PHẦN III

CHƯƠNG 1

 TUẦN CHÍN NGÀY

TRƯỚC KHI NGÔI LỜI NHẬP THỂ

Ít người biết Đức Maria, những người tiếp xúc với Người càng ít hơn. Những người này được rất nhiều ảnh hưởng siêu nhiên, niềm vui lạ lùng, tinh thần thanh thoát từ Đức Maria thông cho. Đức Maria không phải không biết những việc này của Đấng Tối Cao. Nhưng chưa tới thời điểm và vì khiêm tốn, Người xin Chúa đừng để các điều đó tỏ lộ cho thế giới, xin cho mọi đặc ân đó chỉ góp phần làm vinh danh Chúa, xin cho Người bị bỏ quên và coi thường, bao lâu lòng nhân từ vô cùng của Chúa không vì đó bị xúc phạm.

Suốt sáu tháng mười bảy ngày, khoảng thời gian từ ngày hứa hôn tới ngày Ngôi Lời Nhập Thể, Đức Maria đã bận bịu với những công việc đầy quả phúc tăng thêm các đặc ân, thánh sủng, mà từ đó xuất phát mọi sự tốt lành. Tác giả không thể mô tả, dù chỉ vắn tắt, những hành động anh hùng vĩ đại của Đức Maria về mọi nhân đức, nội tâm, ngoại tại, về các hành động của Đức Yêu Thương, Khiêm Tốn, và Đạo Đức. Điều tối đa tác giả có thể làm là tóm gọn: Đấng Tối Cao nhận thấy nơi Đức Maria mọi điều vui lòng Chúa và chu toàn mọi điều Chúa muốn, như có thể được trong tương quan của một thụ tạo với Đấng Tạo Hoá. Do sự thánh thiện và công nghiệp của Đức Maria, Thiên Chúa cảm thấy như thể bị ép buộc (theo cách chúng ta nói) xúc tiến mau việc vĩ đại tột đỉnh trong các việc lạ lùng là Con Một Vô Cùng Yêu Dấu của Thiên Chúa Cha nhập thể nơi lòng trinh khiết Đức Maria.

Để tiến hành cách uy nghiêm thích đáng, Thiên Chúa chuẩn bị Đức Maria đặc biệt liên tục chín ngày trước mầu nhiệm này, để cho dòng sông thiên tính tuôn trào mãnh liệt (Tv 45:5) làm lụt Thành Thánh này. Thiên Chúa đặc biệt ưu ái ban những ân sủng vĩ đại lạ lùng, khiến tác giả đứng sững chết trân không nói được, khi thấy những điều được tỏ hiện liên quan phép lạ này. Miệng lưỡi, ngòi bút cùng mọi khả năng của một thụ tạo như tác giả thiếu kém quá xa không thể diễn tả những nhiệm tích cao siêu khôn lường như thế.

Trong ngày thứ nhất tuần chín ngày tột đỉnh hạnh phúc, Công Chúa thiên cung Maria, sau khi nghỉ một chút, theo gương thánh tổ David, theo những sắp xếp hàng ngày được Chúa sắp đặt, đã rời khỏi trường kỷ lúc nửa đêm (Tv 118:62), phủ phục trước thánh nhan Đấng Tối Cao, khởi đầu cầu nguyện và thực hành các việc thánh đức quen thuộc. Trong thị kiến này Công Chúa Maria học biết các bí mật tối cao, các trọn lành của Thiên Tính, đặc biệt về những điều Thiên Chúa truyền thông với bên ngoài trong công trình tạo dựng. Đức Maria thấy việc tạo dựng khởi nguồn từ sự tốt lành và đại lượng nơi Thiên Chúa. Các thụ tạo không phải là điều cần thiết bổ sung cho sự hiện hữu của Thiên Chúa, cũng không cần cho vinh quang Ngài, vì nếu không có các thụ tạo, Thiên Chúa vẫn vinh quang vĩnh cửu từ trước khi tạo dựng vũ trụ. Nhiều nhiệm tích, không thể cũng không được tiết lộ cho bất cứ thụ tạo nào khác, đã được tiết lộ cho Đức Maria, vì một mình Đức Maria là Đấng Duy Nhất (Dc 6:8,7:6), Đấng được Đức Vua Tối Cao, Chúa mọi thụ tạo vui lòng tuyển chọn. Đức Maria thấy Thiên Chúa khao khát yêu thương muốn truyền thông chính mình ra ngoài. Khi được hút vào trong bầu trời tình yêu Thiên Chúa, với trái tim nồng cháy, Đức Maria nài xin Thiên Chúa Cha gởi Con Một Yêu Dấu đến trần gian cứu độ nhân loại. Những lời cầu xin hết sức ngọt ngào của Đức Maria là sợi xích thằng cột chặt tình yêu Thiên Chúa.

Để thực hiện việc nhập thể cứu độ nhân loại, trước hết Chúa chuẩn bị nơi mà Chúa sẽ từ Lòng Thiên Chúa Cha hằng hữu ngự xuống. Chúa quyết định ban cho Hiền Mẫu yêu dấu được tuyển chọn sự hiểu biết rõ ràng mọi việc làm ngoại tại của Chúa. Trong thị kiến ngày thứ nhất này, Chúa cho Đức Maria thấy rõ mọi việc Chúa đã làm trong ngày thứ nhất tạo dựng vũ trụ, như được ghi trong Sáng thế ký. Đức Maria thấy và hiểu mọi sự rõ ràng hơn là nếu Người mục kích mọi việc trong chính ngày đó; vì trước hết Người biết các điều đó như chúng ở nơi Thiên Chúa, rồi như chúng hiện hữu khi được tạo thành.

Đức Maria thấy và hiểu khởi đầu Thiên Chúa tạo dựng trời đất (Stk 1:1-5): trời đất mênh mông hoang vắng, bóng tối ở trên mặt uông mang; thần khí Thiên Chúa là là trên mặt nước; theo lệnh Chúa truyền, ánh sáng cùng bản chất của nó được tạo thành; sau khi ánh sáng và bóng tối được phân chia, (được gọi) là ngày (và là) đêm, đó là cách thức ngày thứ nhất được tạo dựng. Đức Maria biết mọi chi tiết cấu trúc địa cầu và các sinh vật sống trên đó. Người thấy diễn tiến việc các tầng trời thấp, thiên cung và các thiên thần được tạo dựng trong ngày thứ nhất. Người được cho biết bản chất, điều kiện, tính đa dạng, phẩm trật, chức vụ, cấp bậc, và thánh đức của các thiên thần. Đức Maria được cho biết việc các phản thần phản loạn, cơ hội và lý do việc sa ngã đó. Đức Maria hiểu hình phạt và nhìn thấy các hiệu lực của tội lỗi nơi ma quỉ. Khi kết thúc ngày thứ nhất, Thiên Chúa cho Đức Maria thấy chính Người cũng đã được tạo dựng từ chất liệu đất thấp hèn này, có cùng một bản chất như mọi người khác, những kẻ sẽ trở về bụi đất. Tuy nhiên Thiên Chúa không nói Đức Maria sẽ lại trở về bụi đất. Được Thiên Chúa cho hiểu biết sâu xa hết sức về sự hiện hữu trần thế, Đức Maria đã hạ mình tới đáy thẳm sâu của hư không. Dù không vướng tội lỗi, Đức Maria hạ mình xuống thấp hơn tất cả mọi con cái Adong cùng với những thống khổ của họ.

Đấng Tối Cao sắp đặt toàn thể thị kiến này và các hiệu lực cách đặc biệt để khơi trong trái tim Đức Maria những đường rãnh sâu cần thiết cho các nền móng của công trình kiến trúc qui mô vĩ đại Chúa muốn xây dựng nơi Người. Công trình đó cao tột đỉnh vươn tới sự kết hợp cao cả vững vàng thiên tính với nhân tính. Vì địa vị Mẹ Thiên Chúa phải vô bờ bến, tới mức vô cùng, Đức Maria cần phải được đặt trên nền tảng Đức Khiêm Tốn tương xứng, Đức Khiêm Tốn đó phải vô giới hạn mặc dầu vẫn ở trong ranh giới của lý trí. Vì đạt tới đỉnh thánh đức, Đấng được chúc phúc hơn hết mọi phụ nữ đã hạ mình đến độ Thiên Chúa Ba Ngôi, như thể, đã được đền bù đầy đủ, hoàn toàn hài lòng, và (theo chúng ta hiểu) bị ép nâng Đức Maria lên địa vị tột đỉnh có thể được trong mọi thụ tạo, sát gần chính Thiên Chúa. Với lòng đại lượng vô cùng cao cả, Thiên Chúa Cha nói với Đức Maria:

 “Hiền Thê và Người Yêu dấu ái của Ta, ước vọng vô cùng vĩ đại của Ta là muốn cứu nhân loại khỏi tội lỗi. Lòng nhân từ vô cùng của Ta có thể cho là bị căng thẳng vì chờ đợi thời điểm Ngôi Lời sẽ ngự xuống cứu chuộc thế giới. Trong những ngày này Người hãy cầu xin không ngừng, hết lòng yêu thương tha thiết xin cho việc chu toàn điều ước nguyện này. Hãy phủ phục trước thánh nhan Ta, đừng ngưng cầu nguyện và kêu van; hãy xin cho Con Một Yêu Dấu Thiên Chúa Cha ngự xuống kết hợp thực sự thiên tính với nhân tính.”

Công Chúa thiên đàng đáp lời:

 “Lạy Chúa là Thiên Chúa hằng hữu, Đấng toàn năng và khôn ngoan, không ai có thể cưỡng lại điều Chúa muốn (Esther 13:9) Ai có thể cản trở Quyền Năng Vô Cùng của Chúa? Ai dám cản trở dòng sông cuồn cuộn Thiên Tính, để điều làm Chúa vui lòng trong việc ban ân sủng này cho toàn thể nhân loại vẫn còn chưa hoàn tất? Lạy Chúa Yêu Dấu của con, nếu con là cản trở đối với hồng ân vô biên đó, xin để cho con bị hủy diệt đi trước khi con làm trở ngại điều vui lòng Chúa. Hồng ân này không thể tùy thuộc công nghiệp của bất cứ thụ tạo nào. Vì thế, lạy Chúa và Chủ Nhân của con, xin đừng chờ, vì có thể sau này chúng con còn ít xứng đáng với ơn đó hơn nữa. Tội lỗi nhân loại gia tăng, những xúc phạm đến Chúa càng chồng chất gấp bội. Làm sao chúng con có thể xứng đáng hưởng chính ân sủng mà chúng con ngày càng trở nên bất xứng hơn? Lạy Chúa, nguyên do cuối cùng của Ơn Cứu Độ chúng con ở nơi chính Chúa. Lòng thương xót Chúa bao la vô cùng thúc đẩy Chúa. Những kêu khóc của các Tiên Tri, các Tổ Phụ của dân Chúa kêu van Chúa, các thánh thở dài khóc than sau lưng Chúa, những kẻ tội lỗi tìm kiếm Chúa, toàn thể cùng nhau kêu lên Chúa. Cho dù con, một con trùng hèn hạ vong ân bội bạc không xứng đáng được Chúa thương xót đoái nhìn, con liều lĩnh từ đáy lòng con van xin Chúa xúc tiến mau việc Chúa đến, đẩy nhanh việc Cứu Độ vì vinh quang cao cả Chúa.”

Cầu nguyện xong, Công Chúa thiên cung trở lại trạng thái bình thường tự nhiên hơn, nhưng lo lắng chu toàn lời Thiên Chúa truyền. Suốt ngày đó, Đức Maria tiếp tục cầu xin cho việc Ngôi Lời nhập thể. Với lòng khiêm tốn tột cùng, Người lặp lại việc cầu nguyện trong tư thế phủ phục sát đất theo hình thánh giá như Chúa Thánh Thần đã dạy. Thiên Chúa Ba Ngôi rất hài lòng vì lời và cách Đức Maria cầu nguyện. Thiên Chúa nhìn thấy, nơi thân xác Mẹ tương lai của Ngôi Lời, hình ảnh con người Đức Kitô bị đóng đanh, vì thế Thiên Chúa nhận đây là của lễ dâng hiến trước hy lễ chính thức mà Con Một Cực Thánh sẽ hiến tế.

Ngày thứ nhì, cũng lúc nửa đêm, Đức Trinh Nữ Maria được thăm viếng như trong ngày thứ nhất. Quyền năng Thiên Chúa nâng Người lên cùng những độ cao, soi sáng chuẩn bị Người đón nhận các thị kiến Thiên Chúa. Đức Maria được cho thấy các việc xảy ra trong ngày tạo dựng thứ nhì. Người học biết cách thức và khi nào Thiên Chúa phân chia các khối nước (Stk 1:6), thiết lập vòm trời và các thiên thể. Người thấu triệt tính cách vĩ đại, trật tự, các chuyển động, tất cả mọi tính chất cùng điều kiện khác nhau của các tầng trời. Thiên Chúa làm cho Đức Maria, theo mức độ thích hợp, là người chia sẻ Quyền Năng Thiên Chúa, ban cho Người quyền năng trên thế lực của các tầng trời, các hành tinh và thiên thể, truyền cho tất cả phải tuân lệnh Người. Đức Nữ Vương thiên đàng phản ánh ngày càng nhiều các quyền năng Thiên Chúa. Vẻ diễm kiều nơi Người được điểm tô rực rỡ hơn dưới ngọn bút tài tình của Đấng Khôn Ngoan Vô Cùng bằng những mầu sắc và ánh sáng được điểm tô từ nơi cao vời.

Trong ngày thứ ba, Đức Maria được Thiên Chúa cho biết các việc tạo dựng trong ngày sáng thế thứ ba. Người học biết khi nào, cách nào các khối nước dưới bầu trời tụ lại một nơi (Stk 1:9), để lộ ra chỗ khô mà Thiên Chúa gọi là đất, và vùng nước được đặt tên là biển. Đức Maria học biết cách thức đất sinh ra cây cỏ, mọi loài cỏ cây có hoa trái có hạt. Người được dạy cho hiểu biết sự bao la, bề sâu, các khu vực và sự liên hệ của biển với các suối nguồn nước dâng lên rồi lại chảy ra biển. Đức Maria nhìn thấy tất cả và từng loại đó có ích cho người ta như thế nào. Người thấu triệt tất cả những điều này hết sức cặn kẽ tường tận sâu sắc hơn ông Adong hoặc Salomon. Nếu so sánh với Đức Maria, tất cả danh y khắp thế giới chỉ là những kẻ ngờ nghệch cho dù đã học hỏi nghiên cứu tường tận, kinh nghiệm rộng rãi nhất. Đức Maria biết hết mọi điều khuất kín, như lời Đấng Khôn Ngoan (Kn 7:21) chính vì Người học hỏi điều này không chút giả tưởng, Người cũng truyền thông điều đó không chút đố kỵ. Những lời vua Salomon nói trong Sách Khôn Ngoan được thực hiện nơi Đức Maria cách toàn hảo khôn sánh.

Ngày thứ bốn, Thiên Chúa cho Đức Maria thấy Chúa yêu thương muốn cứu độ nhân loại, và cho thấy Người các công việc tạo dựng trong ngày thứ bốn (Stk 1:14-17). Trong thị kiến này Thiên Chúa đặc biệt cho Đức Maria biết vì thương yêu, Thiên Chúa khao khát tới cứu giúp nhân loại, nâng họ lên khỏi mọi khốn khổ. Do lòng nhân từ thương xót vô cùng và vì nhân loại là đối tượng của tình thương, Chúa ban cho Đức Maria một hình thức nào đó việc tham dự các quyền năng Chúa, để từ đó về sau, với tư cách là Mẹ và Trạng Sư Bào Chữa cho các tội nhân, Người có thể cầu bầu cho họ. Đức Maria dự phần và đáp ứng tình thương yêu muốn cứu độ nhân loại của Thiên Chúa cách hết sức siêu nhiên mãnh liệt, đến độ từ đó về sau nếu Thiên Chúa không nâng đỡ gìn giữ, Đức Maria đã không thể nào chịu đựng được cường độ mãnh liệt của lửa khao cháy bừng cháy này. Vì đầy ắp tình yêu mến xót thương, có thể, đã bao lần Đức Maria bị lửa yêu mến xót thương đốt cháy, bị những lưỡi gươm, những hành hạ tột cùng đau đớn làm cho chết vì muốn cứu nhân loại. Chắc là Đức Maria đã chịu tất cả mọi thống khổ, đau đớn, tật nguyền và coi những thứ đó là hoan lạc lớn lao vì cứu vớt được các tội nhân. Tất cả mọi thứ đau khổ nhân loại chịu từ tạo thiên lập địa cho tới tận thế hẳn chỉ là vấn đề nhỏ mọn đối với tình yêu của Đức Hiền Mẫu giầu lòng thương xót này.

Từ lúc đó trở đi, Người ước ao đặc biệt tìm kiếm quan hoài lo lắng truyền thông, không chút tị hiềm, các kho tàng ân sủng mà Người thấu triệt và sở đắc. Đức Maria sẵn sàng thông cho nhân loại sự ngọt ngào dịu dàng lạ lùng hằng tăng lên vô hạn trong trái tim, làm cho họ trở thành những người tham dự tình yêu Thiên Chúa ngùn ngụt bốc cháy trong trái tim Người. Lòng yêu mến khao khát cứu độ nhân loại là một trong những thiên hướng chính cần phải có cho việc cưu mang Ngôi Lời Hằng Hữu trong lòng trinh khiết Đức Maria. Vì giầu thương xót, nhân từ, sốt mến, khoan dung, Đức Maria sẽ cưu mang và sinh ra Ngôi Lời Thiên Chúa làm người. Chính Ngôi Lời, do lòng xót thương khoan dung yêu thương, muốn hạ mình xuống sự thấp hèn của bản chất loài người, muốn được sinh ra bởi Đức Maria để chịu đau khổ vì chúng ta. Người ta nói: cha nào con nấy; y như nước có chất lượng các khoáng sản nó chảy qua. Vì thế, mặc dầu việc sinh ra Chúa Kitô được khởi nguồn từ Thiên Chúa, nhưng việc sinh ra đó cũng có tối đa chất liệu của Đức Hiền Mẫu. Đức Maria hẳn không thể xứng hợp cho việc hiệp lực với Chúa Thánh Thần trong việc mang thai mà không có việc can dự của nam nhân, nếu Người không được phú cho sự trọn lành tương xứng với những trọn lành của nhân tính Chúa Kitô.

Trong thị kiến này, Đấng Tối Cao cho Đức Maria biết   Luật ân sủng mới Chúa Cứu Thế sẽ thiết lập, các Nhiệm Tích hàm chứa trong Luật đó, mục đích Chúa Cứu Thế sẽ ký thác các Nhiệm Tích trong Giáo Hội Phúc Âm mới, các đặc ân cùng thánh sủng được dành cho nhân loại, và Chúa Cứu Thế khát khao cho tất cả mọi người gặt hái được thành quả Ơn Cứu Độ. Từ thị kiến này, Đức Maria được hưởng sự khôn ngoan cao cả. Người được giảng dạy bởi Vị Thầy tối cao, Đấng Sửa Chữa những người khôn ngoan (Kn 7:15). Trái tim, trí óc Công Chúa chúng ta được trút đầy, làm cạn đại dương Thiên Chúa, mà tội lỗi loài người đã giới hạn, ngăn cản lưu lượng của đại dương này. Đại dương tình thương Thiên Chúa được niêm kín cho tới thời điểm thích hợp, đó chính là thời điểm Đức Maria được chọn làm Mẹ Con Một Vô Cùng Yêu Dấu của Thiên Chúa Cha.

Cùng với sự tuyệt vời của kiến thức siêu nhiên này, Đức Maria cảm thấy nỗi đau buồn xuyên thấu xương tủy vì yêu thương tràn ngập mà sự hiểu biết này luôn làm cho mới lại. Người thấy nơi Đấng Tối Cao các kho tàng vô biên, các thánh sủng và hạnh phúc được dành sẵn cho nhân loại. Đức Maria thấy Thiên Chúa khao khát cho nhân loại được hưởng các kho tàng hạnh phúc đời đời. Người thấy và suy gẫm về lòng ác độc của nhân loại, người ta đã mù quáng ngăn cản dòng chảy của mọi kho tàng hạnh phúc, đã tự truất họ khỏi quyền tham dự với Thiên Chúa. Sự hiểu biết này tạo ra một hình thức tử đạo mới vì phiền sầu thương xót nhân loại bị trầm luân, vì khao khát bù đắp tổn thất đáng khóc than đó. Đức Maria dâng lên những lời van xin, những hy sinh, những hành động khiêm tốn, các hành động anh hùng yêu mến Thiên Chúa và nhân loại, ngõ hầu nếu có thể, không một ai bị hư mất, để mọi người nhìn nhận Đấng Tạo Hóa và Đấng cứu độ họ, tuyên xưng thờ lạy yêu mến Ngài.

    Đã tới ngày thứ năm của tuần chín ngày, Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh chuẩn bị Đức Maria rất thánh. Cũng như trong các ngày trước, Đức Maria được đưa lên thị kiến Thiên Chúa, khi tấm màn rơi xuống, Người nhận thức càng lúc càng rõ các mầu nhiệm của Đấng Khôn Ngoan vô cùng. Đức Maria cũng khám phá ra nhiều huyền nhiệm mới trong ngày hôm nay. Các chuẩn bị, soi sáng, các ân sủng siêu nhiên mãnh liệt hơn, các ơn này chiếu rọi vào linh hồn rất thánh Đức Maria, trút cạn hết các kho tàng vô cùng vào mọi quan năng của Người, đồng hoá và làm cho Người nên giống Thiên Chúa ngõ hầu xứng đáng là Mẹ Thiên Chúa nhập thể.

Trong thị kiến này, Thiên Chúa hiện ra nói với Đức Maria cách âu yếm, cho Người biết thêm nhiều mầu nhiệm: “Hiền Thê và Người Yêu Dấu của Ta, Người đã thấy trong nơi sâu thẳm của lòng Ta kho tàng ân sủng bao la được chuẩn bị cho hạnh phúc nhân loại. Tình yêu thương trong Ta vô cùng mãnh liệt, Ta muốn ban Con Một của Ta cho nhân loại để dạy dỗ và cứu độ họ. Người cũng thấy những đền đáp ít ỏi chừng nào vì nhân loại vong ân bội bạc khinh thường thờ ơ tột cùng, điều này ngăn cản lòng khoan dung nhân từ thương yêu của Ta. Ta đã cho Người thấy lòng ác độc của nhân loại. Bằng Hữu của Ta, Ta muốn Người biết rằng số người nhận biết yêu mến Ta như những người được tuyển chọn thì quá sức ít; mà số những kẻ vong ân bội bạc bị trầm luân thì nhiều kinh khủng. Trong sự khôn ngoan vô cùng từ thuở đời đời, Ta đã thấy muôn vàn tội lỗi, các điều ghê tởm của những kẻ tội lỗi dơ bẩn khốn nạn này trì hoãn lòng thương xót vô biên, khóa chặt kho tàng Thiên Chúa, làm cho cả loài người không xứng đáng nhận các hồng ân của Ta.”

 Qua lời Đấng Tối Cao, Công Chúa Maria được chỉ dạy các mầu nhiệm vĩ đại liên quan đến con số những người được tiền định tuyển chọn và những người thấy trước bị luận phạt; cũng liên quan đến những cản trở do các người tội lỗi đã trì hoãn việc Ngôi Lời Hằng Hữu xuống trần gian làm người. Khi được thị kiến lòng đại lượng vô cùng, đức công bằng của Đấng Tạo Hóa và tội lỗi cùng với lòng ác độc vô bờ của loài người, Công Nương Maria, rực cháy lửa yêu mến, đã dâng lên Đấng Uy Nghiêm:

 “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa khôn ngoan và thánh thiện vô cùng, điều huyền nhiệm này là gì mà Chúa cho con biết? Tội ác loài người khôn lường, chỉ có sự khôn ngoan của Chúa mới hiểu được. Nhưng các tội ác này và, có thể, còn nhiều thêm nữa làm tắt được đại lượng yêu thương của Chúa sao? Không, lạy Chúa là Thiên Chúa của con, không phải như thế. Lòng ác độc của nhân loại không được phép cản trở lòng Chúa thương xót. Mặc dầu con vô dụng hơn hết trong cả loài người, con thay mặt cả nhân loại xin Chúa nhớ lại lòng trung thành của Chúa. Điều chân thực chắc chắn là trời đất sẽ tan biến ra hư vô, nhưng lời Chúa không thể sai (Is. 51:6). Điều cũng chân thực là đã nhiều lần Chúa nói qua các thánh Tiên Tri, và chính Chúa, bằng chính lời Chúa phán, hứa ban Chúa Cứu Thế và Ơn Cứu Độ cho chúng con. Lạy Thiên Chúa, làm sao các lời hứa này lại có thể không được chu toàn mà không trái nghịch với sự khôn ngoan vô cùng của Chúa; hoặc làm cách nào nhân loại có thể bị đánh lừa mà không xung đột với sự nhân lành của Chúa? Để xin Chúa hoàn tất lời hứa cho nhân loại được hưởng hạnh phúc đời đời qua việc Ngôi Lời nhập thể, con chẳng có chút gì để hiến dâng về phần nhân loại, cũng chẳng một thụ tạo nào có thể ép được Chúa. Nếu nhân loại đáng hưởng hồng ân này, thì lòng nhân từ vô cùng đại lượng của Chúa không phải vì đó mà được tôn vinh. Chỉ một mình Chúa có thể làm cho Chúa phải chịu thi hành điều ràng buộc này. Chỉ có ở nơi Chúa mới có thể tìm thấy được lý do chính đáng cho việc chính Thiên Chúa trở nên người ta. Lý do và nguyên nhân việc tạo dựng chúng con chỉ ở nơi một mình Chúa. Vì thế, lý do việc cứu độ chúng con cũng chỉ ở nơi một mình Chúa. Lạy Thiên Chúa, lạy Đức Vua Tối Cao, xin đừng tìm kiếm sự xứng công, cũng đừng tìm kiếm động lực cao cả hơn lòng nhân từ thương xót của Chúa và việc tôn vinh thánh danh Chúa.”

Đấng Tối Cao nói: “Người Yêu Dấu của Ta, đúng vì lòng nhân từ của Ta buộc Ta với lời hứa chính Ta mặc nhân tính và ở giữa loài người, dù trong mắt Ta không một ai xứng đáng với lời hứa đó. Cách cư xử vong ân bội bạc của nhân loại không xứng đáng hưởng việc thi hành lời hứa này vì chúng quá sức ghê tởm theo đức công chính của Ta.”

Không thể nào mô tả những huyền nhiệm còn giấu kín mà Đức Maria nhìn thấy trong Thiên Chúa lúc đó. Người nhìn thấy trong Thiên Chúa mọi người từ quá khứ, hiện tại và tương lai, vị thế từng cá nhân trong công cuộc tạo dựng, những việc làm tốt lành, những điều xấu xa, và kết cùng của mỗi người. Nếu Đức Maria không được ban cho mạnh sức, hẳn Người đã chết vì các ảnh hưởng và cảm giác gây ra do việc thấu triệt các điều này. Nhưng vì có trước mặt những mục đích vĩ đại trong các phép lạ và ân sủng này, Chúa đã hết sức rộng rãi đối với Người Yêu Dấu được tuyển chọn làm Mẹ Chúa. Vì Đức Nữ Vương chúng ta đã học được sự hiểu biết này từ chính lòng Thiên Chúa, Người cũng dự phần trong lửa Bác Ái Yêu Thương hằng hữu bừng cháy nơi trái tim Người.

 Đức Maria tiếp tục dâng lên Chúa:

 “Lạy Chúa là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu và vô hình, con xưng tụng đức công bằng, ca tụng các kỳ công, thờ lạy bản tính vô cùng và tôn kính các phán quyết của Chúa. Trái tim con chảy tan trong con với lòng yêu mến nồng nàn nhất khi con thấy lòng đại lượng vô cùng của Chúa đối với nhân loại và sự vong ân bội bạc thô bạo tối tăm họ đối với Chúa. Lạy Thiên Chúa của con, Chúa mưu cầu sự sống đời đời cho toàn thể nhân loại; nhưng chỉ có ít người hiếu thảo biết ơn đối với hạnh phúc khôn lường này, nhiều người sẽ bị hư mất vì lòng ác độc của họ. Lạy Thiên Chúa hằng hữu, nếu vì lý do này mà từ bỏ việc Chúa định làm, thì cả loài người hay chết chúng con đều hư mất. Theo sự khôn ngoan vô cùng hằng hữu, Chúa nhìn thấy mọi tội lỗi và lòng ác độc nhân loại xúc phạm đến Chúa quá sức nhiều, Chúa cũng thấy Con Một Vô Cùng Yêu Dấu làm người và các công việc của Ngài giá trị vô cùng trong mắt Chúa; những thứ này sẽ quân bình và vượt quá sự ác độc của tội lỗi không thể nào so sánh.”

Với lời cầu nguyện này của Đức Maria cực trinh trong, Thiên Chúa Cha (theo cách chúng ta nói) thấy hình ảnh Con Một Vô Cùng Yêu Dấu được cưu mang nơi dạ trinh khiết của Người. Thiên Chúa Cha hài lòng vì những lời cầu khẩn khiêm tốn yêu mến của Đức Maria. Thiên Chúa Cha chần chờ chỉ là việc làm của tình yêu nồng nàn ngõ hầu vui hưởng càng lâu hơn tiếng nói của Người Yêu Dấu, làm cho cặp môi Người Yêu Dấu tiết ra mật ngọt (Dc 4:11), những âm thanh Người Yêu dấu ái nói ra tựa như những chồi lộc trong địa đàng (Dc 4:13). Và để có thêm nữa những lời nói yêu thương tuyệt vời này, Chúa đáp lời Đức Maria: “Người Yêu Dấu được tuyển chọn của Ta, điều Người xin thì hết sức vĩ đại, nhưng sự xứng đáng về phần nhân loại thì quá nhỏ bé; làm sao ơn đặc biệt như thế có thể ban cho những kẻ bất xứng? Bạn của Ta, hãy để cho Ta xử với chúng như chúng đáng tội.”

 Đấng Bầu Cử mạnh thế và nhân từ của chúng ta đáp lời:

 “Lạy Chúa, xin đừng, con sẽ không ngừng nài nỉ; con xin điều đó ở Chúa, Đấng hay xót thương vô cùng, uy quyền trong hành động, chân thực trong lời nói. Tổ phụ David của con đã nói về Chúa và về Ngôi Lời hằng hữu: “Chúa đã thề hứa, Chúa sẽ không hối hận: con sẽ là tư tế theo dòng Melchisedech (Tv 109:4). Lạy Chúa, xin hãy để Vị Tư Tế đó tới, Đấng đồng thời là hy lễ cứu độ chúng con. Xin để Chúa Cứu Thế đến, vì Chúa không thể nào hối hận lời đã hứa, vì Chúa không phán hứa trong sự dại khờ. Xin cho con được mặc lấy Chúa.”

Trong cuộc tranh luận này (đúng hệt như đã xảy ra cho Tổ Phụ Giacob), Nữ Vương chúng ta được hỏi tên Người là gì. Người đáp: “Con là con gái Adong, được tay Chúa tạo dựng từ bụi đất hèn hạ.” Đấng Tối Cao phán: “Từ nay về sau Người sẽ được gọi: ‘Đấng Được Chọn làm Mẹ của Con Một Vô Cùng Yêu Dấu.’” Nhưng phần sau của lời này chỉ các thiên thần nghe được, trong khi đó đối với Đức Maria phần này vẫn còn giấu kín cho tới thời điểm thích hợp. Vì thế Đức Maria chỉ nghe có tiếng “Đấng Được Chọn.” Sau khi cuộc đàm thoại yêu thương xúc động này kéo dài theo an bài và bốc cháy trái tim Đấng Được Tuyển Chọn Maria, Thiên Chúa Ba Ngôi hứa với Người rằng bây giờ sẽ gởi Ngôi Lời hằng hữu đến trần gian làm người. Vui mừng hân hoan khôn tả vì lời ưng thuận này, Đức Maria xin và nhận được chúc lành của Đấng Tối Cao. Như thế, Vị Phụ Nữ dũng lực này từ cuộc đấu tranh với Thiên Chúa đã đạt được chiến thắng vẻ vang hơn Tổ Phụ Giacob. Người từ trận chiến bước ra giàu có, uy dũng, đầy chiến lợi phẩm, Đấng bị thương và yếu nhược (theo cách chúng ta nói) là chính Thiên Chúa. Thiên Chúa bị tình yêu của Vị Phụ Nữ này lôi kéo phải mặc lấy sự yếu đuối và bản chất thấp hèn chúng ta trong Căn Phòng Cưới Được Thánh Hiến nơi lòng dạ trinh khiết của Người. Thiên Chúa che giấu quyền năng thiên tính, hầu chiến thắng trong việc để cho chính Chúa bị chiến thắng, để ban cho chúng ta sự sống bằng cái chết của Ngài. Xin cho loài người nhìn thấy và nhìn nhận sự việc Đức Maria rất thánh, kế bên Con cực thánh của Người, là nguyên do Ơn Cứu Độ chúng ta.

Trong thị kiến này, Đức Maria cũng được cho thấy các diễn tiến việc tạo dựng trong ngày thứ năm. Người thấy mọi tiến trình tạo dựng, sinh sản các loài rắn bò trên đất, có cánh bay trên không trung, bơi lội trong nước. Đức Maria biết rõ về các thụ tạo này từ khởi thủy, bản chất, hình dáng, theo loại của chúng. Người biết mọi loại thú sống trong đồng cỏ, trong rừng, các điều kiện, đặc tính, thói quen, dòng họ của chúng. Người biết mọi loại chim trời, với những thứ khác nhau của từng loại, mầu sắc, bộ lông vũ, tính nhẹ bay. Người biết vô số không thể đếm các loài cá sống dưới nước, các loại cá voi khác nhau, hình thù, việc cấu tạo, các đặc tính, các hang trú của cá và các loại thực phẩm biển cả nuôi chúng, mục đích chúng được tạo dựng, sự ích lợi mà cá đem lại cho thế giới. Đấng Toàn Năng đặc biệt ra lệnh cho các loài cầm ngư thú này nhìn nhận và tuân phục Đức Maria, ban cho Người quyền chỉ huy toàn thể các sinh vật, như trong nhiều dịp sẽ được nói tới. Tới đây Đức Maria ra khỏi thị kiến ngày hôm nay. Người dành phần còn lại trong ngày thực hành việc cầu khẩn mà Thiên Chúa đã chỉ.

Ngày thứ sáu, ngay khi Đức Đức Maria thị kiến Thiên Chúa hôm nay, Người được cho thấy các việc ngày sáng thế thứ sáu. Theo lệnh Chúa, trái đất sinh ra các sinh vật theo loại như lời ông Maisen (Stk 1:24). Sách Thánh nói tới các thú vật trên đất, toàn hảo hơn các loài cá và chim trời về cuộc sống và hoạt động, được đặt tên tiêu biểu phần quan trọng hơn trong bản chất của chúng. Đức Maria nhìn thấy, hiểu và biết tên mọi loại thú vật được tạo dựng trong ngày thứ sáu. Một số được gọi là thú vật chở nặng; những thứ khác là dã thú, hung dữ hơn và không được dạy thuần; những thứ khác là bò sát. Người hiểu rõ tính chất, những đặc thù của tất cả các loài thú: tính hung dữ, sức mạnh, các mục đích hữu dụng của chúng. Người được ban quyền thống trị mọi thú vật. Nhiều lần một số con vật này vâng lệnh Người, như khi Con cực thánh Người ra đời, con bò đực và con lừa quì phục thở hơi sưởi ấm Chúa Hài Đồng theo lệnh của Đức Hiền Mẫu rất thánh.

Sau khi thấy việc tạo dựng các loài không có lý trí, Đức Maria hiểu Thiên Chúa Ba Ngôi phán như thế nào để hoàn tất thế giới cách hoàn hảo: “Ta hãy tạo dựng con người giống hình ảnh Ta” (Stk 1:26). Do quyết định này, con người đầu tiên được tạo dựng trên mặt đất là nguyên tổ của toàn thể nhân loại. Đức Maria thấu triệt việc tạo dựng hoà hợp thân xác, linh hồn và các quan năng, cùng việc kết hợp mật thiết của linh hồn với thân xác. Đức Maria thấu hiểu cấu trúc mọi cơ phận thân xác nhân loại. Người biết số xương, các động mạch, tĩnh mạch, thần kinh và gân. Người hiểu biết việc tạo ra các tính tình thích hợp, các khả năng dinh dưỡng, tăng trưởng và vận động. Người biết như thế nào những xáo trộn hoặc thay đổi trong sự hoà hợp này tạo ra bệnh tật và cách chữa trị.

Thiên Chúa cũng cho Đức Maria thấy rõ tình trạng hạnh phúc ở địa đàng, trong đó Thiên Chúa đặt nguyên tổ Adong và Evà. Người hiểu rõ hoàn cảnh, vẻ diễm tuyệt toàn hảo của sự ngây thơ vô tội, ân sủng hai nguyên tổ được hưởng, và hai vị chỉ kiên trì trong tình trạng đó được thời gian quá ngắn. Đức Maria thấy hai nguyên tổ bị cám dỗ, bị khuất phục vì sự quỉ quyệt của con rắn (Stk 2:51) và hiểu rõ các hậu quả của tội lỗi. Người hiểu rõ lòng giận dữ điên cuồng ghét cay ghét đắng của ma quỉ đối với loài người lớn lao chừng nào. Khi thị kiến các điều này, Đức Maria đã thi hành những hành động anh hùng thánh đức làm hài lòng Thiên Chúa. Người hiểu mình là con gái của ông bà nguyên tổ này và thuộc dòng dõi quá sức vô ân bạc nghĩa đối với Đấng Tạo Hóa. Khi nhớ lại điều này, Đức Maria hạ mình trước thánh nhan Thiên Chúa làm cho trái tim Thiên Chúa bị thương tích (theo nghĩa bóng), và Chúa đã nâng Người lên trên hết mọi thụ tạo. Đức Maria nhận gánh tội vong ân bội nghĩa của nguyên tổ, khóc vì tội nguyên tổ và mọi tội lỗi do tội nguyên tổ gây ra, như thể chính Người đã phạm các tội đó. Vì thế, ngay từ khi đó, tội nguyên tổ đã có thể được gọi là tội hồng phúc, vì tội này làm cho những giọt nước mắt trở nên hết sức quí giá trước mắt Thiên Chúa, các giọt lệ đó giành được cho chúng ta những bảo đảm cùng lời hứa chắc Ơn Cứu Độ.

Đã đến ngày thứ bảy của việc chuẩn bị huyền nhiệm cho bí tích sắp xảy ra, cũng trong giờ đã nói, Vị Nữ Lưu thiên quốc được các thiên thần đưa cả linh hồn và thân xác lên thiên cung, trong khi một thiên thần thay hình dáng Người tại chỗ. Được đặt trên tầng trời cao nhất, Đức Maria nhìn thấy Thiên Chúa như các ngày trước, nhưng với ánh sáng mới mạnh hơn, xuyên thấu những mầu nhiệm sâu thẳm hơn, mà Thiên Chúa tùy theo thánh ý có thể che khuất hoặc tiết lộ. Đức Maria nghe tiếng Thiên Chúa phán: “Người Yêu Dấu được tuyển chọn, Bằng Hữu yêu dấu, Người được đẹp mắt Ta và được tuyển chọn giữa muôn ngàn, Ta muốn canh tân việc nhận Người là Tân Nương, muốn trang điểm cho Người xinh đẹp mỹ lệ theo cách xứng đáng với ý định của Ta.”

Khi nghe những lời này, Đấng khiêm tốn tột đỉnh trong những người khiêm tốn hạ mình trước thánh nhan Đấng Tối Cao. Hoàn toàn qui phục sự vui lòng Chúa, với lòng khiêm tốn tột cùng, Đức Maria đáp lời: “Lạy Chúa, con là bụi đất, con trùng hèn hạ nơi chân Chúa, kẻ nô lệ nghèo nàn khốn nạn của Chúa sẵn sàng chu toàn mọi điều làm vui lòng Chúa. Lạy Đấng Tốt Lành hằng hữu, xin dùng dụng cụ hèn hạ này theo ý Chúa, xin an bài con theo quyền năng của Chúa.” Ngay lúc này Đấng Tối Cao truyền cho hai thiên thần sốt mến Seraphim chăm sóc phục dịch Đức Trinh Nữ thiên đàng. Công Chúa Maria lúc này đạt tới sự sung mãn ân sủng và diễm kiều. Trái tim Thiên Chúa bị thương quá nặng vì lòng yêu mến và ước nguyện nồng nàn của Người (Dc 4:9), Chúa bị lôi cuốn không cưỡng lại được (theo ngôn từ loài người) phải bắt đầu di chuyển mau lẹ từ lòng Thiên Chúa Cha hằng hữu tới Phòng Cưới nơi lòng dạ cực trinh khiết của Người và chấm dứt sự trì hoãn lâu dài. Tuy nhiên, vì điều lạ lùng mới này phải được thi hành với dư đầy khôn ngoan và công bằng, Thiên Chúa sắp đặt biến cố này theo cách mà chính Công Chúa các tầng trời, Mẹ xứng đáng của Ngôi Lời nhập thể, đồng thời cũng phải là Đấng Bầu Cử cực kỳ mạnh thế cho việc Chúa đến cứu độ dân Người mạnh thế hơn bà Esther đối với dân Do Thái (Est 7-8). Với trái tim bừng cháy ngọn lửa yêu mến mà chính Thiên Chúa đã châm đốt, Đức Maria không ngừng cầu nguyện cho việc cứu độ nhân loại.

Đấng Tối Cao tiếp nhận Đức Maria rất thánh, Tân Giai Nhân được tuyển chọn. Thị kiến này kèm theo những đặc ân soi sáng và thanh tẩy khôn sánh từ chính Thiên Chúa đặc biệt dành cho ngày hôm nay. Các đặc ân này quá sức siêu nhiên, đến độ (theo cách chúng ta nói) chính Thiên Chúa, Đấng ban các đặc ân đó, đã hoan hỉ vì kỳ công của mình. Như thể bị mê hoặc vì tình, Thiên Chúa nói với Đức Maria: “Hãy trở lại, hãy trở lại, hỡi Sulamitis, để Ta có thể thấy Người.” “Hiền Thê của Ta, Chim Bồ Câu yêu dấu và tột đỉnh trọn hảo của Ta, đẹp mắt Ta, hãy xoay mình và đi tới phía Ta, để Ta có thể nhìn ngắm và say mê vì sắc đẹp diễm kiều của Người. Ta không hối hận đã tạo dựng loài người, Ta hoan hỉ trong việc tạo dựng nhân loại, vì Người đã được sinh ra bởi nhân loại. Hãy để cho các thiên thần thấy Ta đã uớc ao chọn Người là Hiền Thê và Nữ Vương muôn loài như thế nào. Hãy cho các thiên thần thấy lý do tốt lành chừng nào việc Ta phải vui mừng trong phòng cưới của Ta, từ đó Con Một Vô Cùng yêu Dấu, sát bên lòng Ta, sẽ giành lấy vinh quang vĩ đại vô cùng. Tất cả hãy hiểu rằng nếu Ta đã chính đáng truất phế Evà, nữ vương thứ nhất của thế giới, vì tội không vâng lời, bây giờ Ta đặt và tôn Người lên địa vị cực kỳ cao quí, chứng tỏ sự huy hoàng và uy quyền của Ta trong việc đối xử với Đức Khiêm Tốn tinh tuyền tột đỉnh và tự hạ của Người.”

Để trau chuốt lần cuối cùng công việc phi thường chuẩn bị Đức Maria cao cả, quyền năng Thiên Chúa đặc biệt canh tân tinh thần và các quan năng của Vị Phụ Nữ tuyệt vời, ban cho Người các khuynh hướng, tập quán và tính chất mới, sự vĩ đại tuyệt vời. Đó là hành động trau chuốt cuối cùng hình ảnh hằng sống Thiên Chúa nơi Đức Maria, ngõ hầu tạo dựng, trong đó và từ đó khuôn đúc hình hài mà Ngôi Lời hằng hữu, hình ảnh đích thực Thiên Chúa Cha (2 Cor. 4:4) kết hợp với hình hài từ chất liệu của Người (Dt 1:3). Như thế toàn thể đền thờ Đức Maria, trội vượt rất xa đền thờ Salomon, được bọc bằng vàng ròng Bản Tính Thiên Chúa cả trong lẫn ngoài, (3 Vua 6:30), để không tìm thấy được nơi Người một chút gì bất toàn của con gái Adong. Toàn diện Đức Maria được làm cho tỏa ra Thiên Chúa, vì  Ngôi Lời Thiên Chúa từ Lòng Thiên Chúa Cha xuống lòng Đức Maria tạo ra tính cách hết sức giống nhau giữa Mẹ và Cha.

Không một ngôn từ nào khả dụng của tác giả có thể đủ để diễn tả, như mình muốn, những hiệu lực của các đặc ân này nơi trái tim Đức Maria. Tư tưởng loài người không thể cưu mang thì làm sao có thể diễn tả các điều đó bằng ngôn từ? Nhưng điều tạo ra sự ngạc nhiên vĩ đại nhất trong tôi (tác giả), khi suy nghĩ về những điều này trong ánh sáng được ban cho, là Đức Khiêm Tốn của Vị Phụ Nữ thiên cung này và sự tranh đua giữa Lòng Khiêm Nhượng của Người với quyền năng Thiên Chúa. Ôi sự phi thường hiếm có của Đức Khiêm Tốn! Mặc dầu được nâng lên địa vị và sự thánh thiện tột đỉnh chỉ sau Thiên Chúa, Đức Maria vẫn hạ mình xuống dưới cả những thụ tạo hèn hạ nhất. Do sức mạnh Lòng Khiêm Tốn, không một ý nghĩ nào về việc được tiền định là Mẹ Chúa Cứu Thế có thể lẻn vào trí khôn Người! Và không phải chỉ điều này mà thôi: Đức Maria không chút nghi ngờ về điều gì vĩ đại hoặc lạ lùng trong chính Người (Tv 130:1). Cặp mắt và trái tim Người không tự hào hãnh diện. Trái lại, Người được Thiên Chúa đưa lên càng cao, các ý nghĩ về chính mình lại càng khiêm tốn hơn. Vì thế thiệt là chính đáng: Đấng Toàn Năng nhìn tới Lòng Khiêm Tốn của Người, và vì thế muôn muôn thế hệ sẽ gọi Người là Đấng diễm phúc (Lc 1:48).

LỜI MẸ MARIA

 Con của Mẹ, những người nào chỉ có tình yêu ích kỷ hèn hạ đều không xứng đáng là hiền thê của Đấng Tối Cao, vì người đó không được phép yêu hoặc sợ hãi như một nô lệ, người đó cũng không được coi như phục vụ để lãnh lương. Trái tim người đó phải đầy tình yêu chân thành cao cả vì sự tuyệt vời tốt lành vô biên của Đức Phu Quân, người đó cũng phải cảm thấy chính mình ràng buộc với Ngài. Hãy ngẫm nghĩ Chúa giàu có và đại lượng chừng nào: vì yêu thương các linh hồn, Chúa đã tạo dựng biết bao nhiêu thứ hữu hình để những thứ đó phục vụ những ai phụng sự Ngài. Hãy đặc biệt suy gẫm biết bao nhiêu kho tàng còn giấu kín nơi lòng nhân từ hiền dịu bao la của Chúa (Tv 30:20) dành cho những ai kính yêu Ngài như con cái đích thực. Mẹ muốn con cảm thấy con mắc nợ sâu đậm đối với Chúa, Đấng là Cha, là Phu Quân, là Bạn của con, khi nghĩ tới những ơn bao la được ban cho những người trở nên con cái yêu dấu của Chúa. Vì là Cha quyền năng, Chúa sẵn có trong tay muôn vàn đặc ân vĩ đại dành cho con cái, và nếu cần, ban tất cả mọi đặc ân cho riêng từng người. Vì những động lực thúc đẩy của tình yêu như thế, sự hững hờ của loài người không thể chối tội; vì quá nhiều ân sủng được ban không giới hạn, sự bội bạc vong ân của loài người không thể nào được tha thứ.

Con hết sức yêu dấu của Mẹ, con cũng hãy nhớ con không phải người ngoài, hoặc người xa lạ trong nhà, trong Giáo Hội Chúa (Eph 2:19). Trái lại, giữa các thánh, con được làm cho trở thành người trong nhà, là hiền thê của Chúa Cứu Thế, được ưu đãi bởi các đặc ân và của hồi môn cho cô dâu. Vì tất cả mọi kho tàng của cải của chú rể đều thuộc về người vợ chính thức hợp pháp, con hãy nghĩ xem những tài sản vĩ đại chừng nào Chúa làm cho con nên người đồng hưởng và là nữ chủ nhân. Con hãy vui hưởng tất cả các sản nghiệp đó vì là người trong nhà Chúa, hãy tha thiết tìm vinh danh Chúa với tư cách một ái nữ và hiền thê được ưu ái. Con phải cám ơn Chúa vì mọi kỳ công hạnh phúc này, chẳng khác gì tất cả những thứ đó được chuẩn bị sẵn sàng chỉ cho một mình con. Con hãy yêu mến, tôn kính Chúa cho chính con và cho người khác, những người mà Thiên Chúa đã hết sức đại lượng đối xử với. Con hãy bắt chước, bằng khả năng kém cỏi của con, những gì con hiểu về các điều Mẹ đã làm trong mọi việc này. Con của Mẹ, Mẹ cũng hứa chắc với con rằng Mẹ hết sức vui lòng nếu con tôn vinh chúc tụng Đấng Toàn Năng với lòng yêu mến nồng nàn, vì mọi ưu ái, các kho tàng bao la mà quyền năng Thiên Chúa đã thực hiện cho Mẹ.

CHƯƠNG 2

NGÔI LỜI NHẬP THỂ

  Thiên Chúa cho toàn thể các thiên thần biết thời điểm Ơn Cứu Độ đã tới, truyền đem Ơn Cứu Chuộc xuống trần gian không trì hoãn. Các thiên thần đã chứng kiến Đức Maria rất thánh được chuẩn bị tô điểm để làm Mẹ Chúa Cứu Thế, được tôn lên địa vị tột đỉnh cao quí. Khi nghe lời Thiên Chúa phán, các thiên thần vui mừng tạ ân vì việc hoàn tất thánh ý trọn lành vĩnh cửu của Chúa, đã cao giọng hát những lời chúc tụng mới, lặp lại bản thánh ca thành Sion: “Thánh, Thánh, Ngài là Thánh, Thiên Chúa, Chúa Sabaoth (Is. 6:3). Chúa công thẳng uy quyền, lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, Đấng ngự trên nơi tối cao (Tv 112:5), đoái nhìn những kẻ thấp hèn nơi trần thế. Kỳ diệu thay các việc Chúa làm, tối cao là những sáng tạo của Chúa.”

Sứ thần Gabriel, chân thành hoan hỉ vâng lệnh Thiên Chúa và được nhiều ngàn thiên thần rực rỡ trong hình dáng người ta tháp tùng, đã từ thiên đàng xuống trần gian. Dung mạo Tổng Lãnh Thiên Thần Đặc Sứ khôi ngô tuấn tú hiếm có; mặt ngài tỏa hào quang rực rỡ, dáng điệu trang trọng uy nghiêm, bước chân chững chạc khoan thai, cử chỉ nghiêm trang, lời nói hùng hồn mạnh mẽ, toàn thân ngài tỏa ra vẻ oai vệ từ tốn theo phẩm cách thần thánh. Sứ Thần Gabriel đội triều thiên sáng chói và y phục tỏa muôn màu rực rỡ. Trên ngực ngài đeo một thánh giá đẹp, tiết lộ mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể ngài đến để báo tin. Toàn thể đạo binh thiên quốc theo hướng dẫn của thủ lãnh Gabriel bay thẳng tới Nazareth, một thị trấn thuộc xứ Galilea, đến nơi cư ngụ của Đức Maria. Đây là một ngôi nhà nhỏ khiêm tốn; phòng riêng của Đức Maria là căn phòng chật hẹp, sơ sài. Đức Trinh Nữ Maria được 14 năm 6 tháng 17 ngày tuổi đời khi mầu nhiệm vĩ đại nhất trong các mầu nhiệm Thiên Chúa làm nơi trần gian được thể hiện nơi Người.

Dáng vóc Đức Maria hết sức cân đối tuy một chút cao hơn so với các thiều nữ khác đồng tuổi; nhưng hết sức thanh nhã và toàn hảo mọi vẻ. Gương mặt Đức Maria hình trái soan hơn là tròn, không gầy cũng không mập; màu da sáng, hơi nâu nhợt; vừng trán rộng cân đối; cặp chân mày vươn cung tuyệt hảo; cặp mắt lớn mà nghiêm trang, vẻ đẹp lạ lùng, hiền dịu như bồ câu, màu mắt đậm pha xanh lá cây; mũi thẳng dọc dừa tuyệt đẹp; miệng nhỏ nhắn với cặp môi đỏ tươi, không quá mỏng cũng không quá dày. Mọi vẻ thiên nhiên nơi Đức Maria đều hết sức cân đối tuyệt tác. Nhìn Đức Maria dâng lên (trong lòng người ta) những cảm giác vui mừng đồng thời nghiêm nghị, mến yêu, tôn kính. Đức Maria lôi cuốn mọi con tim nhưng giữ chúng ở sự yêu mến kính trọng. Vẻ diễm kiều của Người làm cho mọi miệng lưỡi cất lên lời khen ngợi, nhưng sự cao quí về mọi vẻ toàn hảo có sức áp đảo, vẻ thanh nhã của Người bắt chúng phải im lặng. Những người tới gần Đức Maria được ban cho các hiệu lực siêu nhiên không thể giải thích; Người đổ đầy mọi trái tim các ảnh hưởng thiên đàng và hoạt động siêu nhiên, hướng về Thiên Chúa Ba Ngôi.

Khi thiên sứ Gabriel tới gần, Đức Maria đang đắm hồn trong chiêm niệm các mầu nhiệm Thiên Chúa mới canh tân nơi Người suốt chín ngày vừa qua. Vì Thiên Chúa đã bảo đảm với Đức Maria rằng Con Một Thiên Chúa sẽ sớm xuống trần gian mang thân xác loài người, Đức Maria nồng nàn trìu mến vui mừng trông chờ việc Thiên Chúa đã hứa được thể hiện, và bừng cháy lửa yêu mến khiêm nhượng. Đức Maria thầm nói: “Chắc là thời điểm được chúc phúc đã tới, khi Ngôi Lời Thiên Chúa Cha hằng hữu được sinh ra và truyền thông đối thoại với loài người? (Brauch 10:38). Thế giới này sẽ có Ngôi Lời ở với họ? Nhân loại được nhìn thấy Ngôi Lời bằng xương bằng thịt (Is. 40:5)? Ánh sáng cực mạnh không thể tới gần của Ngôi Lời sẽ chiếu soi những kẻ ở nơi tối tăm (Is.9:2)? Ồ, ai sẽ xứng đáng được nhìn thấy và nhận biết Ngôi Lời? Những ai sẽ được phép hôn đất chân Ngài đạp lên!”

 “Hãy vui mừng, hỡi các tầng trời; hỡi trái đất, hãy nhảy mừng (Tv 95:11); mọi người hãy chúc tụng và tung hô Ngôi Lời, vì hạnh phúc đời đời của các ngươi đã tới rồi! Hỡi con cháu Adong bị đau khổ vì tội lỗi, toàn thể nhân loại được Thiên Chúa tạo thành, bây giờ hãy cất cao đầu lên, liệng bỏ ách nô lệ xưa của các ngươi! (Is. 14:25). Hỡi các thánh Tổ, các thánh Tiên Tri, mọi người công chính đang bị cầm giữ trong mỏi mòn trông chờ, giờ đây các ngài sẽ được an ủi vì Đấng Cứu Thế các ngài trông đợi sẽ không còn chần chờ nữa (Agg. 2:8)! Tất cả chúng ta hãy cùng nhau tôn vinh hát ca chúc tụng dâng lên Chúa! Ồ, ai sẽ là tôi tớ của Vị Nữ Lưu, Đấng mà tiên tri Isaias cho biết sẽ là Mẹ Ngôi Lời nhập thể (Is. 7:4)? Lạy Chúa Cứu Thế (Chúa ở với loài người), Thiên Chúa thực và người thực! Hỡi, chìa khóa David, Đấng mở cửa thiên đàng! (Is. 22:22). Lạy Đấng Khôn Ngoan hằng hữu! Đấng Ban Luật cho giáo hội mới! Xin hãy đến, xin đến với chúng con, lạy Chúa, xin chấm dứt những ngãy tù đày của dân Chúa; xin cho muôn dân nhìn thấy Ơn Cứu Độ của Chúa!” (Is. 40:5).

Để mầu nhiệm của Đấng Tối Cao được hoàn thành trọn vẹn, Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel, cùng muôn vàn thiên thần hiện rõ hình người ta, rực rỡ đẹp đẽ khôn tả tháp tùng, đi vào thư phòng, nơi Đức Maria đang cầu nguyện. Hôm đó là ngày thứ Năm, lúc 6 giờ chiều gần tối. Lòng khiêm tốn và thận trọng tột đỉnh của Vị Công Chúa thiên quốc chỉ cho phép Người nhìn vị Thiên Sứ vừa đủ để nhận ra đó là một thiên thần của Thiên Chúa. Nhận ra Thiên Sứ, Đức Maria, với lòng khiêm nhượng thường lệ, muốn biểu lộ lòng kính trọng Thiên Sứ, nhưng Thiên sứ không để Đức Trinh Nữ cúi chào ngài, trái lại chính Thiên Sứ đã cúi mình thật sâu trước mặt Nữ Vương và Bà Chúa của mình, vì nơi Đức Maria, Thiên Sứ tôn kính các mầu nhiệm cao cả của Đấng tạo dựng mình. Đồng thời sứ thần Gabriel cũng hiểu rằng từ nay trở đi thời đại và lề lối cũ: nhân loại chào lạy thiên thần, như ông Abraham đã từng làm (Stk 38:2), đã được thay đổi. Vì bây giờ bản tính nhân loại được nâng lên địa vị của chính Thiên Chúa trong Ngôi Vị của Ngôi Lời, giờ đây nhân loại giữ địa vị con được thừa nhận, bạn đồng hành và là anh em của các thiên thần, như Tổng Lãnh Gabriel đã nói với thánh Gioan Thánh Sử, khi từ chối không để thánh Gioan quì lạy (Kh 19:10).

Tổng Lãnh Thiên Thần chào Đức Maria: “Kính mừng Trinh Nữ đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở với Trinh Nữ, Người được sủng ái hơn hết mọi phụ nữ” (Lc 1:28). Khi nghe lời chào lạ lùng này của Tổng Lãnh Thiên Thần, Đức Nữ Vương khiêm nhượng tột đỉnh trong mọi thụ tạo bối rối, nhưng không hoang mang (Lc 1:28). Điều bối rối này xảy ra vì hai lý do. Thứ nhất, do lòng khiêm nhượng, Đức Trinh Nữ tự cho mình thấp hèn hơn hết trong các thụ tạo, nên sửng sốt khi bất thình lình nghe mình được chào và gọi là “Đấng được sủng ái hơn hết mọi phụ nữ”. Thứ nhì, khi nghe lời chào này, Đức Trinh Nữ suy nghĩ trong lòng rằng làm sao dám nhận lời chào đó. Thiên Chúa cho Đức Maria hiểu Người đã được chọn làm Mẹ Thiên Chúa nhập thể, mà điều này gây ra mối băn khoăn còn lớn lao hơn nữa, vì tư tưởng khiêm tốn của Người. Thiên sứ Gabriel đã giải thích thánh ý Thiên Chúa: “Trinh Nữ Maria, đừng sợ, Trinh Nữ được Thiên Chúa sủng ái (Lc 1:30); này, Trinh Nữ sẽ cưu mang nơi lòng dạ và sinh hạ một Con Trai, Người sẽ đặt tên cho Ngài là GIÊSU; Ngài sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao,...”

Trong muôn loài thụ tạo, chỉ một mình Đức Maria, Đấng khiêm tốn và khôn ngoan tuyệt vời, có đủ sáng suốt và đại lượng hiểu được giá trị lạ lùng vĩ đại của bí tích cực kỳ cao cả như thế. Vì hiểu được tầm trọng đại tuyệt vời của tin này, Người xúc động lạ thường. Nhưng Đức Trinh Nữ khiêm tốn nâng tâm hồn lên Thiên Chúa, Đấng không thể khước từ điều gì Người xin, âm thầm xin ánh sáng và trợ giúp mới hướng dẫn trong vấn đề cực kỳ cao cả này. Đấng Tối Cao, vì muốn Đức Trinh Nữ hành động một mình trong mầu nhiệm này bằng Đức Tin, Cậy, Yêu Mến, đã để cho Người ở trong tình trạng thông thường, ngưng mọi thứ đặc ân nâng đỡ trong lòng mà Đức Maria thường liên tục được hưởng. Trong hoàn cảnh này Đức Trinh Nữ đáp lời Thiên Sứ Gabriel như được thánh Luca ghi lại: “Việc này xảy ra thế nào được, là tôi sẽ mang thai và sinh con; vì tôi không biết, cũng không thể biết đàn ông (cũng không thể biết việc vợ chồng)?” Đồng thời Người thầm dâng lên Thiên Chúa lời khấn hứa Đức Trinh Khiết và lời đính ước mà Đấng Uy Nghiêm đã cử hành với Người.

Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel đáp lời: “Thưa Trinh Nữ, thật hết sức dễ dàng vì quyền năng Thiên Chúa làm cho Người trở nên một Bà Mẹ mà không có sự cộng tác của nam nhân. Chúa Thánh Thần sẽ ngự đến với Trinh Nữ và quyền năng Thiên Chúa sẽ tỏa trên Trinh Nữ, vì thế Đấng Thánh hơn hết mọi đấng thánh sẽ được Trinh Nữ sinh hạ, chính Ngài sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Này coi, bà Elisabeth bạn dì của Trinh Nữ đã có mang con trai trong lúc tuổi già son sẻ, tới nay được sáu tháng rồi; vì không điều gì ngoài quyền năng Thiên Chúa. Thiên Chúa đã làm cho bà Elisabeth, người vốn từng bị coi là son sẻ, mang thai, Chúa có thể làm cho Trinh Nữ nên Mẹ của Ngài mà vẫn bảo toàn đức trinh khiết và tăng thêm sự tinh tuyền của Trinh Nữ.”

Thiên Sứ giải thích cho Đức Maria, để, do nhớ lại các lời Thiên Chúa đã hứa, các lời tiên tri trong Sách Thánh, do lòng trông cậy hy vọng vào các lời hứa và quyền năng vô cùng của Đấng Tối Cao, Đức Trinh Nữ có thể chế ngự được sự chần chờ trước thông điệp từ thiên quốc. Đức Maria trội vượt trên các thiên thần về sự khôn ngoan, thận trọng và mọi nhân đức, Người khoan đáp lời, để có thể đưa ra câu trả lời phù hợp với thánh ý Chúa, xứng đáng với mầu nhiệm vĩ đại quan trọng nhất trong mọi mầu nhiệm và bí tích của quyền năng Thiên Chúa. Đức Maria suy nghĩ rằng việc hoàn thành những lời Thiên Chúa đã hứa qua các tiên tri, của lễ đẹp lòng đáng được chấp nhận nhất trong các lễ vật, mở các cửa thiên đàng, khải hoàn chiến thắng hoả ngục, Ơn Cứu Độ cho toàn thể nhân loại, thỏa mãn phép công thẳng của Thiên Chúa, thiết lập Luật Ân Sủng mới, vinh quang cho loài người, vui mừng cho các thiên thần, bất cứ thứ gì liên quan tới việc Ngôi Lời nhập thể và việc Ngôi Lời mặc lấy hình thể tôi đòi trong lòng trinh khiết của Người đều tùy thuộc lời đáp của Người (Phil. 2:7).

Sự lạ lùng vĩ đại khôn tả, mà mọi người phải ca tụng, là toàn thể mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể cứu chuộc trần thế và bất cứ điều gì khác gồm trong các mầu nhiệm này đều được Thiên Chúa ký thác để tùy thuộc nơi sự ưng thuận của Đức Maria, một Trinh Nữ khiêm tốn. Thiên Chúa đã thích nghi an toàn trao phó những điều đó cho quyết định chính đáng dứt khoát của Vị Phụ Nữ khôn ngoan này (Cn 31:11). Đức Maria suy xét đắn đo những điều này với lòng đại lượng cao quí, nhất định lòng tín nhiệm nơi Người không bị đặt lầm chỗ. Mọi việc tiến hành trong quyền năng Thiên Chúa không tùy thuộc nơi sự cộng tác của các thụ tạo, vì họ không dính líu gì vào các việc đó và Thiên Chúa không trông chờ những cộng tác như thế để thực hiện các việc BỀ TRONG. Nhưng đối với những việc BỀ NGOÀI và những việc có điều kiện, mà trong đó việc TRỞ NÊN NGƯỜI TA là việc vô cùng vĩ đại, Thiên Chúa không thể xúc tiến nếu không có sự cộng tác và ưng thuận của Đức Maria. Thiên Chúa muốn đạt tới cực điểm trong mọi công việc NGOÀI BẢN TÍNH THIÊN CHÚA trong Đức Maria và qua Đức Maria; Chúa muốn chúng ta mắc nợ đặc ân này nơiVị Hiền Mẫu khôn ngoan và Đấng Đồng Công Cứu Chuộc chúng ta.

Đức Trinh Nữ đắn đo xem xét cặn kẽ sự cao cả bao la của chức Mẹ Thiên Chúa (Cn 21:16) để mua lấy chức đó bằng tiếng XIN VÂNG (FIAT); Người vận dụng lòng can đảm vượt trên cả loài  người, nhận thấy dịch vụ đầu tư và trao đổi này với Thiên Chúa Ba Ngôi có lợi biết bao nhiêu. Vì được trang điểm bằng Đức Dũng Cảm và Ân Sủng thiên đàng, Người hiểu các đường lối nhân hậu siêu việt của Thiên Chúa. Sau khi suy xét và thảo luận với Thiên Sứ Gabriel về sự tuyệt vời của các bí tích thần linh tối cao này, nhận thấy điều kiện tuyệt vời có thể tiếp nhận thông điệp gởi tới cho Người, linh hồn tột đỉnh tinh tuyền của Đức Trinh Nữ tan biến trong Thiên Chúa. Cùng lúc đó, với lòng khiêm nhượng không bao giờ có thể ca ngợi đủ, đầu hơi cúi xuống, hai tay chắp lại, Đức Trinh Nữ Maria nói lên lời khởi đầu công cuộc cứu độ chúng ta: “FIAT MIHI SECUNDUM VERBUM TUUM (Xin thể hiện cho tôi như lời ngài)” (Lc 1:38).

Tiếng “XIN VÂNG” Đức Maria dâng lên quá sức ngọt ngào đối với Thiên Chúa, hết sức hạnh phúc cho nhân loại; bốn việc xảy ra trong giây phút đó.

Thứ nhất: Thân xác vô cùng châu báu Chúa Kitô Chúa chúng ta được tạo dựng.

Thứ hai: Linh hồn cực thánh Chúa Cứu Thế được tạo dựng như mọi linh hồn khác.

Thứ ba: Linh hồn và thân xác đó kết hợp tạo thành nhân tính toàn hảo của Chúa.

Thứ bốn: Thiên Tính của Ngôi Lời kết hợp với nhân tính trở thành một Con Người hỗn hợp nhân tính kết hợp với Thiên Tính, trở thành Chúa Cứu Thế vừa là Thiên Chúa thực vừa là người thực.

Thiên Nhi bắt đầu lớn lên trong lòng Thánh Mẫu cách bình thường, được nuôi bằng chất dinh dưỡng và máu của Đức Hiền Mẫu rất thánh, y hệt mọi người khác. Tuy nhiên, Thiên Nhi được tự do hơn và thoát khỏi các bất toàn mà mọi con cháu khác của Adong phải chịu trong không gian và thời gian này. Đức Nữ Vương thiên đàng không có những bất toàn, những chất bất thường dư thừa của việc sinh sản, những thứ này vốn do hậu quả của tội nguyên tổ, nơi các phụ nữ khác những chất này thông thường, xuất hiện cách tự nhiên trong việc tạo ra chất dinh dưỡng và sự phát triển của thai nhi.

Do lòng nhiệt thành trong linh hồn và lòng yêu thương của Đức Maria, máu và dịch thủy trong cơ thể Người thay đổi, do Thiên Chúa quan phòng, cung cấp chất bổ nuôi dưỡng Thiên Nhi. Do đó nhân tính của Chúa Cứu Thế được nuôi dưỡng theo cách tự nhiên, trong khi Thiên Tính nghỉ ngơi và hài lòng với những nhân đức anh hùng của Đức Hiền Mẫu rất thánh. Đức Maria đã cung cấp máu trinh khiết tinh tuyền, không vương tội lỗi và tật xấu do tội mà ra, để Chúa Thánh Thần tạo dựng thân xác Chúa Cứu Thế. Các bà mẹ khác cung cấp chất liệu không trong sạch bất toàn cho việc tăng trưởng của con cái họ, nhưng Đức Nữ Vương thiên đàng cung cấp chất liệu cực độ tinh tuyền cho Thiên Nhi. Vì chất đó được tạo ra và cung cấp do quyền lực của tình yêu và các nhân đức của Mẹ. Bất cứ thứ gì được cung cấp để nuôi dưỡng cơ thể Đức Nữ Vương thiên đàng cũng được tinh lọc cùng một cách như thế. Đức Trinh Nữ biết thực phẩm nuôi dưỡng Người cũng nuôi dưỡng Con Thiên Chúa. Người chia sẻ chất dinh dưỡng này bằng những hành động nhân đức anh hùng đến độ các thiên thần ngỡ ngàng làm sao những hành động thông thường như thế của loài người có thể được liên kết với những cao cả siêu nhiên công phúc và toàn hảo trước thánh nhan Thiên Chúa.

Được trang điểm, được sủng ái và được ban mọi quyền năng Thiên Tính, linh hồn cực thánh Chúa Kitô Chúa chúng ta tiến hành các hoạt động theo thứ tự sau đây. Lập tức linh hồn Chúa Cứu Thế bắt đầu nhìn thấy, hiểu biết tường tận Thiên Tính và Thiên Tính kết hợp với nhân tính cực thánh của mình như thế nào, yêu thương nhân tính của mình với tình yêu vô cùng cao cả và nhìn thấy sự thấp hèn của nhân tính so với Thiên Tính. Linh hồn Chúa Kitô hạ mình thẳm sâu cảm tạ Thiên Chúa Cha hằng hữu đã tạo dựng và đặc ân kết hợp với Thiên Tính, do đó, mặc dầu vẫn là con người, được nâng lên tới Thiên Tính. Linh hồn Chúa Kitô cũng nhìn nhận rằng thân xác cực thánh Chúa được tạo dựng để có thể chịu đau khổ, được làm cho thích hợp để đạt tới cùng đích của Việc Cứu Chuộc. Với ý thức này, linh hồn Chúa Kitô hiến dâng với tư cách Chúa Cứu Thế làm của lễ thay cho loài người (Tv 39:8), chấp nhận tình trạng đau khổ, tạ ân nhân danh chính Chúa Kitô và nhân danh nhân loại lên Thiên Chúa Cha hằng hữu. Chúa Kitô nhìn nhận bản chất nhân tính cực châu báu của Chúa đã được Đức Maria rất thánh cung cấp chất liệu bằng sức mạnh của Đức Bác Ái và các nhân đức anh hùng của Người. Chúa hài lòng với vẻ đẹp của nơi thánh cư này, hết sức thỏa mãn vì đã dành riêng cho Mình linh hồn của Thụ Tạo tột độ hoàn hảo, cực kỳ trinh khiết này. Chúa Cứu Thế chúc tụng Thiên Chúa Cha hằng hữu đã tạo dựng và trang bị cho Thánh Mẫu mọi thánh sủng cùng đặc ân cao cả, đã miễn và giải thoát Người khỏi mọi luật lệ chung của tội lỗi, để là Ái Nữ của Thiên Chúa Cha, trong khi tất cả mọi con cái khác của Adong đều vướng tội (Rom 5:18). Chúa Cứu Thế cầu nguyện cho Đức Maria và cho thánh Giuse, xin ơn cứu độ đời đời cho các ngài. Tất cả mọi hành động này và nhiều hành động khác đáng ca tụng vô cùng được Chúa Cứu Thế là Thiên Chúa thực tiến hành. Không kể các hành động thuộc về thị kiến hạnh phúc và tình yêu tuyệt vời, mỗi hành động kể trên của Chúa Cứu Thế tự nó quá sức dư dật công nghiệp, đến mức chỉ một hành động đã đủ để cứu chuộc khắp mọi thế giới, nếu như có nhiều thế giới như thế.

Duy chỉ một hành động vâng lời mà thôi, theo đó nhân tính cực thánh của Ngôi Lời phải chịu đau khổ và ngăn cản sự vinh quang của linh hồn không truyền thông với thân xác Chúa, đã quá đủ để cứu chuộc chúng ta. Nhưng dù việc này đủ để cứu chuộc cả nhân loại, không điều gì có thể thoả mãn tình yêu bao la của Chúa đối với loài người, ngoại trừ trọn vẹn tình yêu chân thực (Gioan 13:11); vì đây là mục đích cuộc đời Chúa Cứu Thế, Chúa phải dùng việc cứu chuộc để biểu lộ và làm biểu hiệu cho tình yêu mãnh liệt, mà loài người và cả các thiên thần cũng không thể hiểu. Nếu trong giây phút đầu tiên xuống trần gian Chúa đã làm cho Ơn Cứu Độ được sung mãn khôn lường như thế, thì những kho tàng mênh mông chừng nào, công nghiệp sung túc biết chừng nào Chúa Cứu Thế tích lũy khi ban Ơn Cứu Độ qua Khổ Hình, chết trên Thánh Giá sau 33 năm vất vả và tích cực theo thiên ý! Ôi tình yêu bao la! Lòng bác ái vô biên! Ôi lòng thương xót vô tận! Ôi lòng nhân từ đại lượng! và trái lại, Ôi sự bội bạc vô ơn hèn hạ của loài người đối với ân sủng bao la tuyệt vời như thế! Chúng ta sẽ ra sao nếu không có Chúa Cứu Thế? Chúng ta đền đáp ít ỏi chừng nào cho Chúa Cứu Thế yêu dấu của chúng ta, hầu như chúng ta không xúc động, không biết ơn gì đối với hết mọi việc Chúa làm cho chúng ta?

Vì trong chỉ một thời khắc nhiều việc vô cùng quan trọng thiết yếu xảy ra, các hành động của Chúa Kitô, Chúa chúng ta, trong giây phút đầu tiên bẩm thai nơi lòng Thánh Mẫu được nối tiếp bằng thị kiến Thiên Chúa như đã nói ở đoạn trước. Trong thị kiến này Đức Nữ Vương thiên đàng nhìn thấy rõ ràng chi tiết mầu nhiệm kết hợp nhân tính với Thiên Tính trong Ngôi Lời hằng hữu; Thiên Chúa Ba Ngôi minh định Đức Maria rất thánh trong tước vị và quyền hạn Mẹ Thiên Chúa. Bằng tất cả sự chính xác của chân lý, Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa, vì Người là Mẹ tự nhiên một Người Con Trai, Người Con Trai này là Thiên Chúa hằng hữu, Người Con Đó cũng đích thực là một con người. Cho dù Đức Trinh Nữ Maria không trực tiếp cộng tác trong việc kết hợp Thiên Tính với nhân tính của Chúa Cứu Thế, trong trường hợp này, Đức Maria không mất quyền là Mẹ Thiên Chúa đích thực. Người hiệp lực bằng việc cung cấp chất liệu và sử dụng các quan năng thuộc về một Người Mẹ đích thực tới mức độ vĩ đại hơn tất cả các bà mẹ thông thường, vì nơi Đức Maria việc dựng thai và sinh con xảy ra không cần đến sự trợ giúp của nam nhân. Cũng như trong mọi việc sinh sản khác, những người (hoặc sinh vật) làm cho việc sinh sản xảy ra theo luật tự nhiên được gọi là cha và mẹ, mỗi người theo phần mình cung cấp chất liệu cần thiết, tuy nhiên họ không hiệp lực trực tiếp trong việc tạo dựng linh hồn, cũng không tham dự trong việc linh hồn kết hợp với thân xác người con. Cũng vậy và với lý do cao cả hơn, Đức Maria phải được gọi, và đã nhìn nhận Người là Mẹ Thiên Chúa, vì chỉ một mình Đức Maria, với tư cách là Mẹ, mà không có một nguyên nhân nào khác, đã hợp tác trong việc tạo dựng và sinh ra Chúa Kitô, Thiên Chúa thực và người thực; chính nhờ việc cộng tác này của Đức Maria mà Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người, đã sinh ra.

Đức Maria đặc biệt kiên trì sốt sắng cầu nguyện xin Thiên Chúa Toàn Năng chỉ dẫn chu toàn cách xứng đáng chức vụ là Mẹ Con Một Thiên Chúa Cha. Vì lý do này, hơn hết mọi ơn khác, trái tim khiêm nhượng của Đức Maria hối thúc Người tha thiết xin, mà đây chính là chủ đề Người lo lắng, Người xin được soi dẫn trong mọi hành động vì trở nên Mẹ Thiên Chúa. Thiên Chúa Toàn Năng trả lời Đức Trinh Mẫu: “Người Yêu Dấu của Ta, đừng sợ, Ta sẽ giúp đỡ hướng dẫn Người trong mọi điều cần thiết để phụng sự Con Một của Ta.” Với lời hứa này, Đức Trinh Mẫu trở về trạng thái bình thường, ra khỏi thị kiến tuyệt diệu nhất Đức Maria được hưởng. Trở lại bình thường, hành động thứ nhất của Đức Maria là sấp mình xuống đất thờ lạy Con Cực Thánh Mẹ, Đấng là Thiên Chúa và là người ta, bẩm thai trong lòng trinh khiết Mẹ. Không một điều gì có thể làm để phụng sự Đấng Tạo Thành mà Vị Hiền Mẫu cực khôn ngoan này không làm. Từ giây phút đó trở đi Đức Trinh Mẫu ý thức rõ ràng các hiệu lực mới và thiêng liêng trong linh hồn rất thánh cũng như nơi các quan năng nội ngoại của Người. Mặc dù toàn thể bản chất cuộc đời Đức Maria cực kỳ cao quí cả thân xác linh hồn, trong ngày Ngôi Lời nhập thể, bản chất đó đã lên tới mức độ còn cao quí hơn nhiều, được làm cho giống Thiên Chúa hơn do các đặc ân cao siêu khôn tả.

LỜI MẸ MARIA

 Con yêu quí của Mẹ, nhiều lần Mẹ cho con thấy tình yêu bừng cháy trong trái tim vì Mẹ ước ao tình yêu đó cũng phải được làm cho bừng cháy lại trong con, và con được hưởng ơn ích do lời Mẹ chỉ dạy. Hạnh phúc thay linh hồn được Đấng Tối Cao cho biết thánh ý trọn lành của Ngài. Nhưng còn hạnh phúc hơn nữa linh hồn nào thực thi những điều học được. Bằng nhiều cách Thiên Chúa cho người ta thấy những con đường thênh thang và lối mòn dẫn tới đời sống vĩnh cửu: qua Thánh Kinh, qua các Nhiệm Tích và Giáo Luật, qua sách vở và gương sáng các thánh, đặc biệt do việc vâng theo những chỉ dẫn của các thừa tác viên Giáo Hội. Thiên Chúa đã phán về những thừa tác viên đó: “Những ai nghe các con là nghe Thầy;” vì vâng lời các vị đó là vâng lời chính Thiên Chúa. Bất cứ khi nào nhờ những phương tiện này con đạt tới sự hiểu biết thánh ý Chúa, Mẹ ước ao con mang lấy đôi cánh Đức Khiêm Tốn và Phục Tòng, như thể lướt bay nhẹ nhàng, hoặc giống như tia sáng mặt trời nhanh nhất, con hãy mau mắn thi hành thánh ý Chúa, bằng cách đó chu toàn việc làm vui lòng Ngài.

Ngoài những lời chỉ dạy, Đấng Tối Cao còn có những cách khác nữa để hướng dẫn các linh hồn; chẳng hạn, thông báo thánh ý Chúa cách siêu nhiên và tiết lộ cho họ nhiều bí ẩn. Cách chỉ dạy này có nhiều mức độ, không phải tất cả các mức độ đó đều chung hoặc bình thường đối với mọi linh hồn, vì Thiên Chúa ban ánh sáng của Ngài cách thận trọng (Kn 11:21). Đôi khi Thiên Chúa nói với trái tim hoặc truyền lệnh cho những cảm giác nội tâm, sửa dạy, khuyên bảo hoặc chỉ dẫn, đôi khi Chúa gợi ý để xin với Ngài. Có khi Chúa nói rõ điều Ngài muốn để linh hồn có thể hoàn thành. Chúa cũng tỏ hiện, như trong một tấm gương trong suốt, những mầu nhiệm vĩ đại, để các mầu nhiệm được thấy và nhìn nhận bởi những người khôn ngoan tự ý yêu mến các điều đó. Đấng  tốt lành cao cả vô cùng luôn luôn ngọt ngào và công chính khi truyền lệnh, uy quyền khi ban ơn giúp đỡ cần thiết cho Đức Phục Tòng, mau mắn sắp đặt các hoàn cảnh cơ hội để lệnh của Ngài được vâng theo, bất chấp chướng ngại có thể cản trở việc chu toàn thánh ý.

Con của Mẹ, khi nhận được ánh sáng thiêng liêng này, Mẹ ước ao thấy con hết sức chăm chú, mau mắn chuyên cần tuân theo trong hành động. Để có thể nghe tiếng nói rất nhỏ nhẹ mà thiêng liêng nhất này của Thiên Chúa, các quan năng của linh hồn cần phải được tẩy sạch mọi thô tục trần thế, sống hoàn toàn theo tinh thần; vì con người nặng thú tính không thể nhìn thấy những sự cao cả của Thiên Chúa (1 Cor. 2:14). Bởi thế con phải thận trọng đối với các bí mật của Chúa (Is. 34:16) và quên đi những gì bên ngoài. Con của Mẹ, con hãy chăm chú lắng nghe, hãy giải phóng con khỏi mọi vật hữu hình (Tv 44:11). Con phải chuyên cần trau chuốt tình yêu vì tình yêu là lửa cháy. Lửa chỉ bốc cháy khi nào nguyên liệu được chuẩn bị sẵn sàng, con hãy để cho trái tim được chuẩn bị kỹ lưỡng sẵn sàng. Bất cứ khi nào Đấng Tối Cao mời gọi con hoặc nói với con điều gì vì lợi ích các linh hồn, đặc biệt về ơn cứu rỗi đời đời của họ, con hãy hoàn toàn tận hiến cho việc đó; vì các linh hồn được mua bằng máu vô giá của Con Chiên và tình yêu Thiên Chúa. Đừng để con bị cản trở trong việc này vì sự thấp hèn và tính nhút nhát của con; nhưng hãy khắc phục sự sợ hãi vẫn thường cản con lại, vì nếu con vô dụng, chẳng có chút giá trị, Đấng Tối Cao thì giàu có (1 Phêrô 1:18), toàn năng, cao cả và chính Ngài tạo thành muôn vật (Rom 10:12). Sự mau mắn và trìu mến của con sẽ không khi nào không được thưởng, dẫu vậy, Mẹ muốn con hoàn toàn tận hiến để làm vui lòng Thiên Chúa của con hơn.  

CHƯƠNG 3

 ĐỨC MARIA ĐẾN THĂM BÀ ELISABETH

 Sách Phúc Âm nói: “Trong những ngày đó, Đức Maria chỗi dậy vội vàng đi tới miền đồi núi, vào một thị trấn xứ Judea” (Lc 1:39). Việc chỗi dậy của Đức Maria không phải chỉ nói đến những chuẩn bị bên ngoài và rời khỏi Nazareth, nhưng còn nói đến sự chuyển động tinh thần của Mẹ Maria, những thúc đẩy, lệnh Thiên Chúa truyền hướng dẫn Người chỗi dậy bề trong từ nơi náu ẩn khiêm tốn đã được chọn trong tinh thần khiêm nhượng. Đức Maria chỗi dậy chẳng khác gì từ nơi chân Đấng Tối Cao, Đấng mà Người luôn luôn tìm kiếm để chu toàn thánh ý và làm hài lòng, như một nữ tì thấp hèn nhất, theo lời thánh vương David (Tv 122:2) dõi nhìn đôi tay nữ chủ, chờ đợi lệnh truyền. Chỗi dậy theo tiếng Chúa mời gọi, Đức Maria đã mau mắn âu yếm chu toàn thánh ý, để giành được không chần chờ việc thánh hóa vị Tiền Hô của Ngôi Lời nhập thể, Vị Tiền Hô này tới nay còn bị giam cầm trong tội nguyên tổ nơi lòng thánh Elisabeth. Đây là mục đích cuộc hành trình này. Vì thế Vị Công Nương thiên quốc đã chỗi dậy mau mắn rấn bước đăng trình. Rời bỏ ngôi nhà cha mẹ và quên đi dân của Người (Tv 44:11), hai vị Phu Thê tối ư trinh khiết, Đức Maria và thánh Giuse, giong ruổi hành trình tới nhà thánh Zacharia ở miền đồi núi xứ Judea. Cuộc hành trình dài hai mươi sáu dặm (tương đương 43 cây số ngày nay). Từ Nazareth đường đi hầu hết gập ghềnh đứt đoạn, băng đèo, vượt suối. Toàn thể tiện nghi các ngài sử dụng được trong hành trình gay go này là con lừa khiêm tốn, Đức Maria ngồi trên lưng lừa từ lúc khởi đầu hành trình. Mặc dầu con lừa đó chủ ý chỉ để phục vụ Đức Trinh Mẫu, nhưng Đức Maria, Đấng khiêm tốn và hiền lành hơn hết mọi người, nhiều lần xuống khỏi lưng lừa xin đức phu quân Giuse chia sẻ tiện nghi để giảm bớt vất vả dọc đường. Nhưng thánh Giuse không bao giờ nhận đề nghị này. Tuy nhiên để đưa ra điều gì đáp lại đề nghị của Đức Maria, thánh phu quân đồng ý để Người thỉnh thoảng cùng đi bộ với ngài một khoảng đường. Nhưng chỉ mới đi bộ được một khoảng ngắn, thánh phu quân, với hết lòng khiêm tốn kính trọng, đã yêu cầu Đức Maria chấp nhận giảm bớt mệt nhọc.

Bằng những cử chỉ khiêm tốn tế nhị lịch sự như thế, Đức Maria và thánh Giuse tiếp tục hành trình. Chỉ có nhị vị giong ruổi trên đường; nhưng có cả ngàn thiên thần hộ vệ. Thỉnh thoảng Người nói chuyện với các thiên thần, đổi phiên với các ngài, hát ca chúc tụng các kỳ công tạo dựng, các mầu nhiệm của Thiên Chúa và Ngôi Lời Nhập Thể. Do đó trái tim tinh tuyền của Đức Trinh Nữ vô nhiễm nguyên tội luôn bừng bừng cháy lửa yêu mến Thiên Chúa. Thánh phu quân Giuse chia sẻ các việc này bằng cách im lặng, để cho Đức Maria theo đuổi những bay bổng của linh hồn. Do liên tục chiêm niệm, thánh Giuse được hưởng một vài hiểu biết về những gì đang xảy ra trong linh hồn Đức Maria.

Sau bốn ngày giong ruổi, Đức Maria và thánh phu quân tới thị trấn Juda, nơi thánh Zacharia và Elisabeth cư ngụ. Để thông báo các ngài tới thăm, thánh Giuse vội vàng đi trước. Tới nơi, ngài lên tiếng chào: “Thiên Chúa ở với mọi người và đổ tràn đầy linh hồn mọi người hồng ân Chúa.” Thánh Elisabeth được Thiên Chúa cho biết trong thị kiến rằng Đức Maria thành Nazareth đã lên đường tới thăm bà. Trong thị kiến này bà được cho biết Đức Nữ Vương thiên đàng được sủng ái nhất trước nhan thánh Đấng Tối Cao. Nhưng mãi tới khi đôi bạn dì chào nhau trong phòng riêng, mầu nhiệm Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa mới được tiết lộ cho bà. Bà Elisabeth cùng với một vài gia nhân đi ra đón Đức Maria. Vì khiêm tốn và trẻ tuổi hơn, Đức Maria đã mau mắn chào bà chị họ: “Thiên Chúa ở với hiền tỉ, người chị họ thân mến nhất của em.” Thánh Elisabeth đáp lời: “Xin Thiên Chúa thưởng cho Hiền Muội vì Hiền Muội đã đem tới cho tôi sự hoan hỉ này,” và mọi người đi vào trong nhà.

Sau lời đầu tiên chào hỏi, đôi bạn dì lui vào phòng cầu nguyện của bà Elisabeth để chuyện vãn riêng. Lập tức Đức Hiền Mẫu chào mừng bà Elisabeth: “Xin Thiên Chúa bảo vệ hiền tỉ, hiền tỉ thân mến nhất của em, xin Ánh Sáng Thần Linh Chúa ban cho hiền tỉ ân sủng và sự sống” (Lc 1:40). Khi nghe âm thanh lời Đức Maria, bà Elisabeth được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần. Bà vui mừng, vì chỉ trong giây lát bà nhìn nhận ra được những mầu nhiệm cao quí nhất. Những cảm động này và những ơn thai nhi Gioan đồng thời cảm thấy trong lòng mẹ, đều do sự hiện diện của Ngôi Lời nhập thể nơi lòng dạ Đức Maria. Sử dụng âm thanh lời Mẹ Maria làm phương tiện, Chúa Cứu Thế khởi sự từ nơi lòng Mẹ dùng quyền lực Thiên Chúa Cha để cứu độ và bào chữa cho các linh hồn. Lúc này Ngôi Lời hoạt động như một người, mặc dầu chỉ với tầm vóc hết sức nhỏ bé của bào thai mới được tám ngày. Với lòng khiêm tốn đáng ca ngợi, Ngôi Lời nhập thể mang hình thức và tư thế một người đang cầu nguyện nài xin Thiên Chúa Cha. Chúa Cứu Thế tha thiết cầu xin việc tha tội nguyên tổ cho Vị Tiền Hô tương lai và đã được Thiên Chúa Cha thuận ban.

Cùng lúc đó bà Elisabeth cũng nhận được chỉ dẫn về mầu nhiệm Nhập Thể, việc thánh hoá con bà và mục đích nhiệm mầu của việc tuyệt vời lạ lùng này. Thánh Elisabeth cũng ý thức được sự trong trắng trinh khiết và địa vị Đức Maria. Lúc này, Đức Nữ Vương thiên đàng chìm đắm trong thị kiến Thiên Chúa và các mầu nhiệm Thiên Chúa thực hiện qua Con cực thánh. Đức Maria trở nên hoàn toàn giống Thiên Chúa, chan hòa ánh sáng rực rỡ của ân sủng mà Người chia sẻ; bà Elisabeth nhìn thấy Người trong ánh sáng huy hoàng. Hết sức ngỡ ngàng vì những điều mắt thấy tai nghe liên quan các mầu nhiệm cao cả này, bà Elisabeth chìm đắm trong niềm vui ơn Chúa Thánh Thần. Khi nhìn Đức Nữ Vương trời đất và Đấng ngự trong lòng Người, bà Elisabeth lớn tiếng ca ngợi, nói lên những lời được thánh Luca ghi lại:

 “Hiền Muội có phúc hơn mọi phụ nữ và Con của lòng Hiền Muội gồm phúc lạ. Do đâu tôi được ơn trọng đại này là Mẹ Thiên Chúa tôi đến viếng thăm tôi? Vì ngay khi lời Hiền Muội chào tới tai tôi, con trẻ trong lòng tôi cử động vui mừng. Hiền Muội thật diễm phúc, vì đã tin Thiên Chúa sẽ thực hiện những điều Ngài đã nói với Hiền Muội” (Lc 1:42-45).

Bằng những lời này, bà Elisabeth nhắc lại các đặc quyền cao quí của Đức Maria, nhờ Thiên Chúa soi sáng, bà thấy những gì Thiên Chúa đã làm trong Đức Maria, các việc Thiên Chúa làm lúc này, và những việc sẽ thực hiện trong thời gian sắp tới. Thai nhi Gioan cũng thấy và hiểu các điều này trong khi nghe lời bà mẹ nói vì bà được soi sáng nhằm mục đích thánh hóa Gioan. Vì Gioan không thể từ nơi đang ở trong lòng mẹ chúc tụng tạ ơn Đức Maria bằng lời nói, bà Elisabeth, cả cho bà và thay cho con, ca tụng Đức Maria, Người là máng đưa hồng phúc tới cho hai mẹ con.

 Những lời ca ngợi mà thánh Elisabeth nói ra được Thánh Mẫu khôn ngoan khiêm nhượng chuyển dâng lên Đấng Tạo Hoá; bằng giọng ngọt ngào dịu dàng nhất, Đức Maria hát lên bài ca Tạ Ân Magnificat như thánh Luca ghi lại (Lc 1:46-55):

  “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa;

 thần trí tôi reo mừng trong Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi.

 Ngài đã đoái nhìn đến phận hèn nữ tì (của Ngài), từ đây 

 đến muôn đời mọi thế hệ sẽ khen tôi có phúc.

 Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả,

 Danh Ngài chí thánh chí tôn!

 Lòng thương xót của Chúa trải qua đời nọ đến đời kia

 cho những kẻ kính sợ Ngài.

 Chúa tỏ quyền lực (của Ngài)

 dẹp tan lũ kiêu căng.

Chúa hạ bệ kẻ quyền thế cao sang

     và nâng cao người khiêm nhượng.

     Chúa cho người đói nghèo dư đầy,

     và đuổi kẻ giàu có đi tay không.

     Chúa đã cứu dân Israel, tôi tớ Ngài,

 vì (Ngài) nhớ lại lòng thương xót 

 đã dành cho tổ phụ Abraham và con cháu

(của) ông đến muôn đời.”

Chính thánh Elisabeth là người đầu tiên nghe bài ca chúc tụng ngọt ngào này từ miệng Đức Maria. Bà cũng là người đầu tiên hiểu ý nghĩa bài ca Chúc Tụng Tạ Ân; nhờ sự hiểu biết được ơn trên ban xuống, bà đã bình luận kinh Magnificat. Linh hồn Đức Maria chúc tụng Thiên Chúa vì sự siêu việt của Bản Chất vô cùng. Đức Hiền Mẫu dâng lên và nhường mọi vinh quang chúc tụng cho Thiên Chúa (1 Tim. 1:17), cả lúc khởi đầu và khi hoàn thành các công việc của Ngài. Đức Maria nhìn nhận tuyên xưng rằng mọi thụ tạo chỉ được vinh quang vui mừng ở nơi Thiên Chúa mà thôi, vì chỉ một mình Thiên Chúa là toàn thể hạnh phúc và ơn cứu độ họ (2 Cor. 10:17). Đức Maria tuyên xưng Đức Công Chính, sự huy hoàng của Đấng Tối Cao khi đoái nhìn những kẻ khiêm tốn, ban cho họ dư dật tình thương (Tv 137:6). Đức Maria cũng thấy nhân loại hết sức hạnh phúc vì thấy, hiểu và suy nghĩ về những hồng ân được ban xuống cho sự khiêm tốn của Người, Đấng muôn dân sẽ gọi là “Diễm Phúc”; mọi người khiêm nhượng, tùy theo trình độ, có thể chia sẻ niềm hạnh phúc đó. Bằng một lời Đức Maria cũng diễn tả lòng thương xót, ân sủng Thiên Chúa Toàn Năng đổ tràn xuống cho Người vì thánh danh tuyệt vời của Chúa. Đức Maria gọi chung tất cả mọi việc Thiên Chúa làm cho Người là “những điều cao cả” vì không có điều gì nhỏ mọn trong mọi sự được Thiên Chúa thể hiện cho Người.

Lòng thương xót của Đấng Tối Cao chảy tràn qua sự sung mãn của Đức Maria tới toàn thể nhân loại, vì Người là Cửa Thiên Đàng, qua cửa đó nhân loại sinh ra, tiếp tục sinh ra; qua cửa đó nhân loại được vào tham dự phần Thiên Tính. Đức Maria tuyên xưng rằng lòng thương xót Thiên Chúa dành cho Người sẽ được phân phát qua mọi thế hệ, tự nó truyền thông với những người kính sợ Thiên Chúa. Lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa nâng người khiêm tốn lên, tìm kiếm những người kính sợ Chúa. Công lý uy quyền của Thiên Chúa xua đuổi, tiêu diệt những kẻ kiêu ngạo, truất chúng khỏi địa vị của chúng, thay vào đó bằng những kẻ thanh bần khiêm tốn. Đức công thẳng Thiên Chúa đã được thi hành cách huy hoàng và vinh quang tuyệt vời đối với tên chúa trùm kiêu ngạo, Lucifer, và đồng bọn của nó, khi cánh tay toàn năng Thiên Chúa xua đuổi, truất chúng xuống khỏi những địa vị cao sang và ân sủng dành cho chúng theo quyết định ban đầu do tình thương của Thiên Chúa (Is. 14; Kh 12). Từ nguyên thủy, vì yêu thương, Thiên Chúa đã định rằng tất cả mọi thụ tạo đều được chúc phúc (1 Tim. 2:4). Nhưng các phản thần, vì kiêu ngạo muốn leo lên những địa vị mà chúng không thể nào đạt tới hoặc hy vọng tới, đã bị xua đuổi truất khỏi địa vị nguyên thủy dành cho chúng (Is. 14:13).

Thánh Elisabeth xin Đức Maria nhận, làm chỗ nghỉ yên tĩnh, căn phòng bà thường dùng khi cầu nguyện, rất thoải mái, thích hợp cho việc cầu nguyện. Công Chúa thiên đàng khiêm tốn cám ơn thánh Elisabeth. Người dùng căn phòng này để tĩnh tâm, nghỉ ngơi, không một ai bước vào căn phòng này, ngoại trừ Đôi Bạn Dì. Những ngày còn lại, Đức Maria tình nguyện giúp đỡ thánh Elisabeth như một nữ tì, vì đây cũng là mục đích việc Đức Maria tới thăm và an ủi bà. Tình tỉ muội hết sức chân thành, hết sức ngọt ngào và bất phân ly, vì tình thân ái đó được tạo thành do dây liên kết gắn bó cao cả của tình yêu Thiên Chúa! Thiên Chúa đáng ca tụng chừng nào trong việc làm tỏ hiện nhiệm tích vô cùng vĩ đại của việc Ngôi Lời Nhập Thể cho ba vị Phụ Nữ trước khi tỏ lộ điều đó cho bất cứ người nào khác trong nhân loại! Vị thứ nhất là thánh mẫu Anna, vị thứ hai là Ái Nữ của thánh Anna và là Mẹ Ngôi Lời, Đức Maria rất thánh, vị thứ ba là thánh Elisabeth, và cùng với bà là con của bà, vì khi đó người con này còn ở trong lòng bà, không thể được coi là tách riêng khỏi bà. Như thế, theo lời thánh Phaolô: “sự khùng dại của Thiên Chúa thì hơn sự khôn ngoan của loài người.”

Sau khi chuyện trò khá lâu, Đức Maria và thánh Elisabeth rời khỏi phòng tĩnh tâm khi màn đêm xuống. Đức Nữ Vương thấy thánh Zacharia đứng trước mặt Người nhưng ngài câm không nói được. Đức Maria xin vị tư tế của Thiên Chúa chúc lành, thánh Zacharia đã chúc lành cho Người. Mặc dù Đức Maria hết sức thương xót thánh Zacharia vì sự đau khổ của ngài, nhưng Người không dùng quyền lực của mình để chữa ngài, mà chỉ cầu nguyện cho ngài, vì Người biết bí mật về việc ngài bị câm. Thánh Elisabeth, biết được hạnh phúc cao cả của thánh Giuse, đức phu quân trinh khiết của Đức Maria, mặc dầu chính thánh Giuse cho tới lúc này chưa biết được điều đó, đã tiếp đãi phục vụ thánh nhân cách kính trọng quí mến đặc biệt.

Sau khi đã lưu lại nhà thánh Zacharia ba ngày, thánh Giuse xin Đức Maria để ngài trở lại Nazareth; và Đức Maria ở lại giúp đỡ thánh Elisabeth trong khi bà thai nghén. Thánh Elisabeth tặng thánh Giuse một số quà để ngài đem về, nhưng ngài chỉ nhận một phần vì nhân nhượng lời nài nỉ nồng nhiệt của mọi người. Thánh Giuse không những chỉ yêu mến Đức Khó Nghèo, mà cũng có trái tim đại lượng cao quí. Ngài trở về Nazareth, đem theo con lừa các ngài đã dùng khi tới nhà thánh Zacharia. Về tới nhà, vì vắng hiền thê, thánh Giuse được một phụ nữ láng diềng và cũng là họ hàng giúp đỡ. Bà này, khi Đức Maria ở nhà, thường tới lui giúp những việc lặt vặt bên ngoài.

Đúng theo lời chỉ dẫn và mệnh lệnh mới của Đấng Tối Cao, Công Chúa thiên đàng trông coi mọi việc trong nhà bà chị họ Elisabeth. Đức Maria chỗi dậy lúc nửa đêm như thường lệ, dành nhiều tiếng đồng hồ suy gẫm các mầu nhiệm Thiên Chúa và sắp đặt giờ ngủ lúc thức dậy hết sức hoàn hảo, hoàn toàn phù hợp với điều kiện tự nhiên cơ thể Người. Khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi, Đức Maria tiếp tục nhận được những đặc ân, những dẫn giải tường tận, lời khen ngợi, những an ủi vỗ về từ Thiên Chúa. Suốt ba tháng này, Đức Maria được nhiều thị kiến Thiên Chúa, thuộc loại cao siêu bí nhiệm nhất. Vẫn thường xảy ra hơn cả là những thị kiến về nhân tính cực thánh của Ngôi Lời kết hợp với Thiên Tính, vì lòng dạ trinh khiết Đức Maria cưu mang Ngôi Lời nhập thể phục vụ như bàn thờ và đền thờ thường trực của Chúa. Đức Maria nhìn thấy mỗi ngày sự tăng trưởng của thân xác cực thánh đó. Do việc sống thực này và nhờ những bí tích mỗi ngày được tỏ hiện cho Người trong sự cao cả vô biên của quyền năng và bản tính Thiên Chúa, tinh thần Đức Nữ Vương cao cả đã mở rộng mênh mông. Nhiều lần Đức Maria hầu như bị tan biến và chết vì sức mạnh phi thường của lòng yêu mến, nếu không được Thiên Chúa bảo vệ. Đức Maria đã thêm những công việc mà sự giúp đỡ và an ủi thánh Elisabeth đòi hỏi vào những hoạt động thiêng liêng của Người. Sau khi hoàn tất các việc này, Người lập tức trở về với việc tĩnh tâm để có thể tự do trút hết tâm tư ra trước thánh nhan Thiên Chúa.

Vị Tiền Hô quá sức may phước được chính Đức Nữ Vương cao cả đích thân chuẩn bị tã lót cho. Bà Elisabeth đã lo lắng ân cần khiêm tốn xin Đức Nữ Vương thiên đàng cho thánh Gioan Tẩy Giả được đặc ân này. Đức Maria, trội vượt trên hết mọi người về lòng khiêm tốn yêu mến tuân phục, đã đáp ứng điều thánh Elisabeth yêu cầu. Bằng cách này Đức Maria thực hành giáo lý của Ngôi Lời hằng hữu, Đấng đã hạ mình thẳm sâu, đến mức, tuy đồng bản thể, đồng quyền năng và là hình ảnh Thiên Chúa Cha, là Thiên Chúa thực bởi Thiên Chúa thực, Ngài đã mang thân xác và thân phận tôi đòi (Dt 1:3, Phil 2:6-7). Đức Maria rất thánh là Mẹ Thiên Chúa, Nữ Vương mọi thụ tạo, địa vị tuyệt vời trên hết mọi thụ tạo trên trời dưới đất, vẫn duy trì thân phận nô tì khiêm tốn của thụ tạo thấp hèn nhất trong mọi thụ tạo; không bao giờ chấp nhận sự kính trọng và phục vụ phải được dành cho Người, cũng không bao giờ tự đề cao, hoặc không cư xử cách khiêm nhu nhất.

Giờ sao mai mọc, sao mai xuất hiện trước khi Mặt Trời Công Chính đến và loan báo ngày của Luật Ân Sủng từ lâu mong đợi đã tới (Gioan 5:35). Thời điểm thích hợp để Đấng Tối Cao cho Tiên Tri của Ngài xuất hiện giữa thế gian, đó là Gioan Tẩy Giả, người đã dùng ngón tay mình mà chỉ rõ Chiên Thiên Chúa (Gioan 1:29), có nhiệm vụ chuẩn bị nhân loại đón nhận Ơn Cứu Độ và thánh hoá thế gian. Trước khi sinh ra khỏi lòng mẹ, con trẻ diễm phúc này được Thiên Chúa tiết lộ cho biết thời điểm Vị Tiền Hô phải khởi sự công việc ở giữa thế gian. Trẻ Gioan sử dụng được lý trí hoàn toàn, và sự khôn ngoan được Thiên Chúa trút vào tâm trí do sự hiện diện của Ngôi Lời Nhập Thể. Vì thế Gioan biết mình phải đến vùng đất bị nguyền rủa đầy nguy hiểm, phải bước đi trong thế giới đầy ác độc cạm bẫy, nơi nhiều người sa vào hủy diệt trầm luân.

Do lời thánh Elisabeth yêu cầu, Đức Maria đón lấy từ trẻ sơ sinh và dâng hy lễ mới lên Thiên Chúa Cha hằng hữu. Thiên Chúa, rất hài lòng, đã nhận như trái đầu mùa của Ngôi Lời Nhập Thể và thánh ý. Hài nhi tốt phước nhất này, tràn đầy ơn Chúa Thánh Linh, nhận biết Đức Nữ Vương cao cả. Đồng thời lần nữa Gioan sơ sinh thờ lạy Ngôi Lời Thiên Chúa từ nơi lòng Thánh Mẫu hiện ra rõ ràng với Gioan do ánh sáng đặc biệt. Nhờ biết mình được đặc ân trước hết thảy mọi người trong nhân loại, hài nhi Gioan đã thực hành việc tạ ân sốt sắng, lòng khiêm tốn, mến yêu, tôn kính đối với Thiên Chúa và Đức Trinh Mẫu. Đức Nữ Vương thiên đàng, khi dâng hài nhi Gioan lên Thiên Chúa Cha hằng hữu, đã cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa và là Cha Tối Cao, toàn thánh thiện và quyền năng, xin chấp nhận trong vinh danh Chúa lễ vật hoa trái đầu mùa của Con cực thánh Chúa và là Chúa của con. Con trẻ này được Con Một Yêu Dấu Cha thánh hóa, cứu khỏi mọi tì vết tội lỗi và khỏi mọi quyền lực của kẻ thù muôn đời của Cha. Xin nhận của lễ dâng ban sáng này, xin trút đầy lòng trẻ thơ này mọi ân sủng Thánh Linh Chúa, để hài nhi này sẽ là tôi tớ trung thành của Chúa và Con Một Yêu Dấu Chúa.” Lời Đức Maria cầu nguyện có hiệu lực về mọi phương diện, Người thấy Thiên Chúa làm cho hài nhi Gioan được giầu có ân sủng, chọn làm Tiền Hô của Ngài; và Đức Maria cũng cảm nhận trong chính Người hiệu lực những ân sủng lạ lùng này.

Sau đó mọi người bàn việc xếp đặt nghi lễ cắt bì cho con trẻ, vì thời gian theo luật ấn định đã gần tới. Theo tập tục Do thái, đặc biệt đối với những người danh tiếng, nhiều thân nhân và bằng hữu trong gia đình Zacharia bắt đầu tới để quyết định đặt tên cho con trẻ. Thêm vào với những chuẩn bị và tham khảo thông thường liên quan đến tên đặt cho một con trai, địa vị cao sang của thánh Zacharia và Elisabeth, tin tức về việc sinh con lạ lùng này tự nhiên gợi ra trong trí mọi thân nhân mầu nhiệm cao cả nào đó. Thánh Zacharia vẫn còn bị câm, dĩ nhiên thánh Elisabeth phải chủ toạ cuộc họp này. Mọi thân nhân và bằng hữu thấy nơi thánh Elisabeth những dấu chỉ rõ ràng về sự đổi mới và thánh hóa đặc biệt, mà những điều này chính là do sự hiểu biết về các mầu nhiệm nhờ chuyện vãn với Đức Nữ Vương thiên đàng. Gương mặt bà biểu lộ niềm hân hoan rực rỡ làm cho bà trở nên hấp dẫn cách huyền nhiệm và phản ảnh Thiên Chúa Tối Cao, vì bà đang ở trước thánh nhan Ngài.

Vì không nói được, thánh Zacharia ra dấu yêu cầu đưa cho ông cây viết và cho biết ý kiến của mình bằng cách viết trên tấm bảng nhỏ: “Tên cháu là Gioan” (Lc 1:63). Đồng thời Đức Maria, dùng quyền lực của Người trên mọi thụ tạo tự nhiên, truyền cho tình trạng cấm khẩu rời khỏi thánh Zacharia để lưỡi ngài được tự do, vì đã đến lúc phải chúc tụng Thiên Chúa. Với lệnh truyền này, thánh Zacharia thoát khỏi hình phạt đau khổ, trước sự ngạc nhiên và sợ hãi của mọi người, ngài bắt đầu nói, như Thánh Sử kể lại. Những điều được kể ở đây không trái với lời tường thuật trong Phúc Âm về biến cố này, vì Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng, khi tiết lộ bất cứ điều nào thuộc thánh ý Ngài, không luôn luôn tiết lộ phương tiện hoặc cách chu toàn việc đó. Do đó Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel báo cho thánh Zacharia hình phạt vì sự không tin của ông, thiên sứ không cho biết ông sẽ được cứu khỏi hình phạt đó nhờ lời cầu bầu của Đức Maria, mặc dầu việc này đã được định sẵn.

Âm thanh lời Đức Maria là dụng cụ thánh hoá thai nhi Gioan và bà mẹ. Cũng vậy, lệnh truyền và lời cầu bầu âm thầm của Người có hiệu lực giải phóng lưỡi thánh Zacharia, trút vào linh hồn ngài tràn đầy Ơn Thánh Linh và ơn nói tiên tri. Do đó ngài nói lên những lời (Lc. 1: 68-79):

  “Chúc tụng Thiên Chúa Israel; vì (Ngài) đã viếng thăm và thi hành ơn cứu độ dân Ngài:

  Ngài đã ban Đấng Cứu Độ toàn năng cho chúng tôi, trong nhà David tôi tớ Ngài:

 Từ xưa, qua lời các tiên tri Chúa đã hứa ban Đấng từ nguyên thủy;

 Là Ơn Cứu Chuộc chúng tôi khỏi mọi kẻ thù, và khỏi tay những kẻ thù ghét chúng tôi:

 Thực thi lòng thương xót đối với tổ tiên chúng tôi, và nhớ lại thánh ước của mình,

 Ngài sẽ ban cho chúng tôi điều Ngài đã hứa với Abraham tổ phụ chúng tôi,

 Ngài cứu chúng tôi khỏi tay kẻ thù chúng tôi để chúng tôi an tâm phụng thờ Ngài,

 Giữ lòng thánh thiện và công chính trước nhan thánh Ngài suốt đời chúng tôi.

 Còn con, hỡi con, con sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Tối Cao: vì con sẽ đi trước dọn đường Chúa:

 Làm cho mọi người biết Ơn Cứu Độ: đến để chuộc tội lỗi muôn dân:

 Do lòng thương xót của Chúa, Đấng là Bình Minh sẽ đến thăm viếng chúng ta:

 Soi sáng kẻ ngồi trong bóng tối và dưới bóng sự chết: dẫn chúng ta trên đường an bình.”

Trong thánh vịnh của thánh Zacharia gói ghém mọi mầu nhiệm cao cả nhất các tiên tri đã nói trước cách cao siêu liên quan đến Thiên Tính, nhân tính, Công Cuộc Cứu Độ của Chúa Cứu Thế. Ngài cũng hiểu các mầu nhiệm này do ân sủng và ánh sáng được đổ đầy tâm hồn ngài, mà mọi người tới dự lễ cắt bì cho con trai Gioan đều nhận thấy. Tất cả những người này đều chứng kiến việc ông được làm cho khỏi câm và những lời tiên tri ông nói ra. Không thể nào giải thích ý nghĩa sâu xa những lời tiên tri này, như hiện ra trong trí vị tư tế thánh thiện Zacharia.

Khi được thánh Elisabeth báo tin, thánh phu quân Giuse tốt phước nhất trong mọi người đã tới đón Đức Maria rất thánh trở lại Nazareth. Ngài được ông Zacharia và bà Elisabeth đón tiếp cách kính trọng tận tình; vì lúc này ông Zacharia cũng biết rằng thánh phu quân là đấng bảo vệ những kho tàng huyền nhiệm thiên đàng, mặc dầu chính thánh Giuse vẫn chưa biết. Thánh Giuse được hiền thê thiên đàng đón tiếp hết sức khiêm tốn và vui mừng. Đức Maria, như thường lệ, quì trước mặt ngài xin chúc lành, và cũng xin tha lỗi, vì đã không hầu hạ ngài suốt gần ba tháng trong khi ở lại giúp đỡ bà chị họ Elisabeth. Mặc dầu Đức Maria không có lỗi gì, cũng không có đến một chút bất toàn nào trong việc tận hiến chu toàn thánh ý Thiên Chúa theo đúng những ước nguyện của phu quân, nhưng qua cách đối xử lịch sự và hành động khiêm nhượng thân mật này, Người muốn đền bù cho đức phu quân sự thiếu vắng đồng hành đầy an ủi của Người. Thánh Giuse nói bây giờ ngài được nhìn thấy Người và lại được hiện diện hạnh phúc bên Người, ngài đã hết đau khổ vì vắng bóng hiền thê.

Sau vài ngày, Đức Maria và thánh Giuse thông báo ngày ra về. Đến ngày đó, Công Chúa Maria từ biệt thầy cả Zacharia và gia đình. Vì thánh Zacharia được Thiên Chúa soi cho biết địa vị cao cả của Đức Trinh Mẫu, ngài nói với Đức Maria cách tôn kính quí trọng đối với cung điện sống của Thiên Chúa và nhân tính Ngôi Lời hằng hữu. Vị tư tế nói: “Thưa Bà Chúa của tôi, hãy ca ngợi và chúc tụng Đấng Tạo Hóa của Bà, Đấng mà do lòng thương xót vô biên đã chọn Bà trong mọi thụ tạo để làm Mẹ Ngài, là Đấng Quản Thủ duy nhất mọi hồng ân và bí tích của Ngài. Xin nhớ đến tôi, tôi tớ của Bà, trước thánh nhan Thiên Chúa, để xin Ngài hướng dẫn tôi qua chốn lưu đầy này an toàn tới nơi của sự an bình vĩnh cửu mà chúng tôi ngưỡng vọng, và nhờ Bà tôi có thể được xứng đáng nhìn thấy Thánh Tính của Ngài, đó là vinh quang các thánh. Xin Bà cũng nhớ, căn nhà và gia đình tôi, nhất là Gioan con tôi. Xin cầu bầu với Đấng Tối Cao cho dân Bà.”

Mọi người trong nhà thánh Zacharia đã được thánh hoá nhờ sự hiện diện của Đức Maria và Ngôi Lời nhập thể nơi lòng dạ Người. Mọi người trong nhà đó được cảm hoá, được hướng dẫn nhờ mọi lời nói và chỉ dạy, được ảnh hưởng ngọt ngào nhờ sự giao tiếp, cách cư xử vô cùng khiêm tốn của Người. Trong khi lôi kéo đến với mình mọi con tim trong gia đình phúc đức đó, Đức Maria cũng làm cho họ được xứng đáng và xin được từ nơi Con cực thánh cho họ muôn vàn ân sủng. Thánh Giuse được tư tế Zacharia và bà Elisabeth đặc biệt kính trọng, vì ông bà biết địa vị ngài cao cả. Vị Thánh Tổ đầy ơn phúc, hạnh phúc với Kho Tàng vô cùng cao quí mà ngài chưa biết toàn thể giá trị vô cùng quí báu, từ biệt mọi người để đi về Nazareth.

LỜI MẸ MARIA

 Con của Mẹ, có hai lý do mà những hiệu lực Con Mẹ thực hiện cho thánh Gioan và Elisabeth được giấu kín, trong khi đó các ơn ban cho thánh Zacharia lại được làm cho hiển hiện. Thứ nhất, vì thánh Elisabeth nói ra rõ ràng ca tụng Ngôi Lời nhập thể và ca tụng Mẹ. Nhưng chưa tới thời điểm thích hợp để mầu nhiệm này cũng như địa vị của Mẹ được cho mọi người biết, việc Chúa Cứu Thế đến phải được làm sáng tỏ bằng những phương thế thích hợp hơn. Thứ hai, không phải mọi con tim đều đã được chuẩn bị kỹ càng như thánh Elisabeth để đón nhận hạt giống quí báu vô tiền khoáng hậu của ơn hiểu biết cao siêu như thế, họ cũng không đón tiếp điều mạc khải mầu nhiệm với lòng tôn kính xứng hợp phải có. Mặt khác, thiệt là thích đáng để thánh Zacharia, với tư cách là tư tế, phải tuyên xưng những gì mà tới lúc đó ngài được cho biết. Những khởi đầu của ánh sáng thiên đàng có thể được thánh Zacharia đón nhận dễ dàng hơn thánh Elisabeth. Điều thánh Elisabeth nói được dành để đem lại hiệu lực vào thời điểm thích hợp. Mặc dầu lời Chúa có hiệu lực tự nhiên; nhưng lời Chúa, qua các linh mục hoặc tư tế truyền đạt, được mọi người hiểu và chấp nhận dễ dàng hơn.

Vả lại điều rất chính đáng là địa vị và danh dự của chức tư tế phải được tôn trọng xứng hợp. Đấng Tối Cao coi trọng các linh mục, muốn thấy các ngài được đặt đúng địa vị. Thiên Chúa chúc phúc và ban cho các linh mục Ơn Thánh Linh để thế gian phải kính trọng các ngài vì là những người được chọn và được xức dầu. Hơn nữa những sự lạ lùng của Chúa đến với các linh mục thì an toàn hơn, cho dù những điều đó được tiết lộ cho các ngài cách công khai hơn. Gương mặt các linh mục phải sáng láng, như mặt ông Maisen khi từ cuộc hội ngộ với Thiên Chúa trở về (Xh 34:29). Các linh mục phải cư xử và được đối xử theo cách các ngài phải được tôn kính chỉ sau Thiên Chúa.

Con yêu quí của Mẹ, Mẹ muốn con hiểu Thiên Chúa giận thế giới vì cách đối xử bất kính đối với các linh mục; Ngài giận các linh mục cũng như giận người đời. Chúa giận các linh mục vì các ngài quên địa vị cao quí của mình, tự hạ thấp phẩm giá bằng cuộc sống mất phẩm giá ô nhục, làm gương xấu cho người đời do việc đồng hóa với thế giới, chểnh mảng thánh hóa bản thân. Thiên Chúa giận người đời, vì họ hoạt động với lòng tự phụ kiêu căng khả ố dại dột đối với những người được Thiên Chúa xức dầu, mà những vị này, dù bất toàn và lỗi lầm trong cuộc sống riêng tư, phải được kính trọng vì thay mặt Chúa Kitô, Con của Mẹ, ở trần gian.

Từ lời Mẹ chỉ dạy hôm nay, con hãy học tìm kiếm cách đặc biệt sự hướng dẫn trên đường nhân đức và đời sống vĩnh cửu trong tất cả các giao tiếp với mọi người, cho dù họ ở địa vị cao hơn hoặc thấp hơn con. Con hãy bắt chước Mẹ và bà chị họ Elisabeth của Mẹ, với lòng dè dặt thận trọng xin mọi người chỉ dạy hướng dẫn con. Để thưởng cho lòng khiêm tốn như thế, Thiên Chúa ban cho con lời khuyên dạy an toàn và ánh sáng siêu nhiên để thực thi lòng yêu mến nhân đức chân thành kín đáo của con. Con hãy xua đuổi đi, đừng để con bị ảnh hưởng bởi dẫu chỉ một hơi thở nhẹ nịnh hót, tránh những cuộc nói chuyện mà con phải nghe lời nịnh hót; vì những sự hài lòng giả dối đó chắc chắn che khuất ánh sáng, làm trí khôn bị lạc đường. Thiên Chúa rất ghen với những linh hồn, nhất là những linh hồn được Ngài yêu thương, đến nỗi Ngài lập tức quay mặt bỏ đi nếu những linh hồn đó tìm sự hài lòng nơi những lời ca tụng của người đời, tự tìm phần thưởng cho mình qua những lời nịnh hót. Vì do tính nhẹ dạ này, những linh hồn đó không còn đáng được hưởng ân sủng Chúa nữa. Không thể nào kết hợp trong linh hồn những lời thế gian nịnh bợ với sự vỗ về an ủi của Đấng Tối Cao được.

Những an ủi của Chúa thì thành thực, thánh thiện, trinh trong, trường cửu; những vỗ về an ủi của Chúa làm cho khiêm tốn, thanh tẩy, làm cho an bình, soi sáng trái tim. Trái lại, những lời nịnh hót của người đời chỉ là hư không, thoáng qua, gỉa dối, dơ dáy, thốt ra từ miệng những kẻ dối trá (Tv 115:11). Bất cứ thứ gì lừa dối đều là việc làm của kẻ thù tức là của ma quỉ.