã cư ngụ chín tháng. Lúc này Hài Nhi Thiên Chúa chuẩn bị để ra khỏi Phòng Cưới Thánh. Việc chuyển động này chẳng những không gây ra một chút đau đớn hoặc khó chịu nào như nơi các con gái khác của Adong Evà khi sinh con, nhưng làm cho Đức Maria chìm ngụp trong niềm vui hoan hỉ khôn sánh, tạo ra trong linh hồn thân xác cực trinh khiết Mẹ những hiệu lực siêu nhiên lạ lùng vượt quá mọi tư tưởng loài người. Thân xác Đức Trinh Mẫu Maria trở nên hết sức tuyệt vời với vẻ đẹp thiên đàng đến mức dường như Mẹ không còn là người ta, không còn là thụ tạo ở trần thế nữa. Mặt Đức Maria tỏa hào quang tựa mặt trời, sắc da phơn phớt hồng, chiếu sáng trong vẻ trang trọng uy nghi khôn tả, mọi thứ đều bừng bừng lửa yêu mến nồng nàn. Đức Maria quì trong máng cỏ, mắt nhìn lên trời, hai tay chắp trước ngực, linh hồn đắm chìm trong Thiên Chúa và chính Người được hoàn toàn thần hoá.
Trong tư thế này, lúc nửa đêm, vào cuối thị kiến của Đức Maria, Mặt Trời Công Chính đã giáng sinh rực rỡ xinh đẹp tuyệt vời, Đấng là Con Một Thiên Chúa Cha hằng hữu và Con Đức Maria vô nhiễm nguyên tội cực trinh khiết. Đức Maria được bảo toàn nguyên vẹn tinh tuyền trong trắng, được làm cho giống Thiên Chúa hơn và thánh đến muôn đời; vì Chúa Giêsu đã không chia cắt, nhưng thấm qua cung lòng trinh khiết Đức Maria như những tia sáng mặt trời thấu qua pha lê tinh tuyền làm cho nó trở nên rực rỡ toàn diện. Chúa Hài Đồng đã ra khỏi lòng Mẹ Maria mà không bị cản trở bởi bất cứ thứ gì về thể xác và vật chất. Chúa tiến ra vinh quang sáng ngời. Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng đã ấn định rằng sự vinh quang linh hồn cực châu báu Chúa trong ngày Chúa giáng sinh sẽ thông cho thân xác cực thánh Chúa những vinh quang cùng cách như xảy ra về sau trong ngày Chúa hiển dung trước mặt ba Tông Đồ trên núi Tabor (Mt 17:2). Phép lạ này không cần thiết để thấu qua lòng Mẹ Maria và giữ cho sự trinh khiết của Mẹ nguyên vẹn không bị suy suyển; vì nếu không có phép lạ Biến Hình này, Thiên Chúa cũng đã làm cho việc này xảy ra bằng những phép lạ khác.
Chính thánh ý Chúa muốn Đức Trinh Mẫu nhìn xuống thân xác Con của Người, Thiên Chúa làm người, lần đầu tiên trong trạng thái được vinh quang vì hai lý do. Một là để qua thị kiến này Đức Hiền Mẫu nhận thức được lòng tôn kính cao cả nhất đối với sự Uy Nghi của Đấng mà Người phải đối xử là Con của mình, đích thực là Thiên Chúa làm người. Mặc dầu Đức Maria đã được cho biết về hai bản tính của Chúa Cứu Thế, Chúa định rằng do việc hiển lộ mà mắt thấy rõ ràng, Đức Trinh Mẫu được ban tràn đầy ân sủng xứng hợp với sự cao cả của Con cực thánh. Lý do thứ hai là để qua sự lạ lùng này thưởng công lòng trung tín thánh thiện của Mẹ Thiên Chúa. Cặp mắt trinh trắng của Mẹ, đã vì tình yêu đối với Con cực thánh mà tránh xa mọi thứ ở trần thế, phải được nhìn thấy Chúa ngay khi Giáng Sinh trong vinh quang này, để do đó được vui mừng, được thưởng công vì tình yêu thương tuyệt vời và trung thành.
Thánh sử Luca kể rằng Đức Trinh Mẫu, sau khi sinh Con Đầu Lòng, đã bọc Con cực thánh trong khăn và đặt trong máng cỏ. Hai Tổng Lãnh Thiên Thần Michael và Gabriel là phụ tá cho Đức Trinh Mẫu trong dịp này. Khi Ngôi Lời Nhập Thể, do quyền năng Thiên Chúa của mình, thấu qua lòng dạ trinh khiết của Đức Hiền Mẫu đã đến trong ánh sáng, hai Tổng Lãnh Thiên Thần đón rước Chúa trong tay các ngài với lòng tôn kính cao cả. Cùng một thể thức khi linh mục dâng Bánh Thánh lên để mọi người thờ lạy, hai Tổng Lãnh Thiên Thần đã dâng Thiên Chúa Con vinh hiển sáng chói lên Đức Hiền Mẫu Maria rất thánh. Toàn thể việc này xảy ra trong khoảng thời gian ngắn. Khi hai Tổng Lãnh Thiên Thần dâng Chúa Hài Đồng cho Đức Hiền Mẫu Maria, hai Mẹ Con nhìn nhau. Trong cái nhìn này, Đức Trinh Mẫu yêu mến Hài Nhi hiền dịu này đến chết được, đồng thời được nâng cao phẩm giá, biến dạng trong Chúa Hài Đồng. Từ tay các Tổng Lãnh Thiên Thần, Chúa các tầng trời nói với Đức Hiền Mẫu rất thánh: “Hỡi Mẹ, hãy nên giống Con, vì từ nay trở đi, do thân xác nhân loại Mẹ đã cho Con, Con sẽ cho Mẹ sự hiện hữu trong ân sủng đáng ca tụng hơn nữa, đồng hoá sự hiện hữu của Mẹ vốn chỉ là một thụ tạo nên giống sự hiện hữu của Con, Đấng là Thiên Chúa và là người ta.” Đức Hiền Mẫu cực khôn ngoan đáp lời: “Lạy Chúa, xin hãy nâng tôi dậy, hãy nâng tôi lên, tôi sẽ chạy theo Ngài vì mùi dầu thơm Ngài xức” (Dc 1:3). Cùng thể thức đó nhiều mầu nhiệm bí ẩn trong các Diệu Ca đã được hoàn tất.
Những lời Đức Hiền Mẫu Maria nghe từ miệng Con chí thánh cho Mẹ hiểu các hành động bên trong của linh hồn cực thánh Chúa Cứu Thế kết hợp với Thiên Tính, để do việc bắt chước các hành động đó Mẹ có thể nên giống Chúa. Đây là một trong những đặc ân cao cả nhất mà Đức Hiền Mẫu hạnh phúc cực kỳ trung tín nhận được từ Con cực thánh, Đấng là Thiên Chúa thực và người thực. Đặc ân này không những chỉ liên tiếp từ ngày đó cho tới hết cuộc đời Đức Trinh Mẫu, mà chính đặc ân đó cung cấp cho Mẹ phương tiện rập khuôn cuộc sống thiên tính của Ngôi Lời Nhập Thể cách trung tín có thể được đối với một thụ tạo. Cùng lúc đó Đức Maria thấy và cảm được sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh, Người nghe tiếng Thiên Chúa Cha hằng hữu phán: “Đây là Con Yêu Dấu của Ta, nơi Con, Ta rất hài lòng và hoan hỉ” (Mt 17:5). Đức Maria, đã được làm cho hoàn toàn giống Thiên Chúa, được đầy tràn hết sức nhiều bí tích, đáp lời: “Lạy Thiên Chúa Cha hằng hữu, là Thiên Chúa cao cả, là Chúa và là Đấng tạo thành vũ trụ, xin cho con lại được phép và chúc lành của Chúa để tiếp nhận trong cánh tay con Đấng muôn dân ước ao trông chờ (Agg. 2:8); xin dạy con chu toàn thánh ý Chúa trong tư cách một người mẹ bất xứng và nô lệ hèn hạ của Chúa.” Đức Hiền Mẫu nghe tiếng Thiên Chúa Cha: “Hãy nhận lấy Con Một Yêu Quí của Người, hãy nuôi dưỡng và bắt chước Chúa Con. Hãy nhớ Người phải hiến dâng Chúa Con khi nào Ta đòi hỏi việc đó ở Người.” Đức Hiền Mẫu thiên đàng đáp: “Xin Chúa hãy đoái nhìn thụ tạo của tay Chúa, xin trang điểm con bằng ân sủng Chúa để Con của Chúa và là Thiên Chúa của con nhận con là nô lệ; nếu Chúa giúp con bằng Quyền Năng Vô Biên, con sẽ trung thành phụng sự Con Chúa; xin Chúa đừng kể đến lòng tự phụ nơi thụ tạo hèn hạ này, vì nàng ẵm trong cánh tay, nuôi Chúa và Đấng Tạo Hóa bằng sữa của mình.”
Sau những lời trao đổi hết sức mầu nhiệm này, Chúa Hài Đồng ngưng phép lạ hiển dung. Chúa khởi sự một phép lạ khác là ngưng các hiệu lực vinh hiển trong thân xác cực châu báu, chỉ để các hiệu lực vinh hiển trong linh hồn và mặc lấy vẻ bề ngoài của một người có thể chịu đau khổ. Lúc này Đức Hiền Mẫu Maria nhìn Chúa Con dưới hình hài con người bình thường. Vẫn còn khiêm tốn thẳm sâu tôn kính quì thờ lạy Chúa, Đức Maria đón ẵm Chúa Hài Đồng từ tay hai Tổng Lãnh thiên thần. Khi ẵm Chúa trong tay, Đức Hiền Mẫu rất thánh nói với Chúa: “Tình Yêu ngọt ngào nhất của mẹ, Ánh Sáng mắt mẹ, Linh Hồn mẹ, Con đã đến thế gian này sớm giờ, như Mặt Trời Công Chính (Malaki 4:2), để xua đuổi bóng tối tội lỗi và sự chết! Lạy Thiên Chúa thực của các thần thánh, xin cứu các tôi tớ Chúa, cho muôn dân được nhìn thấy Chúa, Đấng đến cứu độ muôn dân (Is. 9:2). Xin Chúa nhận mẹ làm nữ tì của Chúa, làm nô lệ của Chúa, xin bù đắp sự thiếu thốn của mẹ, để mẹ có thể xứng đáng phụng sự Chúa. Con của mẹ, xin làm cho mẹ trở nên như Con muốn trong việc phụng sự Con.” Kế đó, Đức Hiền Mẫu ngước nhìn và dâng lên Thiên Chúa Cha: “Lạy Đấng Tạo Hóa cả vũ trụ đáng chúc tụng, đây là Bàn Thờ và Lễ Vật đáng chấp nhận trong mắt Chúa (Malaki 3:4). Từ giờ phút này trở đi, lạy Chúa, xin đoái nhìn nhân loại với lòng thương xót; vì chúng con đã đáng chịu cơn thịnh nộ của Chúa, bây giờ là lúc Chúa được làm cho khuây khỏa trong Con của Chúa và của con. Xin Chúa ngưng phép công thẳng, xin để cho lòng thương xót Chúa được tôn vinh; vì Ngôi Lời đã mặc lấy thân xác kẻ tội lỗi (Rom 8:3), trở nên Anh Em của loài người và những kẻ tội lỗi (Philip 2:7). Với tước vị này, con nhìn nhận tất cả những người đó là anh em, con cầu xin cho họ từ đáy linh hồn con. Lạy Chúa, mặc dầu con không xứng đáng, Chúa đã làm cho con nên mẹ của Con Một Chúa, địa vị này vượt trên mọi xứng đáng của một thụ tạo. Nhưng con cũng mắc nợ một phần đối với nhân loại vì cơ hội hạnh phúc tốt lành khôn sánh này; chính vì họ mà con là mẹ của Ngôi Lời làm người, Đấng là Chúa cứu chuộc cả loài người. Con sẽ không từ chối họ tình yêu của con; con sẽ ân cần lo lắng cho việc cứu chuộc họ. Lạy Thiên Chúa hằng hữu, xin Chúa nhận những ước nguyện và lời con cầu xin theo sự hài lòng và thánh ý Chúa.”
Đức Hiền Mẫu hay thương xót cũng nói với các thiên thần và mọi người trần thế: “Xin cho những người đau khổ được an ủi, người phiền muộn được vui mừng, người gục ngã chỗi dậy, những người bứt rứt lo âu được yên nghỉ. Xin cho các người công chính và các thánh vui mừng hoan hỉ; các thiên thần trên trời vui mừng; các thánh Tiên tri các thánh Tổ nơi lâm bô đón lấy niềm hy vọng mới; muôn thế hệ phải chúc tụng tôn vinh Chúa, Đấng canh tân mọi kỳ công của mình. Hỡi những người nghèo khó hãy đến; đến gần đây hỡi những người bé nhỏ, đừng sợ hãi chi cả, vì trong tay tôi, tôi bồng ẵm Sư Tử được làm cho trở nên Con Chiên, Đấng Toàn Năng trở nên yếu đuối, Đấng Vô Địch đã bị chinh phục. Mọi người hãy đến rút lấy sự sống, mau mắn đạt lấy Ơn Cứu Độ, đến để được an nghỉ đời đời, vì tôi có sẵn mọi thứ này cho tất cả mọi người, được ban cho mọi người cách 'nhưng không' và truyền thông với mọi người mà không đố kỵ. Đừng chậm chạp hững hờ, hỡi con cái loài người.”
Kế đó, Đức Trinh Mẫu nói với Chúa Hài Đồng: “Lạy Chúa, niềm vui ngọt ngào nhất linh hồn mẹ, xin cho mẹ được phép nhận từ Chúa nụ hôn mọi thụ tạo ước ao.” Với lời đó Đức Hiền Mẫu áp làn môi cực trinh khiết để nhận nụ hôn của Chúa Hài Đồng, mà về phần Chúa, vì là Con đích thực của Mẹ Maria, đã ao ước được Đức Hiền Mẫu rất thánh hôn.

Ẵm Chúa Hài Đồng trong tay, Mẹ Maria phụng sự như bàn thờ và thánh điện, nơi muôn ngàn thiên thần dưới hình người ta thờ lạy Đấng Tạo Thành nhập thể làm người. Thiên Chúa Ba Ngôi tham dự cách đặc biệt việc Ngôi Lời Giáng Sinh, thiên đàng hầu như không còn một ai, vì cả triều đình thiên đàng đã đến hang đá đáng chúc tụng của thành Bethlehem để thờ lạy Đấng tạo thành trời đất mặc lấy hình thể phàm nhân (Philip 2:7). Trong hợp tấu chúc tụng, các thiên thần hát ca khúc mới: “Vinh Danh Thiên Chúa trên các tầng trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2:14). Trong hoà âm dịu dàng vang dội, các thiên thần lặp lại ca khúc đó và sững sờ kinh ngạc trước những phép lạ mới được hoàn thành, vì sự khôn ngoan, vẻ kiều diễm, khiêm nhượng, sắc đẹp tuyệt vời khôn tả của Xuân Nữ mười lăm tuổi, Người đã trở nên Người Thụ Thác và Quản Lý những bí tích bao la cao cả như thế.
Bây giờ đã đến lúc gọi thánh Giuse, vị phu quân trung tín. Thánh Giuse hết sức xứng đáng được nhìn thấy trước mọi người khác, với mọi cảm quan thân xác, ngài được hiện diện và tham dự, thờ lạy tôn kính Ngôi Lời mặc thân xác loài người; vì ngài, duy nhất trong muôn người, đã được tuyển chọn làm người trung thành bảo vệ bí tích vĩ đại này. Do sự ước ao của Đức Hiền Mẫu Maria, thánh Giuse ra khỏi cơn ngất trí (xuất thần). Khi hồi tỉnh, mắt ngài nhìn thấy trước tiên là Chúa Hài Đồng trong tay Đức Trinh Mẫu, đang nằm áp vào mặt và tựa vào ngực thánh Mẹ. Thánh Giuse thờ lạy Chúa Hài Đồng với lòng khiêm tốn nhất, mắt đẫm hoan lệ. Thánh Giuse hôn chân Chúa Hài Đồng với niềm vui mừng kính trọng sâu thẳm, đến mức chắc là ngài đã chết hoặc mất đi hoàn toàn việc sử dụng các giác quan nếu quyền năng Thiên Chúa không bảo vệ. Khi thánh Giuse thờ lạy Chúa Hài Đồng, Mẹ Maria xin phép Con Cực Thánh để đứng lên.
Sau khi đã bọc Chúa Hài Đồng trong khăn, Đức Hiền Mẫu rất thánh đặt Chúa trong máng cỏ, như thánh Luca kể lại (Lc 2:7). Do thánh ý Chúa, một con bò đực từ cánh đồng lân cận vội vàng chạy vào trong hang. Mẹ Maria ra lệnh cho con bò này và con lừa đã đỡ chân Mẹ từ Nazareth tới đây, bằng cử chỉ tỏ lòng tôn kính thích hợp có thể được, nhận biết và thờ lạy Đấng tạo dựng chúng. Hai con vật khiêm tốn, vâng lệnh Đức Nữ Vương, quì phục thở hơi sưởi ấm Chúa Hài Đồng, dâng lên Chúa việc phụng thờ mà loài người từ chối. Như thế Thiên Chúa Làm Người được đặt nằm giữa hai con vật, bọc trong khăn và hoàn tất cách kỳ lạ lời tiên tri: “con bò biết chủ của nó, con lừa biết máng cỏ của chủ nó; nhưng dân Israel không nhận biết Ta, dân Ta không hiểu” (Is. 13).
LỜI MẸ MARIA

Con của Mẹ, nếu loài người giữ trái tim thanh thản và suy nghĩ cách ngay thẳng chính đáng về lòng nhân từ của Đấng Tối Cao đối với họ, thì điều này là phương tiện hữu hiệu mạnh mẽ hướng dẫn người ta trong cuộc sống, khiến họ qui phục tình yêu của Đấng tạo dựng và cứu độ họ. Nếu người ta dùng khả năng suy nghĩ và sự tự do mà tôn kính đối xử thích đáng với nhiệm tích vĩ đại này, hỏi ai có thể quá sức cứng cỏi không cảm động mềm lòng khi thấy Thiên Chúa của họ trở nên người trần gian, bị sỉ nhục trong sự nghèo hèn, bị khinh miệt, ẩn dật vô danh, sinh xuống trần gian trong hang bò lừa, nằm trong máng cỏ, được những thú vật vây quanh, chỉ được bảo vệ bởi một bà mẹ nghèo nàn, bị loài người kiêu căng điên khùng xua đuổi? Ai dám yêu những thứ phù du và kiêu căng, điều bị Chúa Tể Tạo Thành trời đất khinh ghét và kết án? Không ai dám khinh chê sự khiêm nhượng nghèo hèn cần cù mà Thiên Chúa yêu thích đã tự chọn cho Mình làm chính phương tiện giảng dạy đường tới phần rỗi đời đời. Một số người bỏ không suy nghĩ về chân lý và gương sáng này, mà vì bội bạc khốn nạn, chỉ có ít người gặt hái được hoa trái của những huyền nhiệm cao siêu này.
Nếu sự hạ cố của Con cực thánh Mẹ quá sức vĩ đại khi Chúa rộng lượng ban cho con ơn soi sáng và hiểu biết liên quan đến những hồng ân bao la này, con hãy suy xét cẩn thận: con có bổn phận phải cộng tác với ơn soi sáng này thế nào. Để con có thể đáp ứng đòi hỏi này, Mẹ nhắc và khuyến khích con quên đi mọi thứ thuộc về thế gian, gạt chúng ra khỏi ánh mắt; không tìm kiếm thứ gì, không dính líu đến một thứ gì ngoài những thứ có thể giúp rút con ra, tách con khỏi thế gian và những kẻ ở trong đó. Để với trái tim không vương mắc một chút lưu luyến trần tục, con tôn vinh các mầu nhiệm đức khó nghèo khiêm tốn và yêu thương của Ngôi Lời Nhập Thể. Con hãy học ở Mẹ lòng tôn thờ kính úy mà theo đó con phải cư xử với Chúa. Con hãy nhớ Mẹ đã hành động thế nào khi bồng ẵm Chúa. Hãy theo gương Mẹ bất cứ khi nào con rước vào lòng con Chúa trong Phép Thánh Thể đáng tôn thờ, mà trong Phép Thánh Thể cũng chính là Thiên Chúa làm người, Đấng đã do lòng Mẹ sinh ra. Trong Phép Thánh Thể, con rước Chúa và chiếm hữu Chúa cách đích thực, Chúa ở lại trong con đích thực, như Mẹ đã chiếm hữu Chúa và nói chuyện với Chúa, mặc dầu theo cách khác.
Mẹ ước ao con đạt tới cực điểm trong việc tôn thờ kính úy này. Mẹ ước ao con chú ý và tin rằng khi Chúa trong Phép Thánh Thể ngự vào lòng con, Thiên Chúa khuyến khích con cũng bằng những lời Chúa nói với Mẹ mà con đã ghi: “Hãy nên giống như Cha”. Việc Chúa từ trời xuống thế, sinh ra, sống và chết khiêm tốn khó nghèo, là gương sáng đặc biệt hiếm có về bỉ ổi trần thế và những lừa dối của nó. Tất cả những thứ này phải là những tiếng nói sống động con phải nghe theo, phải ghi khắc trong tim. Tất cả những đặc ân này được ban cho con để con khôn ngoan tận dụng các ơn thông thường, để con hiểu phải biết ơn chừng nào đối với Con cực thánh và Chúa của Mẹ. Con phải tận lực cố gắng đáp lại lòng nhân lành Chúa, chẳng khác gì Chúa từ thiên đàng xuống trần gian chỉ để cứu chuộc một mình con, và chẳng khác gì Chúa lập ra các Bí Tích lạ lùng và giáo lý trong Giáo Hội không phải cho ai khác mà chỉ cho một mình con (Galata 7:12).


CHƯƠNG 5

* CÁC MỤC TỬ THỜ LẠY CHÚA GIÁNG SINH;
* CHÚA HÀI ĐỒNG CHỊU PHÉP CẮT BÌ

Sau khi triều thần thiên đàng đã mừng Thiên Chúa làm người giáng sinh tại hang đá gần cổng thành Bethlehem, một số thiên thần được phái đi các nơi đem tin vui mừng cho những người, theo thánh ý Chúa, xứng đáng nhận tin vui đó. Tổng lãnh thiên thần Micae đến báo cho các thánh Tổ ở lâm bô biết Con Một Thiên Chúa Cha hằng hữu đã sinh ra trong thế gian và đang nằm nghỉ khiêm tốn hiền lành trong máng cỏ giữa hai con vật như các thánh đã tiên tri. Theo lời Đức Hiền Mẫu Maria, tổng lãnh thiên thần Micae nhân danh Mẹ đặc biệt thông báo tin mừng cho hai thánh ngoại tổ Joakim và Anna. Tổng lãnh thiên thần Micae chúc mừng hai thánh tổ rằng Ái Nữ của các ngài lúc này đang bồng ẵm Đấng muôn dân trông đợi và đã được các thánh Tiên Tri loan báo (Is.7:14,9:7,v.v.). Đây là ngày hết sức hân hoan vui mừng, ngày toàn thể các người công chính và các thánh được hưởng trong suốt cuộc lưu đầy lâu đời.
Một trong các thiên thần được Mẹ Maria gởi tới báo tin cho bà Elisabeth và hài nhi Gioan (Tẩy Giả). Khi được tin Chúa Cứu Thế giáng sinh, bà Elisabeth và hài nhi Gioan, mặc dầu hài nhi Gioan lúc này mới được sáu tháng tuổi đời, đã phủ phục thờ lạy Thiên Chúa làm người trong tinh thần và chân lý (Gioan. 4:23). Hài nhi Gioan đã được hiến dâng làm Tiền Hô cho Chúa Cứu Thế, được canh tân trong lòng một tinh thần nồng cháy hơn tinh thần sốt sắng của tiên tri Elias. Bà Elisabeth xin Mẹ Maria nhân danh hai mẹ con bà thờ lạy Chúa Hài Đồng.
Trong số những người được đặc biệt chúc phúc là các mục tử ở miền lân cận thức đêm canh giữ bầy chiên khi Chúa Cứu Thế giáng sinh (Lc 2:8). Những người này được chúc phúc vì họ chấp nhận thân phận vất vả khổ cực vâng theo thánh ý Thiên Chúa, sống nghèo nàn khiêm nhượng, bị người đời khinh chê. Các mục tử này thuộc hàng ngũ những người Do Thái có lòng chân thành ngay thẳng, hằng tha thiết hy vọng trông chờ Chúa Cứu Thế đến. Những người này đã nên giống như Đấng tạo thành sự sống vì được làm cho xa cách của cải phù vân hào nhoáng trần gian, tránh xa mưu mô ác độc của nó (Gioan 10:14). Trong mọi hoàn cảnh, các mục tử cho thấy họ sẵn sàng thi hành nhiệm vụ, mà Mục Tử Tốt Lành tới để hoàn thành việc biết các chiên của Ngài và chúng biết Ngài. Vì thế họ xứng đáng được Chúa Cứu Thế mời gọi như hoa trái đầu mùa trong số các thánh, là những người đầu tiên Ngôi Lời Hằng Hữu Nhập Thể tỏ mình cho và muốn được những người này chúc tụng, phụng thờ. Tổng lãnh thiên thần Gabriel được phái đến với các mục tử đang canh giữ đàn chiên.
Các mục tử ngỡ ngàng sợ hãi khi bất thình lình được bao phủ trong hào quang thiên đàng từ thiên thần Gabriel tỏa ra. Tổng lãnh thiên thần trấn an họ: “Hỡi những người ngay lành, đừng sợ, tôi báo cho các người tin vui mừng vĩ đại: hôm nay Đức Kitô Chúa Cứu Thế đã giáng sinh cho các người trong thành David. Để làm dấu chỉ sự thực này, tôi cho các người biết: các người sẽ thấy một Hài Nhi bọc trong khăn và nằm trong máng cỏ” (Lc 2:10,12). Khi tổng lãnh thiên thần Gabriel dứt lời, muôn vàn thiên thần hiện ra, du dương hát ca chúc tụng Đấng Tối Cao: “Vinh Danh Thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm.” Hát xong lời quá sức lạ lùng đối với trần gian này, các thiên thần biến đi. Tất cả các việc này xảy ra lúc canh tư đêm đó. Nhờ nhìn thấy các thiên thần, các mục tử khiêm tốn nhưng tốt phúc được ơn soi sáng đã khao khát chứng kiến tường tận mầu nhiệm cao cả vô cùng vừa mới được cho biết.
Trao đổi với nhau những ý nghĩ đầy hứng khởi do lời Thiên Sứ, các mục tử quyết định lập tức đi Bethlehem chứng kiến điều kỳ lạ được thiên thần báo tin. Vào trong hang đá, các mục tử thấy Đức Maria, thánh Giuse, và Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ. Nhìn thấy cảnh này, họ nhận biết sự thực những lời đã được nghe về Chúa Hài Đồng. Khi các mục tử nhìn Chúa, Chúa cũng nhìn họ, toả ra từ gương mặt Chúa hào quang vĩ đại làm cho trái tim chân thành của những người nghèo khó nhưng hạnh phúc này tan biến trong yêu thương. Ơn Chúa đã thay đổi, canh tân những người này, tạo dựng trong họ tinh thần ân sủng thánh thiện mới, ban cho họ sự hiểu biết đáng tôn vinh về mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và Ơn Cứu Độ cho nhân loại.
Các mục tử phủ phục thờ lạy Ngôi Lời Thiên Chúa làm người. Không còn dốt nát quê mùa, nhưng là những người khôn ngoan, họ thờ lạy, nhận biết, tôn vinh Chúa là Thiên Chúa thực và người thực, Đấng khôi phục và cứu chuộc loài người. Đức Nữ Vương thiên đàng, Thánh Mẫu của Chúa Hài Đồng, ghi nhận tất cả mọi việc các mục tử làm trong lòng và bề ngoài; vì Mẹ nhìn rõ tận đáy trái tim họ. Bằng sự khôn ngoan cẩn thận cao cả nhất, Đức Maria ghi nhớ trong lòng mọi việc xảy ra, suy gẫm (Lc 2:19), đối chiếu các mầu nhiệm tích chứa trong những việc đó với các lời tiên tri và Sách Thánh. Là thừa tác của Chúa Thánh Thần và đại diện Chúa Hài Đồng, Mẹ Maria nói với các mục tử, chỉ dẫn, khuyến khích họ kiên trì yêu mến phụng sự Đấng Tối Cao. Các mục tử cũng nói với Mẹ về phần họ; những lời đối đáp cho thấy họ hiểu nhiều điều về các mầu nhiệm này. Các mục tử ở lại hang đá từ rạng đông cho tới trưa mới ra về, được đầy thánh sủng và an ủi từ thiên đàng.
Khi lần đầu tiên đặt Chúa Hài Đồng trong tay thánh Giuse, Đức Mẹ nói: “Thưa phu quân và người giúp đỡ thiếp, trong vòng tay người xin hãy nhận lấy Đấng tạo thành trời đất, hãy vui hưởng sự đồng bạn hiền hoà dịu dàng của Chúa, để Chúa và Thiên Chúa của thiếp được hoan hỉ và đền đáp những phụng sự trung tín của phu quân (Cn 8:31). Xin phu quân hãy giữ lấy cho mình Kho Tàng của Thiên Chúa Cha hằng hữu, thông phần trong đại hồng ân này dành cho nhân loại.” Mẹ nói thầm với Chúa Hài Đồng: “Tình yêu vô cùng ngọt ngào của linh hồn mẹ và ánh sáng mắt mẹ, Con hãy nằm nghỉ trong tay Giuse, bạn và phu quân của mẹ. Mẹ xin Con hiệp thông ngọt ngào với ngài, mẹ xin Con tha thứ cho sự thiếu sót của mẹ. Mẹ cảm thấy mất mát rất nhiều cho dù chỉ trong chốc lát, nhưng mẹ ước ao truyền thông không chút ganh tị những ơn lành Mẹ được cho tất cả những ai xứng đáng” (Kn 7:13). Thánh Giuse hạnh phúc ý thức hồng ân mới này, hạ mình tới đất, đáp lời: “Thưa Đức Nữ Vương thế giới, hiền thê của tôi, tôi là kẻ bất xứng, có thể nào dám bồng ẵm chính Thiên Chúa, mà trước mắt Ngài mọi cột trời run rẩy dao động? (Giób 26:11). Làm sao con trùng hèn hạ này có cam đảm dám nhận đặc ân cao cả như thế? Tôi bất quá chỉ là tro bụi, nhưng thưa Đức Nữ Vương, xin Người giúp đỡ trong sự hèn hạ của tôi và xin Chúa nhân từ đoái nhìn và làm cho tôi nên xứng đáng nhờ hồng ân của Người.”
Khao khát được ẵm Chúa Hài Đồng và lòng kính sợ Chúa gây ra trong thánh Giuse các hành động yêu mến, tín trung, khiêm nhượng, anh hùng, kính trọng thẳm sâu nhất. Run rẩy với lòng kính úy sâu xa và trong hoan lệ, thánh Giuse quì gối đón Chúa Hài Đồng từ tay Đức Hiền Mẫu Maria. Chúa Hài Đồng trìu mến nhìn thánh Giuse đồng thời canh tân linh hồn ngài bằng những hồng ân hết sức cao cả. Thánh Giuse dâng lên những lời chúc tụng mới khi thấy mình được ban cho hạnh phúc vĩ đại như thế. Sau khi thánh Giuse đã sung sướng ẵm Chúa Hài Đồng, Đấng chứa đựng cả trời đất (Is. 40:12) một lúc, ngài đặt Chúa trở lại vòng tay Hiền Mẫu hạnh phúc Maria. Đức Hiền Mẫu và thánh dưỡng phụ quì khi nhận và trao Chúa cho nhau. Mỗi khi tới phiên được hạnh phúc bồng ẵm Chúa, thánh Giuse bắt chước lòng cung kính mà Mẹ Maria thực hành mỗi khi ẵm Chúa Hài Đồng lên hoặc đặt Chúa nằm xuống.
Từ giây phút được chọn làm Mẹ Ngôi Lời Thiên Chúa, Đức Trinh Nữ luôn suy gẫm những vất vả khổ cực dành sẵn cho Con cực châu báu. Vì thấu triệt Sách Thánh, Mẹ Maria hiểu mọi mầu nhiệm về Ơn Cứu Chuộc và cuộc sống trần gian của Chúa Cứu Thế. Mẹ thấy trước và chuẩn bị cho những gì Con cực thánh sẽ phải chịu để cứu chuộc nhân loại. Sự đau khổ thấy trước mọi chi tiết cặn kẽ là cuộc tử đạo triền miên đối với Đức Từ Mẫu hiền lành nhất của Chiên Thiên Chúa hy sinh (Jer 11:19). Đức Maria không nhận được lệnh truyền hoặc chỉ dạy về thánh ý Thiên Chúa Cha đối với Nghi Lễ Cắt Bì, nghi lễ này phải được thi hành tám ngày sau khi Chúa Hài Đồng giáng sinh. Mẹ Maria nghĩ rằng Con cực thánh Mẹ đến trần gian để tôn vinh và xác nhận Lề Luật Chúa bằng việc chu toàn Lề Luật; hơn nữa Chúa đến để chịu đau khổ vì nhân loại, hẳn lòng yêu thương bừng bừng và những lý do khác thúc đẩy Chúa chịu các đau đớn do nghi lễ này.
Tình mẫu tử và lòng trắc ẩn của Mẹ Maria hẳn ước mong chước giảm cho Chúa Hài Đồng khỏi phải chịu sự đau đớn cắt bì. Mẹ biết nghi lễ cắt bì được thiết lập để thanh tẩy các trẻ sơ sinh khỏi tội nguyên tổ; trái lại Chúa Hài Đồng hoàn toàn không vương tội này. Lưỡng lự giữa tình yêu Con cực thánh và sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha, Đức Trinh Mẫu cực khôn ngoan đã thi hành nhiều hành động nhân đức anh hùng, làm hài lòng Thiên Chúa. Mặc dầu Mẹ Maria có thể thoát khỏi sự phân vân này bằng cách xin Chúa cho biết phải làm gì; nhưng vì khiêm nhượng và khôn ngoan, Mẹ dằn lòng; Mẹ cũng không hỏi các thiên thần. Mẹ chờ thời gian thuận tiện và cơ hội do Chúa Quan Phòng mọi sự; Mẹ không dám tò mò tìm hiểu quyết định của Thiên Chúa bằng cách tham khảo các nguồn tin siêu nhiên, dù đặc biệt là để tránh khỏi bất cứ sự đau buồn nào.
Khi cần phải biết thánh ý Chúa về một vấn đề nghiêm trọng hoặc điều hoài nghi, mà trong đó có sự nguy hiểm xúc phạm đến Thiên Chúa, hoặc điều hiểu biết cấp thiết vì ích lợi cho mọi người, trước tiên Mẹ Maria xin được phép dâng lên lời cầu khẩn xin ơn soi sáng làm đẹp lòng Chúa. Sau khi cầu nguyện, Mẹ Maria yêu cầu thánh Giuse xúc tiến mọi thứ cần thiết cho nghi lễ cắt bì Chúa Hài Đồng. Mẹ nói thời gian theo luật cắt bì cho Chúa Hài Đồng đã tới và vì không nhận được lệnh nào trái lại, thì chắc là cần phải thi hành đúng luật đó. Mẹ Maria nói chính Mẹ và thánh Giuse có nhiệm vụ phải làm vui lòng Thiên Chúa hơn hết mọi người, mau mắn vâng theo thánh ý, nhiệt thành trong tình yêu mến săn sóc Con cực thánh của Thiên Chúa Cha hơn mọi thụ tạo khác, đền đáp những hồng ân khôn sánh và chu toàn mọi điều làm vui lòng Chúa. Thánh Giuse đáp lời Mẹ Maria: “Vì không có lệnh nào trái lại được ban cho chúng ta về Chúa Hài Đồng, Chúa muốn giữ mọi điều đúng như trong luật chung. Là Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thể không lệ thuộc lề luật, nhưng lúc này Chúa mặc lấy bản tính loài người, vì là Thầy cực trọn lành và là Chúa Cứu Thế, rõ ràng Chúa muốn giữ đúng luật đó như mọi người khác.” Kế đó thánh Giuse hỏi Mẹ Maria về cách tiến hành Nghi Lễ Cắt Bì.
Mẹ Maria nói với thánh Giuse rằng nghi lễ cắt bì sẽ được thi hành cách đích thực cùng một thể thức như cho các trẻ sơ sinh khác, nhưng Mẹ không trao hoặc ủy thác cho bất cứ người nào khác mà chính Mẹ sẽ ẵm Chúa Hài Đồng. Vì sự yếu ớt non ngày của Chúa Hài Đồng hẳn nghi lễ này làm cho Chúa đau đớn, nên cần có sẵn thuốc chống đau, thứ thuốc vẫn được dùng vào dịp nghi lễ cắt bì. Mẹ Maria cũng xin thánh Giuse chuẩn bị sẵn bình để trữ các thánh tích trong nghi lễ cắt bì Chúa Hài Đồng. Đức Hiền Mẫu cẩn thận chuẩn bị một ít khăn vải để thấm máu thánh, dịp này đổ ra lần đầu tiên vì nhân loại, để không một giọt máu thánh nào bị mất đi hoặc rơi xuống đất. Sau các chuẩn bị, Mẹ Maria xin thánh Giuse thông báo cho vị tư tế, yêu cầu ngài tới cử hành nghi lễ ngay tại hang đá, mà không cần phải đưa Chúa Hài Đồng đi nơi khác.
Đức Hiền Mẫu Maria và thánh Giuse trao đổi về thánh danh đặt cho Chúa Hài Đồng trong Nghi Lễ Cắt Bì. Thánh phu quân nói:

“Thưa bà chủ, khi thiên thần Đấng Tối Cao cho tôi biết mầu nhiệm vĩ đại này, ngài cũng cho tôi biết Con cực thánh của hiền thê phải được đặt tên là GIÊSU” (Mt 1: 18-21) Đức Trinh Mẫu Maria đáp: “Cũng thánh danh này được tiết lộ cho thiếp khi Ngôi Lời mặc thân xác trong dạ thiếp. Vì thế chúng ta nhận được thánh danh này từ nơi Đấng Tối Cao qua miệng các thiên thần, các thừa tác của Chúa. Thật là chính đáng, chúng ta với lòng khiêm nhượng tôn kính thi hành đúng những phân định huyền nhiệm khôn ngoan vô cùng của Chúa, vì thế chúng ta đặt Tên cho Con Trẻ là GIÊSU. Chúng ta sẽ đưa thánh danh này cho vị tư tế ghi vào sổ các trẻ được cắt bì” (Lc 1:31).
Trong khi Mẹ Maria và thánh Giuse trao đổi những lời này, muôn vàn thiên thần mang hình người ta từ thiên đàng đến hang đá Bethlehem. Các thiên thần cầm lá thiên tuế, đội triều thiên tỏa ánh sáng chói chang, có huy hiệu thánh danh GIÊSU trước ngực. Các ngài chia làm hai ca đoàn ở trong hang đá, mắt không rời Vua và Chúa của mình trên cánh tay Đức Trinh Mẫu Maria. Thủ lãnh các đạo binh thiên quốc là hai tổng lãnh thiên thần Micae và Gabriel, rực rỡ hơn tất cả, mang nơi tay các ngài huy hiệu đặc biệt: tên cực thánh Chúa GIÊSU, viết bằng đại tự vô cùng rực rỡ.
Hai tổng lãnh thiên thần đến trình diện Đức Hiền Mẫu: “Thưa Nữ Vương, đây là thánh danh Con của Người (Mt. 1:21). Thánh danh này đã được viết trong trí Thiên Chúa từ thuở đời đời, Thiên Chúa ban cho Con Một của Nữ Vương và là Chúa của chúng thần để là dấu báo Ơn Cứu Độ cho toàn thể nhân loại; đồng thời đặt Con của Nữ Vương trên ngai tòa David. Ngài sẽ thống trị, chiến thắng và trừng phạt các kẻ thù, làm cho chúng trở thành bệ dưới chân và Ngài sẽ phán xét chúng. Chúa sẽ nâng các bạn hữu của Ngài lên vinh quang. Tuy nhiên mọi việc này phải thực hiện bằng giá khổ đau và máu. Ngay từ bây giờ Ngài phải đổ máu ra khi nhận thánh danh, thánh danh Đấng Cứu Thế. Việc đổ máu này sẽ là khởi đầu những đau khổ Chúa Cứu Thế phải chịu vì vâng theo thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu. Tất cả chúng thần, được tạo dựng để yêu mến tôn thờ và phụng sự Đấng Tối Cao, được Thiên Chúa chỉ định phái đi phụng sự Con Một Thiên Chúa Cha và của Nữ Vương trong mọi mầu nhiệm bí tích thuộc Luật Ân Sủng. Chúng thần theo hầu hạ Chúa Cứu Thế cho tới khi Ngài vinh hiển ngự lên thành Jerusalem trên trời và mở các cửa thiên đàng.”
Vị tư tế và hai phụ tá tới hang đá Giáng Sinh, nơi Ngôi Lời Nhập Thể, nằm trong cánh tay Đức Trinh Mẫu Maria, đang chờ đợi ngài. Thoạt tiên sự tầm thường nghèo nàn của nơi tạm trú đã khiến vị tư tế ngỡ ngàng và một chút bối rối. Nhưng Đức Trinh Mẫu đã khiêm tốn chào đón ngài và sự cao cả của Mẹ làm cho sự khó chịu của vị tư tế mau lẹ đổi ra sự tận tụy kính phục. Sự bình tĩnh, vẻ uy nghiêm cao quí nhất mực của Mẹ Maria làm cho tư tế xúc động kính trọng đối với nhân cách phi thường như thế mặc dù không biết nguyên do. Khi nhìn gương mặt Mẹ Maria và gương mặt Chúa Hài Đồng trong cánh tay Mẹ, vị tư tế được lòng sốt mến mẫn cảm lạ lùng. Lập tức ông tiến hành nhiệm vụ cắt bì Chúa Hài Đồng, Thiên Chúa thật và người thật. Cùng lúc đó Con Thiên Chúa, với lòng yêu mến khôn lường, đã dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu ba hy lễ vô giá mà mỗi hy lễ đó đủ để cứu chuộc cả ngàn thế giới, nếu như có ngàn thế giới khác.
Hy lễ thứ nhất là chính Ngôi Lời, vô tội và là Con Thiên Chúa thật, mặc lấy thân phận kẻ tội lỗi (Philip 2:7) bằng việc tự mình khuất phục đối với nghi lễ được đặt ra để làm thuốc chữa tội nguyên tổ, tuân theo các luật lệ không ràng buộc Chúa (2 Cor. 5:21). Hy lễ thứ hai là việc Ngôi Lời Thiên Chúa sẵn lòng chịu đau đớn do nghi lễ cắt bì, mà Chúa cảm thấy là con người đích thực và hoàn toàn. Hy lễ thứ ba là lòng yêu mến nồng nàn do đó Chúa Hài Đồng đổ máu ra vì loài người, tạ ân Thiên Chúa Cha đã cho Ngài bản tính nhân loại có thể chịu đau khổ để chúc tụng vinh danh Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa Cha chấp nhận hy lễ nguyện cầu này của CHÚA GIÊSU. Ngôi Lời nhập thể đã dâng ba trái đầu mùa này của máu thánh Chúa như lời hứa sẽ dâng hết đến giọt cuối cùng để hoàn thành Công Cuộc Cứu Chuộc, xóa sạch nợ cho con cháu Adong. Đức Hiền Mẫu Maria rất thánh nhìn thấy tất cả mọi việc làm và chuyển động bề trong của Con Một cực thánh. Mẹ Maria thấu triệt mầu nhiệm trong hành động của Chúa Hài Đồng; Mẹ kết hợp với Con và Chúa của Mẹ trong mọi việc Chúa đang làm và đau đớn Chúa chịu.
Đúng với bản chất loài người của mình, Chúa Hài Đồng đã khóc chảy nước mắt như các trẻ sơ sinh khác. Mặc dầu lưỡi dao bằng toại thạch cùn nhụt làm cho thân xác Chúa Hài Đồng rất đau đớn, nước mắt Chúa trào ra do cái đau cảm giác không nhiều bằng bởi sự buồn phiền siêu nhiên vì trái tim chai đá của loài người. Đức Hiền Mẫu Maria cũng khóc, như một con chiên trong sạch, cất tiếng lên hợp với Con Chiên vôi tội. Trong tình yêu trắc ẩn hỗ tương Chúa Hài Đồng níu lấy Mẹ, trong khi Mẹ Maria âu yếm nhẹ nhàng ấp ủ Chúa vào ngực trinh khiết, thâu các thánh tích và máu thánh rơi xuống chiếc khăn.
Trong khi đó vị tư tế hỏi Hai Đấng Cha Mẹ muốn đặt tên gì cho Chúa Hài Đồng. Vì luôn quan tâm đến danh dự của đức phu quân, Mẹ Maria đã xin thánh Giuse nói thánh danh Chúa ra. Thánh Giuse quay sang Mẹ Maria cùng một cách kính trọng như vậy để Mẹ hiểu rằng ngài nghĩ thánh danh Chúa phải được Mẹ nói ra trước tiên thì thích đáng hơn. Nhưng do thánh ý Chúa can thiệp, cả Mẹ Maria và thánh Giuse cùng nói lên một lượt: “GIÊSU là thánh danh của Con Trẻ.” Vị tư tế nói: “Cả cha và mẹ đều đồng tâm đồng trí, Tên mà hai người đặt cho Con Trẻ thật là vĩ đại.” Vị tư tế khắc thánh danh GIÊSU vào tấm bảng hoặc sổ ghi danh các trẻ chịu phép cắt bì. Đang khi viết thánh danh GIÊSU, vị tư tế xúc động khiến nước mắt tuôn rơi tầm tã. Bỡ ngỡ vì những gì cảm thấy mà không giải thích được, vị tư tế nói: “Tôi tin chắc Con Trẻ này sẽ là một Đại Tiên Tri của Chúa. Hãy cẩn thận nuôi nấng Con Trẻ, và cho tôi biết tôi có thể làm gì để làm nhẹ bớt nhu cầu của qúi vị.” Mẹ Maria và thánh Giuse đáp lời vị tư tế với lòng khiêm nhượng biết ơn và tiễn vị tư tế ra về sau khi đã tặng quà gồm nến và những vật khác.
Mẹ Maria đắp vào các vết thương cắt bì những thứ thuốc thường dùng trong dịp này cho các trẻ sơ sinh. Hẳn là suốt thời gian Chúa Hài Đồng còn đau đớn và vết thương chưa lành, Mẹ Maria không rời Chúa một lúc nào. Tình yêu nồng nàn của Mẹ Maria vượt qua mọi hiểu biết của loài người vì tình yêu tự nhiên của Mẹ vốn vĩ đại hơn tình yêu của bất cứ bà mẹ nào trên trần gian; tình yêu siêu nhiên của Mẹ vượt hơn tình yêu của tất cả mọi thần thánh hợp lại. Lòng Mẹ Maria tôn kính thờ lạy Chúa không một thụ tạo nào khác có thể so sánh. Đây là những điều làm cho Ngôi Lời Nhập Thể hoan hỉ (Kn 8:31), mà Chúa ước ao và trông chờ nơi con cái loài người. Đây là phần thưởng, mà trái tim đầy yêu thương của Chúa rút từ sự thánh hóa vượt bực của Đức Trinh Mẫu Maria bù lại những đau buồn vì cách cư xử tệ bạc con cái loài người gây ra.
LỜI MẸ MARIA

Con của Mẹ, Mẹ ước muốn con suy xét cẩn thận đặc ân biết về sự săn sóc, quan tâm lo lắng Mẹ đã dành rất rộng rãi cho Con cực thánh hiền dịu nhất của Mẹ trong các mầu nhiệm vừa mới được kể. Đấng Tối Cao ban cho con ánh sáng đặc biệt hiểu biết các mầu nhiệm này không phải để con được thỏa mãn, nhưng để con bắt chước Mẹ trong mọi sự như một nữ tì trung thành, để con dâng lời cảm tạ về các kỳ công của Chúa theo cùng mức độ như con được làm cho hiểu biết đầy đủ hơn. Con yêu quí, con hãy suy nghĩ về sự đền đáp ít ỏi loài người đáp lại tình yêu của Chúa Con Mẹ, người ta vong ân bội nghĩa chừng nào cho dù Chúa vẫn trung thành. Con phải coi đó là nhiệm vụ, với hết khả năng hạn hẹp của con, dâng lên an ủi để đền bù sự xúc phạm nặng nề này. Con hãy tận lực tận sức yêu mến, tạ ân, phụng sự Chúa, để đền thay tất cả những kẻ không yêu mến, không tạ ân, không phụng sự Chúa. Vì thế con phải là một thiên thần sốt mến, nồng nàn và sẵn sàng trong mọi trường hợp. Con phải chết đi đối với mọi thứ ở đời, loại bỏ, chà đạp mọi khuynh hướng loài người và với đôi cánh tình yêu bay lên tới đỉnh cao yêu thương mà Thiên Chúa muốn cho con.
Con biết rõ những hiệu quả ngọt ngào tích chứa trong việc ghi nhớ mọi điều Con chí thánh Mẹ đã làm. Con có thể lợi dụng ánh sáng được ban cho con để biết ơn, để có thể lo sợ vì sự nguy hiểm của tội quên ơn. Mẹ đặc biệt cho con biết các thánh trên trời, nhờ ơn Chúa cho hiểu các mầu nhiệm này, đều ngạc nhiên đối với chính các ngài vì đã không chú ý nhiều hơn tới những điều đó khi còn sống ở trần gian. Nếu các thánh còn có thể chịu được đau đớn, hẳn các ngài hết sức buồn phiền vì sự chậm trễ cẩu thả đã không đánh giá đúng mức những việc phải làm để được Ơn Cứu Độ, đã không bắt chước Chúa Kitô. Do ơn hiểu biết thần linh, toàn thể các thần thánh ngỡ ngàng vì sự ác độc của trái tim loài người đối với chính họ và chống lại Chúa Kitô Đấng cứu độ họ. Loài người không có lòng thương xót đối với các đau khổ của Chúa, cũng không có lòng xót thương đối với những đau khổ chính họ phải chịu. Khi những kẻ biết trước bị luận phạt, trong nỗi đắng cay bất tận, nhìn nhận sự vong ân bội bạc kinh khủng và sự hững hờ đối với các việc làm của Chúa Kitô, sự bối rối tuyệt vọng sẽ là hình phạt không chịu nổi, chỉ một điều đó thôi đã là hình phạt không thể tưởng tượng; vì khi đó họ sẽ thấy sự cao cả của Ơn Cứu Chuộc mà họ khinh thường (Tv 44:11).
Con của Mẹ, hãy nghe Mẹ, lắng nghe các lời khuyên và học thuyết sự sống đời đời. Con hãy xua đuổi khỏi tâm trí con mọi hình ảnh và lòng quyến luyến đối với loài người, hướng mọi khả năng trái tim, linh hồn con về các mầu nhiệm và hồng ân Ơn Cứu Độ. Con hãy chỉ để tâm trí con bận bịu cân nhắc giá trị, tạ ân vì các mầu nhiệm và hồng ân Ơn Cứu Độ như thể chỉ một mình con hiện hữu, như thể những mầu nhiệm, các hồng ân đó chỉ được thực hiện cho một mình con (Gal 2:20). Như vậy con sẽ tìm thấy cuộc sống, cách sống, tiến hành như thế để con không lầm lẫn; nhưng con sẽ tìm thấy ở đó ánh sáng cho mắt con và bình an đích thực.


CHƯƠNG 6

BA VUA THỜ LẠY CHÚA HÀI ĐỒNG

Ba Vua, những người tìm đến thờ lạy Hài Nhi Thiên Chúa, là người Ba Tư, Ả Rập và Sabba (Tv 71:10), ba quốc gia phía đông nước Palestine. Việc ba vua tới thờ lạy Chúa Giáng Sinh đã được vua David đặc biệt tiên báo, và trước đó do Balaam, ông này được Balaac, vua nước Moab, mướn để nguyền rủa dân Do Thái, nhưng Balaam đã chúc lành thay vì nguyền rủa (Ds 24:17). Trong lời chúc lành này, Balaam nói ông sẽ gặp Đức Kitô Vua, mặc dầu không phải trong đời ông. Balaam không nhìn thấy Chúa bằng chính mắt ông, nhưng qua mắt ba vua, những người là miêu duệ ông nhiều thế hệ sau. Balaam cũng nói một ngôi sao sẽ mọc lên cho nhà Jacob, ngôi sao đó là Đức Kitô, Đấng lên thống trị nhà Jacob đến muôn muôn đời (Lc. 1:32).
Ngay khi từ Bethlehem đưa tin cho ba vua, các thiên thần cũng tạo ra trên không trung một ngôi sao sáng chói để dẫn đường những người thánh thiện này tới hang đá, nơi Chúa Hài Đồng chờ đợi các ông. Khi rời khỏi cung điện, mỗi vị đều nhìn thấy ngôi sao mới (Mt. 2:2) mặc dầu mỗi người từ địa phương khác nhau. Ngôi sao này được đặt trên độ cao thích hợp để cả ba vị có thể nhìn thấy cùng một lúc. Được ngôi sao lạ dẫn đường, các ngài đã sớm gặp nhau. Khi ba vua gặp nhau, ngôi sao lập tức xuống sát gần, tỏa ánh sáng rực rỡ làm cho các ngài hoan hỉ. Ba vua trao đổi về mạc khải riêng mỗi người nhận được và thấy các ngài có chung một mục đích. Các ngài được thêm lòng tận hiến, khao khát sốt sắng thờ lạy Thiên Chúa mới giáng sinh, dâng lời chúc tụng ca ngợi các kỳ công và mầu nhiệm của Đấng Toàn Năng.
Chúa Hài Đồng trên tay Đức Hiền Mẫu thiên đàng đón nhận ba vua sốt mến và tận hiến. Giữa những khiêm tốn khó nghèo nơi hang đá, trong vẻ khiêm nhu nhưng diễm kiều khôn sánh, Mẹ Maria cùng lúc đó biểu lộ vẻ uy nghi cao cả, ánh sáng thiên đàng rực sáng trên mặt Mẹ. Ánh sáng nơi Chúa Hài Đồng còn rực rỡ hơn nữa, tỏa ra khắp hang đá ánh sáng huy hoàng chói chang làm cho hang đá trở nên giống như thiên cung. Ba vua Phương Đông đi vào hang đá, thoạt thấy Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu, lập tức họ bị sự ngỡ ngàng lạ lùng tràn ngập. Ba vua quì phục trên đất, tôn kính thờ lạy Chúa Hài Đồng, nhận Ngài là Thiên Chúa thực và người thực, là Đấng Cứu Độ nhân loại. Quyền năng Thiên Chúa tác động linh hồn ba vua khi các ông nhìn thấy Chúa. Ba vua thấy muôn vàn thiên thần phục vụ Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa, với lòng tôn kính như những tôi tớ và thừa tác viên. Chỗi dậy, ba vua chúc tụng Mẹ Maria, Đức Hiền Mẫu của Con Thiên Chúa Cha hằng hữu, các ông tới quì trước mặt Mẹ Maria để kính chào Mẹ. Ba vua tìm hôn tay Mẹ theo tập quán nước các ông đối với các hoàng hậu hoặc nữ vương. Đức Hiền Mẫu Maria đã rút tay lại và, để thay vào đó, Người đưa tay Chúa Cứu Thế ra và nói: “Thần trí tôi reo mừng trong Chúa, linh hồn tôi chúc tụng và tôn vinh Ngài; vì giữa muôn dân Chúa đã gọi và chọn quí vị cho ngưỡng vọng cùng nhìn thấy điều mà nhiều vua chúa và các tiên tri đã khao khát nhưng không được thấy, đó là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể (Lc. 10:24). Chúng ta hãy tôn vinh chúc tụng Danh Ngài vì các bí tích và mầu nhiệm được thi hành giữa dân Ngài; chúng ta hãy hôn đất được thánh hoá do sự hiện diện đích thực của Ngài.”
Theo những lời này của Đức Maria rất thánh, ba vua phủ phục thờ lạy Chúa Hài Đồng Giêsu, cảm tạ hồng ân vĩ đại được sống trong thời gian khi Mặt Trời Công Chính mọc lên để soi sáng bóng đêm (Malaki 4:2). Kế đó ba vua nói với thánh Giuse, chúc mừng ngài, ngợi khen hồng phúc cao cả ngài được chọn làm phu quân Mẹ Thiên Chúa. Ba vua cũng bầy tỏ sự ngạc nhiên cảm động vì sự nghèo nàn tột cùng, vẻ nghèo nàn đó che giấu những mầu nhiệm vĩ đại nhất trên trời dưới đất. Sau ba tiếng đồng hồ triều kiến thờ lạy chúc tụng, phái đoàn triều kiến xin phép Đức Hiền Mẫu Maria để vào thành tìm nơi nghỉ. Có một số người tháp tùng ba vua, nhưng chỉ có ba vua được ơn soi sáng và ân sủng từ cuộc thăm viếng này. Những người khác chỉ nhìn thấy những gì bên ngoài, chỉ thấy hoàn cảnh thiếu thốn, bị bỏ rơi của Đức Hiền Mẫu và phu quân. Mặc dầu bỡ ngỡ vì biến cố lạ lùng, những người đó không thấy gì về mầu nhiệm này. Ba vua chào tạm biệt ra đi, trong khi Mẹ Maria và thánh Giuse, lại được ở một mình với Chúa Hài Đồng, đã vinh danh Đấng Chí Tôn bằng những lời chúc tụng mới, vì thánh danh Chúa bắt đầu được các Dân Ngoại nhận biết thờ lạy (Tv 85:9).
Từ hang đá Giáng Sinh, ba vua tới một chỗ tạm trú trong thành Bethlehem. Các ngài dành phần lớn đêm đó nói về những điều đã chứng kiến, những cảm tưởng, lòng yêu mến trào lên trong mỗi vị, những điều riêng từng vị nhận thấy nơi Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu. Trong buổi chuyện vãn này ba vua càng lúc càng được bốc cháy lửa yêu mến linh thiêng, ngỡ ngàng vì sự uy nghiêm cùng vẻ đẹp thánh thiêng của Chúa Hài Đồng Giêsu. Các ngài ngạc nhiên vì sự khôn ngoan, khiêm tốn, dè dặt của Đức Hiền Mẫu, thán phục sự thánh thiện của thánh phu quân Giuse, ngạc nhiên vì cảnh nghèo nàn của Thánh Gia. Các ông ngỡ ngàng vì vẻ khiêm nhượng của nơi Chúa trời đất đã muốn được sinh ra. Ba vị vua nhiệt thành yêu mến cảm thấy ngọn lửa thánh thiêng bốc cháy trong trái tim. Không kềm chế được, các ông nói lên những lời cảm thán của tình yêu ngọt ngào và lòng tôn kính lớn lao: “Chúng tôi cảm thấy điều gì thế này? Phải chăng chính ảnh hưởng của Vị Đại Vương này làm cho chúng tôi có được những ước vọng và lòng yêu mến vĩ đại như thế này sao? Sau biến cố này, chúng ta sẽ nói chuyện với người ta thế nào? Chúng ta có thể làm gì, chúng ta đã được chỉ dạy những mầu nhiệm mới, huyền nhiệm và cao siêu như thế này? Ôi sự cao cả vĩ đại của Đấng Toàn Năng không tỏ lộ cho nhân loại mà được giấu kín dưới sự khó nghèo tột cùng như thế! Ôi sự khiêm nhượng loài người không thể nào hình dung! Ước chi cả nhân loại được lôi cuốn đến với sự khiêm tốn, ngõ hầu loài người không bị gạt ra khỏi niềm hạnh phúc vô biên!”
Trong những đàm thoại siêu nhiên này, các vị đạo sĩ nhớ tới cảnh cơ hàn thiếu thốn cùng cực của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse nơi hang đá đã quyết định lập tức dâng một ít lễ vật để tỏ lòng yêu mến và để thoả lòng các ông muốn phụng sự Thánh Gia. Vì không làm được điều gì khác cho Chúa Hài Đồng, Mẹ Maria và thánh Giuse, ba vua cho gia nhân dâng những lễ vật các ông đã dành sẵn và những thứ khác các ông tìm được. Mẹ Maria và thánh Giuse nhận những lễ vật này với lòng khiêm tốn biết ơn. Mẹ Maria và thánh Giuse không phải chỉ đáp lại bằng những lời cám ơn suông, mà bằng nhiều hồng ân có hiệu lực mãnh liệt an ủi tinh thần ba vua. Các lễ vật này giúp Đức Nữ Vương cao cả của chúng ta chuẩn bị bữa tiệc lớn đãi những người khách bình dân nghèo khó của Người. Những người thiếu thốn đó thường tới thăm Mẹ Maria, được bố thí và được lôi kéo mạnh hơn nữa bằng những lời ngọt ngào của Mẹ. Ba Vua chìm vào giấc ngủ với lòng hoan lạc khôn sánh; và trong giấc ngủ, các thiên thần nói với các ông về hành trình hồi hương (Mt 1: 9-12).
Bình minh hôm sau ba vua trở lại hang đá Giáng Sinh dâng lên Vua thiên quốc những lễ vật đặc biệt. Khi tới nơi, các ngài lại phủ phục trong niềm khiêm tốn thẳm sâu, mở các hộp quí châu ra, dâng lên Chúa vàng, nhũ hương và mộc dược (Mt. 2:21). Ba vua xin Mẹ Maria chỉ dạy về nhiều mầu nhiệm, các việc thực hành đức tin, về những vấn đề liên quan đến bổn phận và cai quản đất nước. Các ngài ước nguyện trở về mà được chỉ dẫn tường tận hầu có thể tiến tới sự thánh thiện trọn lành trong cuộc sống hàng ngày. Mẹ Maria vui mừng khi nghe lời ba vua. Mẹ âm thầm trao đổi với Chúa Hài Đồng về tất cả mọi điều ba vua hỏi, ngõ hầu trả lời, và chỉ dạy cách thích đáng cho những người con này của Luật Mới. Với tư cách Giáo Sư và là công cụ của sự khôn ngoan Thiên Chúa, Mẹ Maria trả lời tất cả các câu hỏi, cho ba vua những giáo huấn cao quí về thánh hoá đến độ ba vua khó lòng rời khỏi sự dịu dàng và sự lôi cuốn từ những lời Mẹ nói. Những lời Mẹ Maria ảnh hưởng đến ba vua hết sức sâu xa vì do Chúa Thánh Thần hướng dẫn và tràn đầy khôn ngoan. Một thiên thần Chúa hiện ra nhắc các ông nhớ sự cần thiết của thánh ý Chúa là các ông phải trở lại quê hương.
Đức Hiền Mẫu thiên đàng nhận các lễ vật của ba vua và nhân danh các ông dâng các lễ vật đó lên Chúa Hài Đồng Giêsu. Chúa cho thấy những dấu chỉ Chúa hài lòng nhận các lễ vật đó. Ba vua nhận thức được các ân sủng vô cùng dồi dào mà Chúa trả lại gấp trăm (Mt. 19:29). Theo tập quán địa phương của mình, các ông cũng dâng lên Mẹ Maria một vài viên ngọc giá trị rất lớn; nhưng vì những lễ vật này không có ý nghĩa huyền nhiệm nào và không chỉ về Chúa Giêsu nên Mẹ hoàn lại các lễ vật đó, chỉ giữ lại các lễ vật là vàng, nhũ hương và mộc dược. Để ba vua ra đi được hoan hỉ hơn nữa, Mẹ Maria cho ba Vua một số vải khăn trong đó Mẹ đã bọc Chúa Hài Đồng, vì Mẹ không có những bảo vật hữu hình nào quí giá hơn. Ba vua nhận các thánh kỷ vật này với hết lòng tôn kính quí trọng; các ông cho bọc các thánh kỷ này trong vàng và ngọc thạch để giữ mãi mãi về sau. Để làm bằng chứng giá trị của mình, các thánh kỷ vật này toả ra mùi hương lạ lùng. Tuy nhiên, chỉ những người tin tưởng việc Chúa đến thế gian mới được ngửi hương thơm đó. Ở trong nước của mình, ba vua đã làm nhiều phép lạ nhờ những thánh kỷ này.
Ba vị thánh vương cũng hiến dâng của cải khác lên Đức Hiền Mẫu, hoặc, nếu Mẹ không muốn nhận những thứ đó mà muốn ở lại nơi này hơn, nơi Con cực thánh của Người đã sinh ra, các ông sẽ dựng cho Người một ngôi nhà tiện nghi hơn. Mẹ Maria cám ơn ba vua vì những hiến dâng, nhưng không nhận các thứ đó. Khi từ biệt Đức Hiền Mẫu, ba vua xin Mẹ đừng quên họ; Mẹ hứa và hoàn thành điều đó. Các ông cũng xin thánh Giuse như thế. Với chúc lành của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse, các ngài lên đường mà dường như đã để trái tim lưu lại nơi hang đá. Vì được thiên thần cho biết trong đêm truớc, các ông trở về theo lộ trình khác để tránh gặp Herode ở Jerusalem. Khi đoàn lữ hành ra khỏi Bethlehem, cũng ngôi sao lạ đã dẫn đường tới Bethlehem lại xuất hiện dẫn các ông trở về quê hương theo lộ trình khác, trở lại nơi gặp nhau lần đầu tiên, từ đó mỗi người đi đường về nhà mình (Mt 1:18).
LỜI MẸ MARIA

Con của Mẹ, các lễ vật ba vua dâng lên Con cực thánh Mẹ đều quí giá, nhưng lòng yêu mến khi dâng các lễ vật và sự huyền nhiệm tiềm ẩn sau các lễ vật đó còn giá trị hơn. Vì những lý do này các lễ vật đó đáng được Đấng Tối Cao chấp nhận nhất. Mẹ ao ước con cũng dâng những lễ vật tương tự, cảm tạ ơn Chúa vì đã làm cho con nghèo khó theo điều kiện và lời khấn. Con rất yêu quí của Mẹ, Mẹ hứa chắc với con rằng không có lễ vật nào đáng được Đấng Tối Cao chấp nhận hơn sự nghèo khó tự nguyện. Trong thời đại chúng ta, rất ít người sử dụng cách khôn ngoan các của cải tạm bợ của họ, dâng những của cải đó lên Thiên Chúa với lòng đại lượng và yêu mến như ba vua thánh này. Ngày nay, bản chất nhân loại đã trở nên ác độc, tham lam quá độ, chai đá trước các thiếu thốn cùng cực của người khó nghèo. Chúa Ngôi Ba và các thiên thần đau lòng chứng kiến sự cao quí của các linh hồn bị làm cho mất phẩm giá vì họ phục vụ lòng tham lam vàng bạc của cải và mọi quyền lực ác độc của nó (Gv 10:20). Những người giầu có đã tước đoạt của người nghèo, chiếm lấy mọi thứ ở đời này cho riêng mình. Họ không kể gì đến những người nghèo khó là anh em của họ, được sinh ra cùng một bản chất và xương thịt. Họ cũng từ chối ngay cả với Thiên Chúa, Đấng tạo dựng, gìn giữ mọi sự, và có thể cho hoặc lấy lại tùy ý. Điều đáng than khóc nhất là trong khi những người giàu có có thể mua được cuộc sống đời đời bằng tiền bạc, họ đã lạm dụng của cải vật chất, chọn lấy cho mình án phạt đời đời chẳng khác gì những thụ tạo vô linh tính điên khùng (Lc. 14:9).
Điều ác độc này phổ thông nơi con cái Adong, vì thế sự khó nghèo tự nguyện là y dược tuyệt hảo và an toàn. Nhờ đức thanh bần làm cho người ta sẵn sàng hoan hỉ từ bỏ sản nghiệp vì người nghèo khó, đó là của lễ lớn lao được dâng hiến lên Thiên Chúa. Con cũng có thể hiến dâng như thế đối với những thứ cần thiết cho việc nuôi sống con, chia một phần cho người nghèo khó, nếu có thể con giúp họ bằng sức lao động và mồ hôi. Tuy nhiên của lễ con hiến dâng không bao giờ gián đoạn phải là tình yêu: tình yêu là vàng; cầu nguyện liên tục là nhũ hương; kiên trì chấp nhận những lao khổ và thực sự hãm mình là mộc dược. Con hãy dâng lên Chúa mọi điều con làm với tình yêu nồng nàn sốt sắng, không chút chểnh mảng hoặc sợ sệt; vì những việc làm chểnh mảng, những việc làm không được ủ men tình yêu không phải là của lễ đáng chấp nhận trước mắt Đấng Tối Cao. Để làm cho các việc này trở thành của lễ hiến dâng không ngừng, điều cần thiết là đức tin và ơn soi sáng của Chúa luôn luôn bốc cháy trong trái tim con, có trước mắt con mục tiêu vĩ đại của lời chúc tụng tôn vinh và tác dụng của tình yêu mà nhờ đó con được cột chặt vào Đấng Tối Cao. Con cần phải liên tục thực hành việc yêu mến ngọt ngào này. Điều này rất thích hợp cho các người yêu dấu của Đấng Tối Cao; vì tên những người đó ngụ ý việc liên tục trả nợ tình yêu và lòng thương mến của Ngài.


CHƯƠNG 7

MẸ MARIA DÂNG CHÚA HÀI ĐỒNG TRONG ĐỀN THỜ.

Nhân tính cực thánh của Chúa Kitô thuộc về Thiên Chúa Cha hằng hữu không những chỉ vì nhân tính đó được tạo dựng như mọi người, mà vì (nhân tính) đó là sở hữu đặc biệt của Chúa do việc kết hợp nhân tính với Ngôi Lời Thiên Chúa, vì Ngôi Lời Thiên Chúa, Con Một Thiên Chúa, Đấng mang bản tính này, là Thiên Chúa thực bởi Thiên Chúa thực. Thiên Chúa Cha hằng hữu đã ấn định Con Một Ngài phải được hiến dâng trong đền thờ âm thầm chu toàn lề luật, mà theo đó Chúa Cứu Thế là người cuối cùng thi hành luật hiến dâng (Rom 10:4). Luật hiến dâng này được đặt ra không có mục đích nào khác hơn là các người công chính thời Cựu Ước phải thánh hóa thường xuyên và dâng hiến cho Thiên Chúa con trai đầu lòng của họ, với hy vọng người con được dâng hiến như thế có thể được chứng minh là Con Thiên Chúa và Con Đức Hiền Mẫu Chúa Cứu Thế muôn dân trông đợi (Xh 13:2).
Thánh ý Thiên Chúa Cha, hợp với thánh ý Chúa Con, được thông báo cho Đức Hiền Mẫu đời sống và bản chất loài người của Ngôi Lời. Mẹ Maria thấy mọi hành động bề trong của Chúa Kitô hiệp nhất với thánh ý Thiên Chúa Cha. Mẹ đã dành cả đêm trước ngày hiến dâng Chúa Hài Đồng trong đền thờ để nói chuyện với Thiên Chúa. Mẹ nói với Thiên Chúa Cha: “Lạy Chúa và Thiên Chúa Tối Cao, Cha của Chúa của con, ngày vui mừng cho trời đất sẽ là ngày con dâng lên Chúa trong đền thờ Bánh Thánh hằng sống, đồng thời cũng là Kho Tàng của Chúa. Lạy Chúa và Thiên Chúa của con, việc hiến dâng này giàu sang biết chừng nào, để đổi lại, Chúa sẽ đổ tràn lòng thương xót xuống cho nhân loại. Xin Chúa tha thứ kẻ tội lỗi, an ủi người đau khổ, giúp đỡ người khó nghèo, cho kẻ bần hàn được phú túc, cứu giúp người yếu đuối, soi sáng kẻ mù lòa, đón tiếp người lạc đường. Lạy Chúa, đây là điều con xin khi dâng lên Chúa Con Một yêu dấu của Chúa, Đấng mà do lòng thương xót của Chúa cũng là Con của con. Nếu Chúa ban Chúa Con cho con là Thiên Chúa, con trả lại Chúa Hài Đồng cho Chúa là Thiên Chúa và người trần gian, giá trị của Ngài vô cùng, và những điều con xin thì kém nhiều. Trong sự giàu có, con trở lại đền thờ Chúa mà con đã tự do ra đi trong khó nghèo, linh hồn con sẽ chúc tụng Chúa đến muôn đời, vì Chúa đã ban cho con quá sức đại lượng.”
Bình minh hôm sau, Mặt Trời thiên đàng sẵn sàng hiện ra từ Hừng Đông trinh khiết nhất là Đức Trinh Mẫu Maria. Chúa Hài Đồng nằm trong cánh tay Mẹ, sắp sửa xuất hiện rõ ràng giữa thế gian. Đức Nữ Vương thiên đàng, đã chuẩn bị sẵn đôi chim gáy và hai cây nến, bọc Chúa Hài Đồng trong khăn, đi cùng với thánh Giuse tới đền thờ. Các thiên thần tháp tùng Thánh Gia, lần nữa đạo binh thiên quốc hiện ra rõ ràng, sóng hàng rất đẹp như trong hành trình từ Nazareth tới Bethlehem. Trong dịp này các thiên thần thêm nhiều ca khúc du dương tuyệt vời chúc tụng Chúa Hài Đồng. Không kể muôn ngàn thiên thần tạo thành đoàn diễn hành, vô số thiên thần khác từ trời xuống cùng với các thiên thần mang khiên có khắc Tên Cực Thánh GIÊSU hợp thành đoàn quân danh dự hộ vệ Ngôi Lời nhập thể trong dịp dâng hiến trong đền thờ. Tới cổng đền thờ, Mẹ Maria lại ngút lửa yêu mến tận hiến nồng nàn. Cùng với các phụ nữ khác, Mẹ quì gối cúi đầu thờ lạy Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý. Mẹ Maria, cùng với Con cực thánh trong tay, trình diện trước Thiên Chúa Uy Nghi cao cả (Gioan 4:23). Lập tức Mẹ Maria ngây ngất trong thị kiến và nghe tiếng Thiên Chúa Cha phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết sức hài lòng vì Con” (Mt 27:20). Thánh Giuse, người được hạnh phúc nhất trong mọi nam nhân, cùng lúc đó cũng cảm nghiệm sự ngọt ngào mới, niềm hân hoan và ơn soi sáng Chúa Thánh Thần đổ đầy tâm hồn ngài.
Thầy cả thượng phẩm thánh thiện Simeon, được Chúa Thánh Thần soi dẫn, lúc đó cũng đi vào đền thờ (Lc 2:7). Ngài thấy Mẹ Maria và Chúa Hài Đồng trong hào quang rực rỡ. Nữ tiên tri Anna cũng tới; bà thấy Mẹ Maria và Chúa Hài Đồng được bao phủ trong ánh sáng lạ lùng. Hết sức vui mừng, thầy cả thượng phẩm đón Chúa Hài Đồng từ tay Mẹ Maria. Nhìn lên trời, ngài dâng Chúa Hài Đồng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu, đồng thời nói lên lời huyền nhiệm: “Lạy Chúa, bây giờ xin cho tôi tớ Chúa ra đi bằng an theo lời Chúa hứa. Chính mắt con đã nhìn thấy Ơn Cứu Độ đã được Chúa chuẩn bị trước mặt muôn dân: ánh sáng cứu độ các dân ngoại và vinh quang Israel dân Chúa” (Lc 2:29). Nghe những lời ca tụng này, Đức Hiền Mẫu Maria và thánh Giuse bỡ ngỡ vì mạc khải cao siêu chứa đựng trong đó. Thánh Sử nói Cha Mẹ của Hài Nhi bỡ ngỡ vì những lời đó nói ra trước mặt mọi người hiện diện tại biến cố này. Tiên tri Simeon nói tiếp: “Con Trẻ Này được đặt làm cớ để nhiều người vấp phạm và cho việc phục sinh của nhiều người trong dân Israel, và là dấu bị chống báng. Một lưỡi gươm bén sẽ xuyên thấu tâm hồn bà, để những tư tưởng thầm kín của nhiều con tim sẽ bị phơi bày ra ánh sáng” (Lc 2:33-35). Thánh Simeon, vì là thầy cả, đã chúc lành cho Cha Mẹ hạnh phúc của Chúa Hài Đồng. Khi đó nữ tiên tri Anna, được ơn Chúa Thánh Thần, cũng nhìn nhận Ngôi Lời nhập thể và nói về các mầu nhiệm Chúa Cứu Thế với nhiều người, những người đang trông chờ ơn cứu độ dân Israel (Lc 2:36-38). Hai tiên tri lão thành Simeon và Anna đã công khai làm chứng về Chúa Cứu Thế trước thế giới.
Chúa Hài Đồng gật đầu khi tiên tri Simeon nói đến lưỡi gươm và dấu chỉ của sự chống báng: những lời tiên tri về khổ hình và cái chết của Chúa Cứu Thế (Lc 2:35). Do việc đó và nhiều hành động vâng lời thầm kín, Chúa Giêsu đã phê chuẩn lời tiên tri của thượng tế Simeon, chấp nhận đó như là lời Thiên Chúa Cha phán được thừa sứ của Ngài loan báo. Mẹ Maria ghi nhận và hiểu mọi điều này (Lc 3:51b). Ngay lúc này Mẹ Maria cảm thấy bị thương tích do lưỡi gươm được tiên báo. Như trong một tấm gương, linh hồn Mẹ Maria thấy mọi mầu nhiệm gồm trong lời tiên tri này: Con cực thánh của Mẹ sẽ là nguyên cớ khiến nhiều người vấp phạm như thế nào, sự trầm luân của những kẻ không tin, Ơn Cứu Độ cho những người tín trung, việc thiết lập Giáo Hội giữa các dân ngoại. Mẹ Maria nhìn thấy trước cuộc khải hoàn vinh thắng chống lại ma quỉ và sự chết, nhưng Mẹ cũng thấy trước giá phải trả cho cuộc khải hoàn đó, như sự phiền sầu khủng khiếp và chết trên thập giá (Col 2:15). Mẹ Maria nhìn thấy trước những chống đối thù nghịch Chúa Giêsu sẽ phải chịu nơi bản thân Chúa và Giáo Hội (Gioan 15:20). Đồng thời Mẹ Maria cũng thấy sự vinh quang tuyệt vời của các linh hồn được tiền định. Mẹ biết tất cả những điều này và, được khơi dậy do những lời ông Simeon tiên tri cùng các mầu nhiệm tiềm ẩn, Mẹ đã thực thi nhiều hành động nhân đức anh hùng trong niềm vui nỗi buồn của linh hồn cực trinh khiết. Tất cả mọi lời nói và các sự việc xảy ra đều được ghi khắc trong trí nhớ Mẹ Maria không khi nào phai (Lc 2:51b). Mẹ Maria luôn nhìn Con cực thánh với lòng ưu phiền sinh động, mà chúng ta, những con người với trái tim vong ân bội nghĩa, sẽ không bao giờ có thể cảm hiểu được. Thánh phu quân Giuse cũng được những lời tiên tri này làm cho hiểu nhiều trong số các mầu nhiệm Ơn Cứu Chuộc và những vất vả thống khổ Chúa Giêsu sẽ phải chịu. Nhưng Thiên Chúa không tiết lộ các mầu nhiệm này cho thánh Giuse tường tận, vì đối với ngài các mạc khải này phục vụ mục đích khác, hơn nữa, thánh nhân không được là chứng nhân các mầu nhiệm này khi còn ở trần thế.
Nghi lễ hiến dâng đã hoàn tất, Đức Maria hôn tay thầy thượng tế và xin ngài chúc lành. Mẹ Maria cũng thi hành như thế đối với tiên tri Anna, thầy cũ của Mẹ. Địa vị Mẹ Thiên Chúa, địa vị tột đỉnh đối với các thiên thần và cả loài người, không cản trở Mẹ thực thi các hành động khiêm tốn này. Rồi cùng với thánh phu quân và đạo binh thiên quốc sóng hàng hộ vệ, Mẹ Maria và Chúa Hài Đồng trở lại nơi tạm trú. Mẹ Maria và thánh Giuse quyết định nán lại Jerusalem chín ngày để có thể mỗi ngày viếng đền thờ hầu lặp lại lời hiến dâng Nạn Nhân Thánh, Con Thiên Chúa của Mẹ, để như thế, dâng lên lời cảm tạ xứng đáng vì hồng ân bao la mà nhờ đó Mẹ và thánh phu quân đã được tách rời khỏi loài người. Đức Hiền Mẫu Maria đặc biệt quí con số chín này, vì trong chín ngày Mẹ Maria đã được Thiên Chúa chuẩn bị trang điểm cho việc nhập thể của Ngôi Lời, và cũng ghi nhớ chín tháng cưu mang Chúa Giêsu nơi lòng dạ trinh khiết Mẹ. Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse khởi sự việc tận hiến tuần chín ngày, mỗi ngày từ trước giờ thứ ba (khoảng sáu giờ sáng), cầu nguyện trong đền thờ cho tới khi trời tối. Thánh Gia chọn một nơi khuất yên tĩnh nhất, như thế xứng đáng với lời mời của vị chủ tiệc trong Phúc Âm: “Hỡi bạn, hãy lên ngồi ghế cao hơn” (Lc 14:10b).
Để đáp lời cầu xin của Đức Maria, Thiên Chúa ban cho Mẹ nhiều đặc ân vĩ đại mới, trong đó có đặc ân, bao lâu thế giới này còn tồn tại, Mẹ Maria sẽ được tất cả mọi điều Mẹ xin cho những ai nhờ (xin) Mẹ cầu bầu cho. Những người tội lỗi nặng nề nhất sẽ tìm được Ơn Cứu Độ, nếu họ xứng đáng với lời Mẹ cầu bầu. Trong Giáo Hội mới và Luật Phúc Âm, Mẹ Maria sẽ là Đấng Đồng Công, là Thầy dạy về Ơn Cứu Chuộc cùng với Chúa Kitô Con cực thánh Mẹ. Đây sẽ là đặc ân dành cho Mẹ Maria đặc biệt là sau khi Chúa về trời. Khi còn ở lại trần gian, Mẹ Maria là Nữ Vương vũ trụ, Đại Diện, Máng Chuyên mọi quyền năng Thiên Chúa nơi trần thế.
Ngày thứ năm của tuần chín ngày, khi Mẹ Maria ở trong đền thờ, ẵm Chúa Hài Đồng trong tay, Thiên Chúa hiện ra với Mẹ, mặc dầu không phải trực diện, Mẹ Maria được nâng lên và đầy ơn Chúa Thánh Thần. Trong thị kiến không trực diện này, Đấng Tối Cao thăm viếng, chuẩn bị Mẹ Maria chịu đựng những gian khổ cực nhọc đang chờ đợi. Thiên Chúa nói: “Người Yêu Dấu và Chim Bồ Câu của Ta, các ước nguyện và ý muốn của Người đẹp ý Ta, Ta luôn hài lòng vì những điều đó. Nhưng Người không thể hoàn tất chín ngày tận hiến đã bắt đầu, vì Ta có sẵn những việc khác cho tình yêu của Người. Để bảo vệ mạng sống và nuôi dưỡng Thánh Nhi trưởng thành, Người phải rời khỏi nhà và quê hương, cùng với Thánh Nhi và phu quân Giuse chạy trốn sang Ai Cập và ở đó cho tới khi Ta chỉ dạy cách khác vì Herode đang tìm giết Thánh Nhi (Mt 1:13-14) Cuộc hành trình lâu ngày vất vả mệt nhọc nhất, Người hãy chịu những thứ đó vì Ta. Ta luôn ở với Người.”
Bất cứ đức tin và lòng can đảm nào chắc chắn cũng đã bị làm cho bối rối xáo trộn khi thấy Thiên Chúa toàn năng chạy trốn một thụ tạo bằng đất khốn nạn, mà Thiên Chúa phải làm như thế để cứu mạng sống mình, chẳng khác gì Chúa, Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là người, có thể sợ chết. Nhưng Đức Maria đã vâng phục không chút chống đối hoặc hoài nghi. Không chút bối rối nao núng vì lệnh truyền bất ngờ này, Mẹ đáp: “Lạy Thiên Chúa và Chúa của con, xin hãy nhìn nữ tì của Chúa với trái tim được chuẩn bị sẵn sàng chết vì yêu Chúa. Xin hãy phân định cho con theo thánh ý Chúa. Con chỉ xin Chúa vì lòng nhân từ vô cùng mà bỏ qua sự không xứng đáng và bạc bẽo của con. Xin Chúa đừng để cho Con và Chúa của con phải đau khổ. Xin Chúa trút mọi đau đớn vất vả lên con.” Thiên Chúa nói với Mẹ Maria về thánh Giuse, truyền cho Người nghe theo các chỉ dẫn của thánh nhân trong mọi sự liên quan đến cuộc hành trình. Tới đây Mẹ Maria ra khỏi thị kiến mà không mất đi việc sử dụng các giác quan ngoại tại trong khi vẫn ẵm Chúa Hài Đồng. Chỉ có phần thượng của linh hồn Mẹ Maria được đưa lên trong thị kiến này. Nhưng từ đó chảy tràn đầy ân sủng thánh hóa các quan năng và cho biết linh hồn Mẹ sống nhiều trong tình yêu hơn là nơi thân xác.
Do tình yêu khôn sánh Mẹ Maria dành cho Con cực thánh, trái tim hiền mẫu hết sức đau đớn vì nghĩ đến những vất vả nhìn thấy trước trong thị kiến đang đe dọa Chúa Hài Đồng. Nước mắt chan hoà, Mẹ Maria rời khỏi đền thờ trở về nơi tạm trú mà không nói cho thánh phu quân biết lý do sự đau buồn. Thánh Giuse nghĩ Mẹ Maria đau buồn vì lời ông Simêon tiên tri. Vì thánh Giuse trung tín yêu thương, hết lòng lo lắng cho Mẹ Maria, ngài bối rối khi thấy Mẹ nước mắt chan hòa quá sức đau buồn nhưng lại không nói cho ngài biết nguyên cớ. Sự bối rối của linh hồn thánh Giuse là một trong những lý do để các thiên thần nói với ngài đang khi ngủ, tương tự khi nói về việc thai nghén của Đức Nữ Vương thiên đàng. Cũng đêm đó, khi thánh Giuse đang ngủ, thiên thần Chúa hiện ra nói với ngài như thánh Mátthêu ghi lại: “Hãy chỗi dậy, đưa Con Trẻ và Mẹ Ngài trốn sang Ai Cập, và ở lại đó cho tới khi tôi trở lại cho biết lời chỉ dạy khác; vì Herode đang tìm giết Con Trẻ” (Mt 1:13-14).
Thánh Giuse lập tức chỗi dậy trong lo âu buồn rầu, ngài cũng đoán được sự đau khổ lo âu của hiền thê hết sức yêu quí. Đi vào phòng Mẹ Maria, thánh Giuse nói: “Thưa Bà Chủ của tôi, Chúa muốn chúng ta chịu đau khổ. Thiên thần Chúa báo cho tôi biết sự vui lòng và quyết định của Đấng Toàn Năng muốn chúng ta chỗi dậy đem Chúa Hài Đồng trốn sang Ai Cập vì Herode đang tìm giết Chúa. Bà Chủ của tôi, xin Người can đảm chịu đựng những gian khổ trong cuộc hành trình này, xin cho tôi biết tôi có thể làm gì để Người bớt cực khổ, vì tôi chỉ sống để phục vụ Con của Người và chính Người.”
Mẹ Maria đáp: “Thưa phu quân và chủ nhân của thiếp, chúng ta đã nhận được từ tay Đấng Tối Cao các ân sủng cao cả, và điều chính đáng là chúng ta vui vẻ chấp nhận những đau khổ tạm bợ (Gióp 2:13) Chúa gởi cho. Chúng ta đưa đi với chúng ta Đấng tạo thành trời đất, nếu Chúa để chúng ta ở sát bên Ngài thì quyền lực nào có thể làm hại chúng ta, cho dù là quyền lực của Herode?

Chúng ta đưa đi với chúng ta tới bất cứ nơi nào Đấng cực tốt lành, Đấng là kho tàng thiên đàng tối cao, Chúa chúng ta, là Người Dẫn Đường và Ánh Sáng của chúng ta thì không nơi nào có thể là hoang địa được. Chúa chính là nơi chúng ta nghỉ ngơi, phần phúc và quê hương chúng ta. Chúng ta có mọi sự tốt lành khi có Chúa đồng hành, chúng ta hãy tiến hành để chu toàn thánh ý Chúa.” Mẹ Maria và thánh Giuse đến bên nôi Chúa Hài Đồng. Đức Hiền Mẫu mở mền đắp cho Chúa ra mà không làm Chúa thức giấc; rồi Mẹ Maria, quì gối, đánh thức và ẵm Chúa lên. Chúa Hài Đồng, để làm cho Mẹ Maria tiến tới tình yêu vĩ đại hơn nữa và để tỏ ra Chúa là người thực, đã khóc lên một chút (Kỳ diệu thay Đấng Tối Cao trong những điều mà đối với sự suy xét của chúng ta cho là qúa nhỏ bé)! Nhưng Chúa Hài Đồng đã sớm nín khóc, khi Đức Hiền Mẫu rất thánh và thánh Giuse xin Chúa chúc lành, Chúa đã cho Hai Đấng thấy cử chỉ rõ ràng. Sau khi gom hết các hành trang nghèo nàn vào một cái giỏ và chất lên lưng con lừa được đem theo từ Nazareth, Thánh Gia ra đi lúc sau nửa đêm một chút.
LỜI MẸ MARIA

Con của Mẹ, điều đặc biệt con phải học trong chương này là làm quen với việc khiêm nhượng tạ ân về các hồng ân con nhận được. Trong nhiều thế hệ, con được ưu ái quá sức đặc biệt bằng những ân sủng dồi dào do việc Con của Mẹ và Mẹ đến thăm mà không vì một chút xứng đáng nào của con. Mẹ đã thường lặp lại nhiều lần lời vua David: “Con sẽ dâng gì lên Chúa để đền đáp tất cả những ơn Chúa đã ban cho con?” (Tv 15:12). Với những ý nghĩ như thế Mẹ đã hạ mình thành bụi đất, coi mình hoàn toàn vô dụng giữa mọi tạo vật. Nếu con biết Mẹ đã làm những gì với tư cách là Mẹ Thiên Chúa, con hãy suy xét xem con phải làm gì và với hết lòng chân thành con thú nhận rằng con không xứng đáng với những ơn đã được, con đã dâng những lời cảm tạ đền đáp quá sức nghèo nàn. Con phải bù đắp sự bất toàn nghèo nàn của con bằng việc dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu bánh hằng sống là Con Một yêu dấu của Ngài, nhất là khi con rước Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể và Chúa ở trong con. Trong trường hợp này, con phải bắt chước lời thánh David, sau khi ông hỏi Chúa ông phải dâng lại gì để đền đáp các hồng ân Chúa ban: “Con sẽ uống chén cứu độ, và con sẽ kêu thánh danh Chúa” (Tv 115:13). Con phải nhận ơn cứu độ, làm cho nở sinh hoa trái bằng sự trọn lành của các việc con làm, kêu cầu Thánh Danh Chúa, dâng lên Chúa Cha Con Một yêu dấu của Ngài. Vì Chúa Cứu Thế chính là Đấng ban ơn cứu độ, Đấng giành được ơn đó, Đấng mà chỉ một mình Ngài có thể là sự dâng trả lại xứng đáng đối với những ân sủng được ban cho loài người, đặc biệt là cho con. Mẹ đã cho Chúa thân xác để có thể đối thoại với loài người, trở nên tài sản riêng của từng người. Chúa Giêsu ẩn mình dưới hình bánh và rượu để thích hợp với nhu cầu từng người, để mọi người có thể coi Chúa là của riêng mình, thích hợp để dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu. Theo cách này, Chúa Giêsu ban cho từng người lễ vật dâng hiến mà không một ai có thể dâng thứ khác được, và Đấng Tối Cao hài lòng với của lễ hiến dâng đó, vì không thứ gì đáng được chấp nhận hơn, cũng không thứ gì quí giá hơn mà nhân loại có thể có được.
Thêm vào với hiến lễ này là sự hoàn toàn ký thác và nhẫn nại bình tĩnh chịu đựng những vất vả khó khăn trong cuộc sống đời này. Con chí thánh Mẹ và Mẹ là những Thầy vĩ đại dạy việc thi hành giáo lý này. Con của Mẹ bắt đầu giảng dạy giáo lý: ký thác chịu đựng vất vả đau khổ từ khi bẩm thai trong lòng Mẹ. Ngay từ ngày đó, Chúa bắt đầu chịu đau khổ. Khi sinh xuống trần gian, Chúa Giêsu và Mẹ đã bị Herode xua đuổi chạy vào sa mạc, và Chúa cứ tiếp tục chịu mọi đau khổ cho tới khi chết trên thánh giá. Mẹ cũng đã vất vả cho tới ngày cuối đời, như con sẽ được cho biết ngày càng nhiều khi viết lịch sử này. Chúa Giêsu và Mẹ đã chịu đau khổ quá sức vì loài người để cứu độ họ. Mẹ muốn con bắt chước Chúa Giêsu và Mẹ thi hành thánh ý Chúa với tư cách người yêu dấu của Ngài và là con gái Mẹ. Con hãy chịu đau khổ với trái tim đại lượng để đem về cho Chúa và Phu Quân của con các linh hồn vô cùng quí báu, được chuộc bằng chính máu Chúa. Con không bao giờ được trốn chạy những vất vả, khó khăn, cay đắng và đau khổ, nếu nhờ đó con giành được một linh hồn cho Chúa, hoặc nếu có thể khuyên được linh hồ đó từ bỏ đường tội lỗi mà đi vào con đường sự sống. Đừng để cho con bị quá vô dụng nghèo nàn, hoặc các ước vọng và vất vả của con đem lại ích lợi quá ít ỏi khiến con nản lòng. Con không thể biết Chúa sẽ chấp nhận những việc đó như thế nào và Chúa cho rằng Người được phục vụ chừng nào. Ít nhất con hãy ước ao làm việc chuyên cần và không ăn bánh mà không xứng công ở trong nhà Chúa (Cn 31:27).


CHƯƠNG 8

HÀNH TRÌNH TRỐN SANG AI CẬP

Giữa đêm khuya, các Vị Lữ Khách thiên quốc rời khỏi Jerusalem dấn (rấn) bước lưu vong trong âm thầm tăm tối. Mẹ Maria và thánh Giuse lo lắng ngập lòng vì các Ngài đưa Kho Tàng thiên quốc đi vào miền đất lạ. Chính Chúa cho Mẹ và thánh dưỡng phụ cơ hội lo lắng để củng cố sức mạnh cho các ngài bằng đức tin và trông cậy. Mẹ Maria và thánh dưỡng phụ không biết những gì sẽ xảy ra suốt hành trình, cũng không biết khi nào chấm dứt. Các ngài cũng không biết làm cách nào sinh sống tại Ai Cập, nơi hoàn toàn xa lạ, cũng không biết có thể tìm được những tiện nghi gì tại đó để dưỡng nuôi Chúa Hài Đồng. Cấp thời nhất là Mẹ Maria và thánh Giuse không biết làm cách nào tránh cho Chúa Sơ Sinh những khổ cực tột độ dọc đường. Trái tim Mẹ và thánh dưỡng phụ đầy lo âu khắc khoải khi Thánh Gia từ nơi tạm trú vội vã ra đi. Nhưng nỗi đau buồn của Mẹ Maria và thánh Giuse được giảm nhẹ nhiều khi các thiên thần hộ vệ lại hiện ra với muôn vẻ rạng rỡ oai hùng biến bóng đêm thành ngày rực rỡ nhất cho các Vị Lữ Khách. Khi Thánh Gia rời khỏi cổng thành, các thiên thần sấp mình thờ lạy Ngôi Lời nhập thể trên cánh tay Đức Trinh Mẫu. Các thiên thần cũng khuyến khích Đức Hiền Mẫu, và cho biết thánh ý Thiên Chúa muốn các ngài hướng dẫn và hộ vệ Mẹ suốt hành trình.
Thánh Gia lưu lại thị trấn Gaza hai ngày; thánh Giuse và con lừa đỡ chân Mẹ đều mệt nhoài. Từ đây Mẹ Maria và thánh Giuse để người nô bộc của thánh Elisabeth trở về, căn dặn anh ta không được nói cho bất cứ ai biết Thánh Gia ở đâu. Nhưng Thiên Chúa còn dự liệu cẩn thận hơn chống lại mối nguy hiểm này, đã làm cho anh ta không nhớ chút gì về những điều thánh Giuse căn dặn phải giữ kín, do đó anh ta chỉ còn nhớ lời Mẹ Maria nhắn gởi bà Elisabeth. Đức Maria phân phát cho người nghèo khó các quà tặng do bà Elisabeth gởi tới. Mẹ dùng vải bà Elisabeth tặng để may áo choàng mặc ấm cho Chúa và thánh Giuse chống những rét lạnh của thời tiết khắc nghiệt trong cuộc hành trình. Mẹ cũng dùng những thứ khác thuộc sở hữu của Thánh Gia để làm cho Chúa Hài Đồng và thánh dưỡng phụ bớt cơ cực. Đức Trinh Mẫu không ỷ vào trợ giúp phép lạ khi nào Người có thể chu tất các nhu cầu hàng ngày bằng sự cần cù lao động, vì trong những vấn đề này Người muốn tuân theo trật tự tự nhiên và nỗ lực của chính mình. Trong hai ngày lưu lại thị trấn Gaza, Mẹ Maria đã thực hiện một vài việc kỳ diệu để ban muôn ơn phước cho thị trấn này. Mẹ cứu hai người khỏi chết, chữa nhiều người khỏi bệnh tật đau đớn. Mẹ làm cho một phụ nữ tứ chi bất toại sử dụng được tay chân như bình thường. Mẹ ban ơn siêu nhiên nhận biết Thiên Chúa, ơn thay đổi cuộc sống cho nhiều người gặp và nói chuyện với Mẹ. Tất cả những người này cảm thấy họ được thúc đẩy chúc tụng Đấng Tạo Hoá.
Đến ngày thứ ba, các Vị Lữ Khách của chúng ta rời khỏi thị trấn Gaza đi Ai Cập. Ngay sau khi rời khỏi xứ Palestine, Thánh Gia vượt qua sáu mươi dặm trên sa mạc Bersabe để tới ngụ cư tại Heliopolis, ngày nay là Cairo, Ai Cập. Hành trình băng sa mạc mất nhiều ngày, vì mỗi ngày Thánh Gia chỉ đi được một đoạn đường rất ngắn, không những chỉ vì bước đi cực khổ trên bãi cát lún sâu, mà cũng vì khổ cực do thời tiết khắc nghiệt mà không có chỗ trú ẩn. Để hiểu Mẹ Maria thánh Giuse và Chúa Hài Đồng chịu khổ cực chừng nào trong chuyến đi này, cần phải nhớ rằng Đấng Toàn Năng để cho Con Một vô cùng yêu dấu, cùng với Đức Hiền Mẫu và thánh dưỡng phụ phải chịu mọi thiếu thốn gian khổ đương nhiên xảy ra khi đi qua sa mạc. Suốt hành trình qua sa mạc, Thánh Gia chỉ có vòm trời, gió lộng, làm nơi trú qua đêm; hơn nữa, lúc đó là giữa mùa đông. Trong đêm thứ nhất nơi sa mạc toàn cát này, Thánh Gia nghỉ dưới chân một đồi cát nhỏ, nơi trú ẩn duy nhất Thánh Gia có thể tìm được. Đức Hiền Mẫu bồng Chúa Hài Đồng ngồi ngay trên bãi cát, ăn chút thực phẩm cùng với thánh phu quân. Mẹ Maria cũng cho Chúa Hài Đồng bú. Chúa Hài Đồng đã làm cho Đức Hiền Mẫu và thánh dưỡng phụ hoan hỉ bằng việc tỏ ra sự hài lòng của Chúa. Để cung cấp cho Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu Maria thứ gì che sương gió, dù nhỏ bé khiêm tốn, thánh Giuse làm cái lều bằng chính áo choàng của ngài và vài cái que (gậy nhỏ, ngài đem theo) chống làm khung. Trong đêm đó, muôn ngàn thiên thần đã tạo thành hàng rào bảo vệ chung quanh Đức Vua và Đức Nữ Vương. Mẹ Maria thấy Con Thiên Chúa của Mẹ dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu những khổ cực vất vả của chính Chúa, của Mẹ và thánh Giuse. Gần suốt đêm đó Mẹ Maria kết hợp trong lời cầu nguyện và các hành động khác của linh hồn cực thánh Chúa. Chúa Hài Đồng ngủ một chút trong cánh tay Mẹ, nhưng Mẹ Maria vẫn thức nói chuyện với Đấng Tối Cao và các thiên thần. Thánh Giuse ngồi ngủ trên cát, đầu gục xuống ngực, trước ngực ngài đeo túi y trang và các vật dụng khác.
Thánh Gia giong ruổi hành trình. Số trái cây, bánh và nước dự trữ ít ỏi đã sớm hết; Thánh Gia phải chịu thiếu thốn đói khát cùng cực. Cả Mẹ Maria và thánh Giuse đều cảm thấy tình trạng thiếu thốn này rất trầm trọng. Một trong những ngày đầu hành trình, các ngài không ăn uống chút gì cho tới khuya. Ít ngày sau, những thực phẩm sơ sài thanh đạm nhất cũng không còn. Bản chất tự nhiên đòi phải có chút gì giải khát sau những gian khổ mỏi mệt của chuyến đi. Vì không có cách nào tiếp tế nhu cầu của Thánh Gia bằng phương tiện tự nhiên, Đức Nữ Vương thiên đàng cầu cứu Đấng Tối Cao: “Lạy Thiên Chúa hằng hữu, cao cả và uy quyền, con cảm tạ chúc tụng Chúa vì lòng nhân từ đại lượng vô biên của Chúa. Không vì con xứng công gì mà chỉ nhờ lòng Chúa thương đoái nhìn, Chúa cho con mạng sống thân xác con, mặc dù con chỉ là bụi đất và thụ tạo vô dụng, con chưa đền đáp được xứng đáng vì các đặc ân này; làm sao con dám xin điều con không thể đền đáp? Nhưng, lạy Chúa và Cha của con, xin nhìn đến Con Một vô cùng yêu dấu Chúa mà ban cho con thứ cần thiết giữ mạng sống tự nhiên của con và phu quân con, để con có thể phụng sự Ngôi Lời làm người cứu độ nhân loại.”
Để những lời kêu nài của Đức Hiền Mẫu cực dịu hiền có thể thốt ra từ những đau khổ lớn lao hơn, thêm vào với đau khổ do vất vả cơ cực đói khát, Đấng Tối Cao còn để cho Thánh Gia chịu đau khổ hơn vào những dịp khác. Trận mưa bão nổi lên làm cho Thánh Gia khổ cực và mịt mù. Gian khổ này còn làm cho trái tim đầy yêu thương của Đức Hiền Mẫu sầu phiền hơn nữa vì thương Chúa Hài Đồng mới chưa được năm mươi ngày. Mặc dầu Mẹ Maria ủ bọc Chúa bằng hết khả năng, Mẹ đã không thể giữ cho Chúa không cảm thấy sự khắc nghiệt của thời tiết. Chúa khóc lệ đầm đìa run rẩy vì lạnh y như các trẻ nhỏ khác. Khi đó Đức Hiền Mẫu dùng quyền là Nữ Vương mọi tạo vật truyền cho mưa bão không được làm đau đớn Đấng Tạo Hoá của chúng, mà phải dâng lên Chúa nơi ở yên tĩnh, và trút mọi ác độc của chúng trên một mình Mẹ. Cũng như trong dịp Chúa giáng sinh và hành trình lên Jerusalem, lần nữa gió lập tức giảm cường độ, trận bão dịu đi, không dám tới gần Thánh Gia nữa. Để đáp lại lòng lo lắng yêu thương này, Chúa Hài Đồng Giêsu truyền cho các thiên thần giúp đỡ Đức Hiền Mẫu cực nhân từ và che Thánh Gia khỏi sự nghiệt ngã của thời tiết. Các thiên thần lập tức tuân lệnh tạo thành một bầu tròn đẹp rực rỡ bao quanh Thánh Gia. Việc này diễn ra nhiều lần suốt hành trình vượt sa mạc.
Thánh Gia cơ cực vì thiếu thốn lương thực và những thứ khác không thể nào có được theo khả năng loài người. Thiên Chúa để cho Thánh Gia rơi vào hoàn cảnh thiếu thốn này để khi nghe những lời cầu nguyện đáng chấp nhận của Người Yêu Dấu, Chúa có thể ban lương thực qua tay các thiên thần. Các thiên thần đem tới bánh ngon và trái cây đúng mùa, mà hơn cả là nước uống hết sức ngọt ngào do chính các thiên thần làm ra và dâng lên. Kế đó tất cả các thiên thần hát ca chúc tụng cảm tạ Chúa, Đấng ban lương thực cho muôn loài vào đúng thời điểm, để những người nghèo khó được no thoả (Tv 135:25) những người mà mắt và lòng trông cậy gắn chặt vào sự Quan Phòng và lòng đại lượng của Chúa. Đó là lương thực mỹ vị Chúa thiết đãi ba Vị Khách Lưu Vong trong sa mạc Bersabe (3 Vua 19:3), đây cũng là sa mạc mà khi chạy trốn Jezabel, tiên tri Elias được bổ dưỡng bằng bánh do thiên thần đem tới để ngài có thể đi tới núi Horeb.
Cuộc hành trình gian khổ kéo dài cho tới khi Thánh Gia tới thị trấn có người cư ngụ ở Ai Cập. Khi đi vào các thị trấn, Chúa Hài Đồng, ở trên tay Đức Hiền Mẫu, ngước nhìn và đưa hai tay lên Thiên Chúa Cha xin ơn cứu độ cho cư dân trong các thành đó bị Satan khống chế. Chúa Hài Đồng dùng quyền năng vô cùng xua đuổi quỉ ra khỏi các tượng thần và liệng chúng xuống hoả ngục. Cùng lúc đó các tượng thần nhào xuống đất vỡ nát, các bàn thờ vỡ ra từng mảnh, các đền thờ tà thần sụp đổ. Mẹ Maria biết rõ nguyên do những hiệu lực kỳ diệu này, vì Mẹ liên kết lời cầu nguyện của Mẹ với lời cầu nguyện của Con cực thánh trong tư cách là Đấng đồng công cứu chuộc nhân loại. Thánh Giuse cũng biết đây là việc Ngôi Lời nhập thể làm; ngài dâng lời chúc tụng tôn vinh Chúa. Nhưng lũ quỉ, mặc dầu chúng cảm thấy quyền lực Thiên Chúa, không biết quyền lực này phát xuất từ đâu.
Dân chúng Ai Cập, cả những người uyên bác, sửng sốt trước những việc xảy ra mà không thể giải thích. Từ ngày tiên tri Jeremia lưu trú ở Ai Cập tới nay vẫn còn lời truyền tụng rằng một Vị Vua người Do Thái sẽ tới và các đền thờ ngẫu thần sẽ bị hủy diệt. Mặc dầu có lời truyền tụng này, những người bình dân không biết chút gì, cả những học giả cũng không biết lời truyền tụng đó được thực hiện cách nào. Vì thế sự kinh hoàng lan tràn khắp nơi, như tiên tri Isaias đã báo trước (Is. 9:1). Giữa sự hỗn loạn sợ hãi này, một số người, suy nghĩ về các biến cố này, đã đến với những Vị Khách Lạ mới tới, họ cũng nói với các ngài về sự sụp đổ các đền thờ và tượng thần của họ. Nhân cơ hội này Đức Hiền Mẫu giải phóng những người này khỏi sự lừa dối; nói với họ về Thiên Chúa đích thực; dạy họ biết Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá duy nhất của cả trời đất, chỉ một mình Thiên Chúa phải được tôn thờ và nhìn nhận là Thiên Chúa. Các thần khác chỉ là tà thần dối trá, chỉ là gỗ, hoặc đất, hoặc kim loại được người ta làm ra, không có mắt nhìn, không tai nghe, cũng chẳng có quyền hành gì. Chính những người đã làm ra các tượng thần, hoặc bất cứ người nào khác, có thể tùy ý phá hủy các tượng đó. Những lời các tượng thần đó nói ra chỉ là những câu đối đáp ma quỉ dối trá lừa lọc nói qua các tượng đó; và cả ma quỉ cũng không có quyền năng gì, vì chỉ có một Thiên Chúa đích thực mà thôi.
Lời Mẹ Maria dịu dàng nhân từ, đồng thời cũng tràn đầy sức sống và uy lực. Gương mặt Mẹ Maria hết sức yêu kiều, các lời Mẹ nói được kèm theo những hiệu lực hết sức tốt lành. Tin tức loan truyền về việc hiện diện của các Vị Lữ Khách lạ lùng này mau chóng loan truyền khắp nhiều thị trấn. Nhiều người tụ lại để xem và nghe lời Mẹ Maria và thánh Giuse. Những lời cầu nguyện đầy uy lực của Ngôi Lời nhập thể đã làm thay đổi các trái tim, việc vỡ nát các tượng thần gây ra sự chấn động khó tin giữa những người này, cấy vào trí khôn họ sự hiểu biết về Thiên Chúa thực và lòng hối hận tội lỗi, nhưng không cho họ biết từ ai hoặc nhờ ai mà những hồng ân này đến với họ. Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse giong ruổi qua nhiều thị trấn Ai Cập, làm nhiều phép lạ khác nữa, xua đuổi ma quỉ không phải chỉ khỏi các tượng thần, mà còn xua đuổi chúng ra khỏi nhiều người bị chúng chiếm hữu, chữa nhiều người khỏi bệnh nguy kịch trầm trọng, soi sáng tâm trí người ta bằng các giáo lý về chân lý và cuộc sống vĩnh cửu. Do các ơn lành nhất thời này và các ân sủng khác, nhiều người tới nghe lời Mẹ Maria và thánh Giuse chỉ dạy về đời sống tốt lành hữu ích.
Ở nhiều nơi tại Ai Cập vẫn còn lưu truỵền các việc kỳ lạ Ngôi Lời nhập thể đã làm, gợi lên những khác biệt về ý kiến giữa các tác giả thần học và sử gia liên quan đến thị trấn, nơi các Vị Lữ Khách trú ngụ khi lưu vong tại Ai Cập. Một số người cho rằng Thánh Gia ngụ tại thị trấn này, người khác cho rằng ở thị trấn kia. Tuy vậy có thể tất cả các người đó đều đúng, vì mỗi người đó có thể nói tới một trong các giai đoạn khác nhau trong thời gian Thánh Gia ngụ tại Memphis, hoặc Babylon, hoặc Matarieh; vì Thánh Gia không phải chỉ ghé lại các thành phố này thôi, mà còn ghé lại nhiều nơi khác nữa. Tác giả được cho biết Thánh Gia đi qua các thành phố này rồi tới tạm cư tại Heliopolis, ngày nay là Cairo, thủ đô Ai cập. Các thiên thần hộ vệ nói cho Mẹ Maria và thánh Giuse biết Thánh Gia sẽ định cư tại Heliopolis. Ngoài những đổ nát của các đền thờ và các tượng thần xảy ra khi Thánh Gia tới thành phố này, cũng như tại những nơi khác, Chúa còn làm nhiều phép lạ khác nữa vì vinh quang Chúa và để cứu các linh hồn. Dân chúng tại Heliopolis (sự tốt phước của thành phố này đã được tiên báo trong tên của nó là “Thành phố Mặt Trời”) sẽ được thấy Mặt Trời Công Chính và ân sủng mọc lên chiếu sáng trên họ. Theo ý Chúa, thánh Giuse tìm mua một ngôi nhà nghèo nàn khiêm tốn làm nơi cư ngụ trong khu vực không xa thành phố, tuy nhiên thuận tiện, đúng như ý Mẹ Maria.
Mẹ Maria và thánh phu quân đã vui vẻ thích nghi với sự khó nghèo nơi căn nhà nhỏ bé của các ngài. Nhà này có ba phòng, Mẹ Maria và thánh Giuse dành một phòng làm thánh điện cho Chúa Hài Đồng dưới sự chăm sóc trìu mến của Đức Hiền Mẫu cực trinh khiết; trong đó đặt nôi Chúa nằm và chiếc giường mộc mạc gỗ trơn của Mẹ Maria. Mãi tới mấy ngày sau, do nỗ lực của thánh Giuse và nhờ lòng hảo tâm của các phụ nữ nhiệt thành, giường của Mẹ Maria mới có vải phủ. Một phòng dành làm nơi ngủ và cầu nguyện của thánh Giuse. Phòng thứ ba là xưởng mộc. Nhìn thấy tình trạng nghèo khó của Thánh Gia, hết sức chật vật khó kiếm đủ việc làm với nghề thợ mộc, Mẹ Maria quyết định trợ giúp thánh Giuse bằng thủ công để mưu sinh. Mẹ Maria tìm được việc thêu may nhờ sự giúp đỡ của các phụ nữ đạo đức.
Để có lương thực và y phục tối cần thiết, trang bị ngôi nhà dù hết sức khiêm tốn, trang trải các chi phí cần thiết, dường như Mẹ Maria phải làm việc suốt ngày và dành thời gian đêm cho việc cầu nguyện. Mẹ Maria quyết định việc này, không phải vì lý do lợi lộc, cũng không phải vì Mẹ không thể tiếp tục chiêm niệm ban ngày, vì Mẹ luôn làm việc trước sự hiện diện của Chúa Hài Đồng. Mẹ thường dành một số tiếng đồng hồ vào việc cầu nguyện đặc biệt. Mẹ muốn chuyển những giờ cầu nguyện đó sang ban đêm để có thêm thì giờ lao động, mà không phải xin hoặc trông chờ Thiên Chúa ban phép lạ trợ giúp cho bất cứ thứ gì Mẹ có thể tìm được do nỗ lực lao động. Mẹ Maria xin Thiên Chúa Cha hằng hữu ban trợ giúp cho Con cực thánh; nhưng đồng thời Mẹ tiếp tục lao động. Mẹ Maria liên kết lời cầu nguyện với lao động, để có được những thứ cần thiết cho cuộc sống.
Vì cái nóng dữ dội ở Ai Cập và nhiều bất ổn xảy ra trong dân chúng, tình trạng hỗn loạn đáng lo ngại lan tràn khắp nơi. Trong những năm Thánh Gia lưu lại Ai Cập, bệnh dịch tàn phá Heliopolis và nhiều nơi khác. Vì lời tường thuật về các việc lạ lùng của Thánh Gia, vô số người từ khắp Ai Cập đã đến với Thánh Gia và trở về nhà được chữa lành bệnh thể chất và linh hồn. Để hồng ân Chúa có thể tuôn ra dồi dào hơn nữa, để Thân Mẫu nhân từ của Chúa có thể có được sự trợ giúp trong các việc bác ái, Thiên Chúa đã truyền cho thánh Giuse giúp đỡ Mẹ Maria giảng dạy và chữa lành những người tật nguyền. Thánh Giuse được ban cho ơn soi sáng mới và quyền năng chữa lành bệnh. Mẹ Maria khởi sự dùng việc trợ lực của thánh Giuse vào năm thứ ba Thánh Gia ở Ai Cập. Thánh Giuse thường xuyên chỉ dạy, chữa lành bệnh cho nam giới, trong khi Mẹ Maria săn sóc các phụ nữ. Kết quả do việc lao động của Mẹ Maria và thánh Giuse nơi linh hồn người ta thiệt là khôn lường. Lòng nhân từ thương xót và hiệu lực bao la của lời Mẹ lôi kéo mọi người đến với Mẹ.
Sự khiêm tốn và thánh thiện của Mẹ đổ tràn đầy tâm hồn người ta lòng yêu mến nhiệt thành. Người ta dâng cho Mẹ Maria nhiều quà tặng và tài sản lớn lao, mong mỏi thấy Mẹ dùng những thứ đó, nhưng không bao giờ Mẹ nhận một thứ gì cho Mẹ, hoặc dành riêng để Mẹ sử dụng. Thánh Gia luôn tự túc mọi nhu cầu do sức lao động đôi bàn tay Mẹ và thánh Giuse. Đôi khi Mẹ nhận quà tặng để giúp người nghèo. Chỉ với ý niệm này mà đôi khi Mẹ Maria chịu nhường trước những lời nài nỉ trìu mến sốt sắng của các người nhiệt tâm. Ngay cả trường hợp đó, Mẹ Maria thường tặng lại cho họ những thứ do chính tay Mẹ làm ra. Từ những điều chúng tôi vừa mới kể, chúng ta có thể ước lượng được các phép lạ vĩ đại chừng nào và nhiều chừng nào đã được Thánh Gia làm trong bảy năm lưu vong tại Ai Cập và riêng tại Heliopolis.
Điều làm cho Mẹ Maria xúc động dâng lòng ngưỡng phục, yêu mến, chúc tụng lớn lao nhất lên Đấng Tối Cao là Thiên Chúa tỏ ra vô cùng đại lượng đối với các thánh Anh Hài. Mẹ biết rõ chẳng khác gì Mẹ hiện diện khi vô số hài nhi bị giết. Tất cả các hài nhi này, mặc dầu một vài bé chỉ mới được tám ngày, hai hoặc sáu tháng, không một hài nhi nào trên hai tuổi, đã sử dụng được lý trí, được ơn hiểu biết cao độ về Thiên Chúa, yêu mến, tin và trông cậy toàn hảo. Với các nhân đức này, các thánh Anh Hài thực hành nhiều hành động anh hùng về đức tin, tôn thờ, yêu mến Thiên Chúa; tôn kính, yêu mến cha mẹ. Các thánh Anh Hài cầu nguyện cho cha mẹ mình, xin được cho họ ơn soi sáng và thăng tiến trong việc thiêng liêng. Các thánh Anh Hài sẵn lòng chịu tử đạo, mặc dầu tuổi ấu thơ, làm cho những đau khổ của mình trở nên hết sức vĩ đại và tăng thêm công nghiệp. Muôn vàn thiên thần đưa linh hồn các thánh Anh Hài xuống lâm bô. Khi tới nơi, các thánh sơ sinh này làm cho các thánh tổ hân hoan, làm cho các ngài tin tưởng hơn, hy vọng ngày giải phóng mau tới. Tất cả những việc này là hiệu lực của lời cầu nguyện của Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu. Vì biết mọi việc kỳ diệu này, Mẹ Maria cháy lửa yêu mến nhiệt thành đã kêu lên: “Hỡi các con, hãy chúc tụng Chúa”. Hợp với các thánh Anh Hài, Mẹ chúc tụng Đấng là tác giả các kỳ công này, hết sức xứng hợp với Lòng Nhân Từ và Quyền Năng Vô Cùng của Chúa.
LỜI MẸ MARIA

Con của Mẹ, trong những điều con đã viết, Mẹ ước mong con học được từ chính sự lo buồn và sợ hãi mà với các điều đó con thi hành nhiệm vụ này. Con phải phiền sầu khi thấy một thụ tạo cao quí như loài người, được tạo dựng giống hình ảnh Chúa, được phú cho các tính chất linh thiêng cao quí, được ban cho khả năng hiểu biết, yêu thương, chiêm ngưỡng và vui hưởng Thiên Chúa hằng hữu, lại có thể tự để cho mình bị hạ giá, bị ô uế vì những tham vọng ác độc ghê tởm đến mức làm đổ máu các hài nhi vô tội. Con phải khóc vì sự suy vong của rất nhiều linh hồn, đặc biệt trong thời đại con sống, khi cũng tham vọng, đã xúi giục Herode, lại gây ra lòng ghen ghét thù hận lớn lao giữa con cái Giáo Hội, gây ra việc hư mất của vô số linh hồn, làm hư phí máu cực châu báu Con cực thánh Mẹ đổ ra để cứu chuộc nhân loại. Con hãy cay đắng phàn nàn về việc hư mất này.
Tuy nhiên con phải cảnh giác bởi những điều con đã thấy nơi người khác. Con hãy cân nhắc những hiệu lực của tham vọng thấm nhập các trái tim. Một khi tham vọng làm chủ trái tim, chúng sẽ đốt cháy trái tim bằng ham muốn khát vọng muốn đạt được kết quả, hoặc làm cho trái tim ngút lửa hận thù khi đối đầu với bất cứ chống đối nào. Con của Mẹ, con phải sợ hãi điều nguy hiểm này, không phải chỉ vì các kết quả con thấy nơi cao vọng của Herode, nhưng cũng vì những điều con thấy xảy ra từng giờ phút nơi người khác. Con phải cẩn trọng không để con bị bất cứ thứ gì, dù nhỏ mọn đến đâu, làm chủ con, vì chỉ một tia lửa nhỏ đủ để gây ra một đám cháy lớn. Mẹ vẫn thường nhắc lại với con cũng lời cảnh cáo này, Mẹ sẽ năng nhắc lại nữa cho con trong tương lai, vì khó khăn lớn lao nhất trong việc thực hành thánh đức là chết đi đối với tất cả những thứ gì làm thỏa mãn ngũ quan. Con không thể là dụng cụ thích hợp trong tay Chúa như Ngài muốn nếu con không tẩy sạch mọi quan năng của con khỏi hình ảnh mọi thụ tạo, để chúng không thể tìm được lối vào các ước vọng của con. Mẹ muốn cho con một luật không lay chuyển là, ngoài Thiên Chúa, tất cả mọi thứ, kể cả các thiên thần các thánh, phải như là không hiện hữu đối với con. Chúa đã mở cho con các bí mật thiên đàng, làm vinh hạnh cho con bằng sự thân mật yêu thương của Ngài, vì mục đích này Mẹ cũng làm vinh danh con với lòng yêu thương thân thiết của Mẹ, để con không sống cũng không muốn sống nếu không có Chúa.


CHƯƠNG 9

 

* SỰ HIỆP THÔNG TUYỆT VỜI GIỮA CHÚA GIÊSU VÀ MẸ MARIA;
* HÀNH TRÌNH TỪ AI CẬP TRỞ VỀ


Khi tròn một tuổi, Chúa Hài Đồng quyết định phá vỡ tình trạng câm nín và nói với thánh dưỡng phụ lần đầu tiên (Chúa đã nói với Mẹ Maria ngay từ khi Chúa giáng sinh). Mẹ Maria và thánh dưỡng phụ đang trao đổi về bản tính vô cùng của Thiên Chúa, lòng Chúa nhân từ thương yêu vô cùng mà vì đó Ngài gởi Con Một vô cùng yêu dấu đến trần gian để dạy đỗ và cứu chuộc nhân loại; Ngôi Lời mặc hình hài nhân loại để có thể đối thoại với loài người, gánh chịu những hình phạt vì các bản chất sa đoạ của họ. Thánh Giuse ngây ngất thán phục trước các kỳ công của Chúa, ngút lửa yêu mến tri ân và chúc tụng. Chúa Hài Đồng, trong vòng tay Đức Hiền Mẫu như trên ngai tòa khôn ngoan, đã dùng dịp này, bằng giọng rõ ràng nói với thánh Giuse: “Cha của Con, Con từ thiên đàng xuống trần gian để là ánh sáng soi thế gian, để cứu thế gian khỏi bóng tối tội lỗi, để tìm kiếm các chiên của Con như Mục Tử tốt lành, ban cho chúng của dinh dưỡng hằng sống, dạy chúng đường về trời, mở cửa thiên đàng đã từng bị đóng lại vì tội lỗi nhân loại. Con ước muốn cả cha và Mẹ là con cái của Ánh Sáng, mà cha và Mẹ có sẵn bên tay.”
Những lời này của Chúa Hài Đồng Giêsu, đầy sức sống thần linh, đổ tình yêu mới, lòng tôn kính và hoan lạc tràn đầy trái tim thánh dưỡng phụ. Thánh Giuse quì xuống trước mặt Chúa Hài Đồng, với lòng khiêm tốn thẳm sâu, ngài tạ ơn Chúa vì đã gọi ngài là “cha” trong lời đầu tiên nói với ngài. Thánh Giuse mắt đẫm lệ xin Chúa soi sáng và cho ngài đủ khả năng chu toàn thánh ý Chúa, xin dạy ngài biết tạ ân vì những ân sủng khôn sánh do lòng nhân từ đại lượng của Chúa. Các cha mẹ thường xúc động, hãnh diện khi thấy con cái tỏ ra những dấu đặc biệt khôn ngoan đức hạnh. Các cha mẹ thường có khuynh hướng tán dương, bắt chước những cử chỉ, lời nói ngây thơ của con cái. Tất cả những việc này đều do lòng trìu mến yêu thương con cái thơ ngây của họ. Mặc dầu thánh Giuse không phải là thân phụ, mà chỉ là dưỡng phụ của Chúa Giêsu, tình ngài yêu Chúa vượt xa mọi tình yêu của tất cả mọi người cha yêu con cái họ. Lòng ưu ái, ngay cả tình yêu tự nhiên nơi thánh Giuse cũng mãnh liệt hơn nơi mọi người khác, hơn tất cả mọi cha mẹ cộng lại. Trong khi lắng nghe sự khôn ngoan và sự hiểu biết đáng ca tụng vô cùng nơi Chúa Hài Đồng, thánh Giuse nghe mình được gọi là “cha của Con Thiên Chúa Cha hằng hữu”, thấy mình được hết sức đẹp đẽ trong thánh sủng. Do đó niềm vui trong linh hồn ngài phải được đo bằng tình yêu và ý thức sâu sắc của ngài trong địa vị “dưỡng phụ của Chúa Hài Đồng Giêsu”.
Từ khi Chúa giáng sinh cho tới nay, Đức Hiền Mẫu Maria bọc Chúa Hài Đồng trong khăn tã thường dùng cho các trẻ thơ, vì Chúa muốn, trong trường hợp này, giống như mọi hài nhi khác. Vì muốn chứng minh nhân tính đích thực và tình yêu đối với loài người, Chúa chịu đựng điều bất tiện mặc dầu không đòi hỏi Chúa phải chịu. Tình yêu vô biên của Chúa cho nhân loại làm cháy lên trong Mẹ Maria lòng cảm tạ đầy yêu thương đối với Chúa, tạo ra trong Mẹ nhiều hành động anh hùng thánh đức. Vì thấy Chúa Hài Đồng Giêsu không muốn mang giày dép và chỉ cần một tấm áo, Mẹ Maria nói với Chúa: “Con và Chúa của mẹ, mẹ của Con không lòng nào để Con đi chân trần lúc tuổi non nớt. Con yêu dấu của mẹ, hãy cho phép mẹ làm thứ gì để bọc chân Con. Mẹ cũng sợ rằng thứ vải thô cứng, mà Con xin mẹ may, sẽ làm đau thân xác non nớt của Con, nếu Con không cho phép mặc cho Con áo lót mềm bên trong.” Chúa nói với Mẹ Maria: “Thưa Mẹ của Con, Con xin vui lòng để thứ vật liệu nhẹ thông thường lót chân Con cho tới ngày Con rao giảng công khai, vì Con phải đi chân trần trong giai đoạn đó. Nhưng Con không muốn mặc đồ lót mỏng, vì nó khích thích khoái lạc thân xác, và là nguyên nhân nhiều tật xấu xa nơi nhân loại. Con muốn, bằng gương sáng của Con, dạy mọi người từ bỏ khoái lạc xác thịt vì yêu mến bắt chước Con.”
Từ khi Chúa Hài Đồng Giêsu đứng đi được, Chúa khởi sự rút về ẩn dật, sử dụng một số giờ ban ngày trong phòng cầu nguyện của Thánh Mẫu Maria yêu dấu. Vì Đức Hiền Mẫu cực khôn ngoan lo lắng tìm biết những điều Chúa muốn Mẹ đối xử với Chúa, Chúa đáp lời cầu khẩn âm thầm của Mẹ: “Thưa Mẹ của Con, Mẹ hãy vào và ở lại với Con luôn để Mẹ có thể bắt chước Con trong các việc Con làm, vì Con muốn khuôn đúc và trưng bày trong Mẹ sự trọn lành cao vời mà Con muốn thấy được hoàn thành nơi các linh hồn. Nếu các linh hồn không chống lại những ý định đầu tiên của Con (1 Tim. 2:4), các linh hồn đã được ban cho những hồng ân dồi dào nhất. Nhưng vì nhân loại cản trở việc này, Con đã chọn Mẹ làm biển chứa mọi sự trọn lành và mọi kho tàng quyền năng của Con mà các người khác trong nhân loại đã sỉ nhục mà bị mất. Vì thế, Mẹ hãy quan sát theo dõi mọi hành động của Con để bắt chước Con.”
Mẹ Maria đã được canh tân làm Môn Đệ của Con cực thánh. Từ ngày đó trở đi những mầu nhiệm vĩ đại được trao đổi giữa Chúa Hài Đồng và Mẹ Maria, mà chỉ tới tận thế các mầu nhiệm đó mới được tỏ lộ. Nhiều lần Chúa Hài Đồng phủ phục trên đất, những lần khác Chúa đứng như hình thánh giá, tha thiết khẩn nài xin Thiên Chúa Cha cho việc cứu chuộc nhân loại. Đức Hiền Mẫu rất yêu dấu bắt chước Chúa trong các việc này, vì mọi việc làm của linh hồn cực thánh Chúa đều tỏ rõ cho Mẹ Maria, y như mọi cử chỉ bên ngoài của thánh thể Chúa. Tác giả đã nói về sự hiểu biết này của Mẹ ở nhiều phần khác trong sách này và cần phải năng được nhắc lại, vì đó là nguồn ánh sáng hướng dẫn Mẹ trong suốt cuộc đời rất thánh Mẹ. Đây là ân sủng đặc biệt mà toàn thể mọi thụ tạo chung lại cũng không thể nào hiểu được hoặc mô tả về hồng ân đó bằng tất cả khả năng của họ chung lại. Mẹ Maria không luôn được vui hưởng thị kiến Thiên Chúa, nhưng Mẹ được thấy nhân tính và linh hồn cực thánh cùng với tất cả mọi hoạt động của nhân tính và linh hồn Chúa Giêsu. Mẹ Maria đặc biệt chứng kiến các hiệu lực của việc hợp nhất nhân tính với thiên tính. Mẹ thấy các hành động nhân tính của Chúa âm thầm tôn thờ yêu mến, tôn vinh thiên tính mà nhân tính được kết hợp với; đặc quyền này chỉ được dành riêng cho Mẹ Maria.
Vào các dịp này Chúa Hài Đồng thường khóc toát mồ hôi máu trước sự hiện diện của Mẹ Maria, và xảy ra nhiều lần trước cuộc đau đớn quằn quại trong vườn Cây Dầu. Những dịp này Mẹ Maria lau mặt cho Chúa và Mẹ biết nguyên nhân của sự sầu phiền này. Nguyên do đó là sự hư mất của những kẻ bị biết trước sẽ trầm luân vì vong ân bội bạc đối với ân sủng của Đấng Tạo Hoá và Cứu Độ họ; nơi những người đó các công trình của quyền năng, lòng nhân từ vô cùng của Chúa bị lãng phí. Có những lần khác Mẹ thấy Chúa rực rỡ trong ánh sáng thiên đàng và các thiên thần vây quanh hát ca chúc tụng. Mẹ Maria cũng được biết Thiên Chúa Cha hài lòng nơi Con Một vô cùng yêu dấu (Mt. 17:5). Các việc lạ lùng này khởi đầu từ ngày Chúa tròn một tuổi và bắt đầu đi đứng, chỉ một mình Mẹ Maria được chứng kiến và trái tim Mẹ là kho tàng bao la tích chứa các kỳ công của Chúa.
Nhiều thiếu nhi ở Heliopolis tụ tập quanh Chúa Hài Đồng Giêsu, điều đó tự nhiên đối với các trẻ nhỏ cùng lứa tuổi và hoàn cảnh. Các trẻ nhỏ không có lòng ác độc quyết liệt, không thắc mắc tìm biết Chúa Hài Đồng có phải là siêu nhân hay không, chúng tự do tiếp nhận ánh sáng thiên đàng; Thầy dạy chân lý đã hoan hỉ đón tiếp các trẻ nhỏ này cách thích nghi. Chúa đổ vào lòng các thiếu nhi này sự hiểu biết Thiên Chúa và mọi thánh đức. Chúa dạy và giáo huấn chúng theo đường lối hằng sống, dồi dào hơn cho người lớn. Lời Chúa nói đầy sức sống mãnh liệt, chiếm trái tim chúng, ghi khắc các chân lý sâu xa vào lòng chúng, tất cả những trẻ nào được diễm phúc này, về sau đều trở thành vĩ nhân thánh thiện, vì theo thời gian các trẻ này làm cho mình thành trái chín mùi của hạt giống thiên đàng được gieo rất sớm vào linh hồn chúng.
Chúa Giêsu đã tròn bảy tuổi, mà đây cũng là kỳ hạn được Đấng Khôn Ngoan hằng hữu ấn định cho cuộc lưu đày huyền nhiệm của Chúa ở Ai cập. Để các lời tiên tri được hoàn tất, Chúa Cứu Thế cần phải trở lại Nazareth. Thiên Chúa Cha thông báo cho Con cực thánh vào một ngày có Đức Thánh Mẫu hiện diện cầu nguyện chung với Chúa. Mẹ Maria thấy quyết định của Thiên Chúa Cha phản chiếu trong linh hồn cực thánh Chúa, Mẹ thấy Chúa vâng lệnh Thiên Chúa Cha. Trong trường hợp này Mẹ kết hợp với thánh ý Chúa, mặc dầu Chúa và Mẹ đã quen với nơi cư ngụ hiện tại hơn là tại thị trấn quê nhà Nazareth. Cả Mẹ Maria và Chúa đều không nói cho thánh Giuse biết quyết định mới này của Thiên Chúa Cha. Nhưng trong chính đêm đó thiên thần Chúa nói với thánh dưỡng phụ khi ngài đang ngủ, như thánh Mátthêu kể lại, truyền cho ngài đem Chúa Giêsu và Đức Hiền Mẫu trở lại đất Do Thái, vì Herode và đồng bọn, những người từng tìm giết Chúa, đều chết cả rồi (Mt 2:19). Đấng Toàn Năng ban giá trị hết sức lớn lao trên trật tự chính đáng của các thụ tạo. Vì thế, cho dù Chúa Giêsu là Thiên Chúa thực và Mẹ Maria có địa vị hết sức cao vượt trên thánh Giuse về sự thánh thiện, Thiên Chúa không để Chúa Con hoặc Đức Hiền Mẫu đưa ra những sắp đặt cho hành trình này, mà chính thánh Giuse đảm trách vì ngài là gia trưởng. Thiên Chúa muốn dạy nhân loại biết Chúa muốn mọi thứ được quản trị theo trật tự tự nhiên mà Sự Quan Phòng của Chúa sắp đặt, các người bề dưới, những người trong nhiệm thể Giáo Hội có bổn phận phải tuân phục, vâng lời bề trên và các vị chủ chăn theo trật tự hữu hình, cho dù những người đó có thể trội vượt hơn các bề trên về nhân đức và trong một số lãnh vực khác.
Thánh Gia lên đường trở về Palestine có các thiên thần hộ vệ như ngày trốn đi. Mẹ Maria ngồi trên lưng lừa bồng Chúa Con trên gối, thánh Giuse đi bộ kề bên Thiên Chúa Con và Đức Hiền Mẫu. Những người quen biết và bằng hữu của Thánh Gia rất buồn trước tin Thánh Gia lên đường hồi hương vì họ mất đi các Vị Đại Ân Nhân. Nếu quyền năng Thiên Chúa không can thiệp, Thánh Gia hẳn đã khó lòng rời khỏi Heliopolis, vì dân chúng tại đây bắt đầu cảm thấy bóng đêm thống khổ âm thầm trùm lên trái tim họ khi Mặt Trời đã đánh tan bóng tối của màn đêm (Gioan 1:9) ra đi. Khi đi qua các thị trấn Ai Cập, Thánh Gia ban phát muôn ân sủng cho mọi người tại các vùng có dân cư. Tin tức về Thánh Gia lên đường hồi hương được loan truyền khắp nơi, những người đau ốm, tật nguyền bất hạnh tụ tập đón Thánh Gia đi ngang qua. Nhiều người bệnh tật được chữa lành, ma quỉ bị xua trừ ra khỏi người ta nhưng không biết Ai đã liệng chúng trở lại hoả ngục mặc dầu chúng cảm thấy quyền lực Thiên Chúa khống chế chúng và ban muôn ơn lành cho người ta.
Thánh Gia về tới quê nhà Nazareth, vì Chúa Cứu Thế phải được gọi là Người Nazareth. Thánh Gia thấy ngôi nhà khiêm tốn cũ được người bà con phía thánh Giuse coi sóc cẩn thận, người bà con này đã giúp đỡ thánh Giuse trong khi Mẹ Maria ở lại nhà bà Elisabeth. Người bà con giữ nhà hết sức vui mừng chào đón Thánh Gia; bà rất yêu mến Mẹ Maria, mặc dầu lúc đó bà không biết chút gì về địa vị Mẹ. Mẹ Maria dắt Chúa Hài Đồng đi vào trong nhà cùng với thánh Giuse. Lập tức Mẹ Maria quì phục xuống đất thờ lạy cảm tạ Chúa đã hướng dẫn Thánh Gia an toàn thoát khỏi lòng ác độc của Herode và an toàn trở lại ngôi nhà này, đã gìn giữ Thánh Gia thoát khỏi mọi nguy hiểm trong cuộc lưu vong và suốt các hành trình dài gian khổ. Hơn hết tất cả là Mẹ cảm tạ Chúa vì đã được trở về cùng với Con cực thánh, lúc này trưởng thành cả về tuổi tác, về ân sủng và thánh đức (Lc. 2:40).
Theo lời cố vấn của Chúa Con, Mẹ Maria đặt ra qui luật cho cuộc sống, sắp đặt các việc thực hành đạo đức của Mẹ. Mẹ đã luôn giữ kỷ luật tột đỉnh trọn hảo tùy theo mọi hoàn cảnh để bắt chước Con cực thánh. Lúc này yên lành ổn cư, Mẹ Maria muốn làm nhiều việc thực hành tu đức mà đã không thể nào thực hiện được trong cuộc hành trình. Lòng khao khát lớn lao nhất của Mẹ là luôn kết hợp với Con cực thánh trong việc cứu vớt các linh hồn; việc này đã được Thiên Chúa Cha hằng hữu truyền cho Mẹ cách cực kỳ khẩn cấp. Nhắm mục đích tối thượng này, Mẹ kết hiệp tất cả mọi thực hành của Mẹ với Chúa Cứu Thế, đây là việc làm không khi nào ngưng của Chúa và Mẹ Maria. Thánh Giuse tận tụy làm mọi việc và nghề nghiệp của ngài. Những điều mà các con cháu khác của Adong cho là hình phạt và khổ cực lại là niềm hạnh phúc cao cả đối với thánh Giuse. Thánh Giuse được chọn để bằng sức cần lao và mồ hôi nuôi dưỡng chính Thiên Chúa làm người và Đức Hiền Mẫu, Đấng mà cả trời đất và mọi sự trong trời đất đều thuộc sở hữu (Est. 13:10).
Mẹ Maria đích thân thi hành việc đền đáp công ơn thánh Giuse vì những vất vả lo lắng của ngài. Mẹ lo lắng bữa ăn, chăm sóc an ủi ngài với lòng quan tâm ân cần, biết ơn và yêu thương chí tình. Mẹ Maria vâng phục thánh Giuse trong mọi sự, khiêm tốn đối với ngài chẳng khác gì Mẹ là nữ tì chứ không phải hiền thê, hoặc, hơn nữa, Mẹ tự coi không phải là Mẹ Đấng Tạo Thành và Chúa muôn loài. Mẹ Maria coi mình không xứng đáng hiện hữu và bị đau khổ phải bước đi trên đất. Mẹ nghĩ Mẹ phải được để cho thiếu thốn mọi thứ. Mẹ xây đắp trong Mẹ lòng khiêm tốn lạ lùng, tự coi mình hèn kém và không xứng đáng hòa lẫn với bụi đất. Mẹ Maria dâng lên Chúa lời tạ ân chân thành vì những ơn dù nhỏ nhặt nhất, vì Chúa là nguyên nhân chính và nguồn gốc mọi ân sủng. Mẹ cũng cám ơn toàn thể thụ tạo vì chúng là dụng cụ của lượng từ bi hải hà. Mẹ Maria cám ơn những người đã làm ơn cho Mẹ. Mẹ cám ơn những người đã từ chối giúp đỡ Mẹ. Mẹ cũng cám ơn những người kiên nhẫn chịu đựng Mẹ. Mẹ Maria nhìn nhận Mẹ mắc nợ tất cả mọi người, mặc dầu Mẹ ban cho họ muôn ân sủng, và Mẹ tự đặt mình dưới chân mọi người. Mẹ tìm các phương cách khôn ngoan giữ không để mất một giây phút hoặc cơ hội nào thực hành sự trọn lành tột đỉnh và các thánh đức cao cả trước sự thán phục của các thiên thần và làm hài lòng Đấng Tối Cao.
LỜI MẸ MARIA

Con của Mẹ, trong khi Mẹ phải lưu vong từ nước này tới nước khác và trong mọi việc Mẹ làm, trái tim Mẹ không bao giờ bối rối, tinh thần Mẹ không bao giờ sa sút, Mẹ luôn sẵn sàng chu toàn mọi thánh ý Thiên Chúa. Chúa cho Mẹ biết các mục đích cao cả của Ngài, tuy nhiên việc này không phải luôn được thực hiện ngay từ lúc khởi đầu vì Chúa muốn Mẹ chịu đựng nhiều đau khổ lớn lao hơn nữa; và vì trong việc vâng lời Chúa, không lý do nào cần thiết hơn là chính Chúa Đấng Tạo Thành an bài mọi sự. Các linh hồn phải tập cho quen việc chỉ tìm kiếm nguyên do duy nhất này, chỉ tìm làm vui lòng Chúa, mà không phân biệt cơ hội may mắn hoặc rủi ro, cũng không để ý tới ý thích riêng của mình. Mẹ muốn con tiến tới trong việc khôn ngoan này. Trong việc bắt chước Mẹ chu toàn mọi bổn phận đối với Con cực thánh Mẹ, con hãy đón nhận sự sung túc hoặc bất hạnh trong cuộc sống trần thế này cách bình tĩnh, với sự điềm đạm và bình an trong trí khôn. Con đừng để người này làm cho con đau lòng, cũng đừng để người khác làm cho con vui mừng cách vô ích; nhưng chỉ chăm chú làm những điều Chúa muốn và vui lòng Chúa.
Đời sống nhân loại trộn lẫn muôn thứ khác nhau thuộc cả hai trường hợp; họ ưa thứ này, nhưng ghét thứ kia; họ ghê tởm thứ này, lại ước ao thứ khác. Trái tim nhân loại hữu hạn hẹp hòi hướng về các cực đoan cách thái quá, tham lam vô bờ điều nó ưa thích, trái lại họ kêu ca khó chịu trước những thứ trái tim không ưa. Những tâm trạng hay thay đổi, dao động bất thường này tạo ra những nguy hiểm đối với tất cả hoặc nhiều nhân đức. Tình yêu không chính đáng đối với một tạo vật mà không đạt tới lập tức hướng linh hồn ước ao thứ khác, trông chờ niềm an ủi bù đắp nỗi thất vọng nơi ước mơ trước. Nếu thành công, linh hồn bị dính líu và bối rối vì khát vọng duy trì được thứ nó sở hữu, do đó những khát vọng mới chớm này đẩy linh hồn vào những xáo trộn và đam mê còn lớn lao hơn nữa.
Con yêu dấu của Mẹ, con hãy đề phòng mối nguy hiểm này, hãy tấn công tận gốc rễ của nó bằng việc giữ trái tim con độc lập, chỉ bám chặt vào Ơn Chúa Quan Phòng, không khi nào để cho trái tim con hướng về thứ gì nó ước muốn hoặc khát vọng, hoặc để nó ghê tởm điều làm đau đớn trái tim. Con hãy để cho thánh ý Chúa là nguồn hoan lạc và vui sướng duy nhất của con. Đừng để các ước vọng lôi kéo con, cũng đừng để cho những sợ hãi làm con nản lòng. Đừng để cho những việc làm bề ngoài của con và sự chú ý tới tạo vật cản trở con, hoặc làm con xao nhãng việc thi hành các nhân đức. Con hãy luôn noi gương Mẹ, yêu mến và chuyên cần dõi theo gót Mẹ.