PHẦN II

CHƯƠNG 1

 ĐỨC MARIA DÂNG MÌNH VÀO ĐỀN THỜ 

Thánh Joakim và Anna, có một vài thân nhân tháp tùng, đưa ái nữ Maria tới Đền Thờ Jerusalem dâng hiến lên Thiên Chúa như đã khấn hứa. Đoàn người tiến đi âm thầm, nhưng có các thiên thần hộ vệ. Để cử hành biến cố này, thêm rất nhiều thiên thần từ thiên đàng tới hộ vệ Công Chúa Maria, nối tiếp tấu nhạc thiên quốc hát ca chúc tụng tôn vinh Đấng Tối Cao. Đoàn tiến dâng tới đền thờ Jerusalem, thánh mẫu Anna dắt Ái Nữ đi vào đền thờ, có thánh phu quân Joakim đi bên. Các ngài dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện nồng nàn. Song thân dâng hiến Ái Nữ lên Thiên Chúa. Thánh Nhi, với lòng khiêm tốn thẳm sâu, bái lạy, tôn thờ, dâng hiến chính mình lên Thiên Chúa. Chỉ một mình thánh nhi Maria thấy rõ ràng Thiên Chúa đón nhận mình. Giữa ánh sáng huy hoàng thiên đàng tràn ngập đền thờ, thánh nhi Maria nghe tiếng Thiên Chúa nói với Người: “Hãy tới, hỡi Người Yêu Dấu của Ta, Chim Bồ Câu của Ta, hãy tới đền thánh của Ta, nơi Ta muốn nghe tiếng Người chúc tụng tôn thờ.”

  Sau khi cầu nguyện, các ngài chỗi dậy đến gặp thầy cả thượng phẩm. Cha mẹ ký thác Con yêu dấu trong tay ngài. Thầy cả thượng phẩm cùng với hai đấng sinh thành đưa thánh nhi Maria tới một nơi trong khuôn viên đền thờ, nơi đây nhiều thiếu nữ đầu lòng thuộc hoàng tộc và dòng tư tế Lêvi cư ngụ để được dưỡng dục trong yên tĩnh theo lối sống đức hạnh hàng ngày, cho tới khi đủ tuổi sống đời hôn nhân. Mười lăm bậc thang dẫn lên lối vào khu các phòng ốc này. Các tư tế khác đi xuống thang để tiếp đón ấu nhi Maria. Vị thượng tế, theo luật, đã đặt thánh nhi Maria trên bậc thang thứ nhất. Được thầy cả thượng phẩm cho phép, Thánh Nhi quay trở lại quì trước mặt song thân, hôn tay các ngài, xin được chúc lành và cầu nguyện cho. Hai thánh song thân rưng rưng lệ chúc lành cho Thánh Nhi. Từ đó Người một mình rảo gót lên mười lăm bước thang, mau mắn tiến lên với lòng nhiệt thành vui mừng, không hề nhìn lại, không khóc, cũng không tỏ ra một cử chỉ quyến luyến nào của trẻ thơ khi chia tay cha mẹ. Mọi người hiện diện thán phục khi thấy Người, trong tuổi quá bé nhỏ, mà dáng vẻ hết sức nghiêm trang, tinh thần vững vàng. Người được nhận vào hàng ngũ các thiếu nữ; thánh Simeon ký thác Công Chúa thiên đàng cho giáo sư là nữ tiên tri Anna, một phụ nữ thánh thiện, được Thiên Chúa chuẩn bị bằng ơn soi sáng đặc biệt. Bà vui mừng nhận lãnh trách nhiệm Ái Nhi của thánh Joakim và Anna. Bà coi trọng trách đó là ân sủng của Chúa Quan Phòng. Sự thánh thiện nhân đức của bà làm cho bà xứng đáng có người đệ tử là Công Chúa thiên quốc, Đấng sẽ là Mẹ Thiên Chúa và là Nữ Vương muôn loài.

  Đau thương ngập lòng, thánh Joakim và Anna trở về Nazareth, lúc này nghèo nàn vì bị tước mất Kho Tàng vô giá, nhưng được Đấng Tối Cao an ủi nâng đỡ. Thầy cả thượng phẩm thánh thiện Simeon được ơn soi sáng về việc thánh hóa và săn sóc đặc biệt Công Chúa Maria, mặc dầu lúc này ngài không biết mầu nhiệm được ký thác nơi Thánh Nhi. Các tư tế khác nhìn Công Chúa với lòng quí trọng.

  Khi lên mười lăm bậc thang, thánh nhi Maria hoàn tất điều Tổ Phụ Jacob thấy trong giấc ngủ. Vì tại đây cũng vậy, các thiên thần lên xuống thang này: các thiên thần hộ vệ và các thiên thần khác đón chào Nữ Vương khi Người rảo bước đi lên. Nơi đầu thang Thiên Chúa đang chờ sẵn đón Ái Nữ. Công Chúa Maria cảm thấy, do hiệu lực tình yêu tuôn tràn, đây chính là nhà Thiên Chúa và cửa thiên đàng.

  Khi được đưa tới vị giáo sư, thánh nhi Maria quì gối xin bà chúc lành. Thánh Nhi xin được nhận vào số các thiếu nữ được bà hướng dẫn, trông coi, xin bà khoan dung vì những cực nhọc khó khăn có thể do Người gây ra. Nữ tiên tri Anna nói khi hoan hỉ tiếp nhận thánh nhi Maria: “Ái Nữ của mẹ, Con sẽ tìm thấy nơi mẹ một hiền mẫu, mẹ sẽ hết lòng săn sóc dạy dỗ Con.” Kế đó, thánh nhi Maria khiêm tốn chào tất cả các thiếu nữ khác hiện diện. Người nhã nhặn xin các thiếu nữ đó, vì lớn tuổi hơn, hơn về chức phận, chỉ dẫn và sai khiến Người. Đức Maria cũng cám ơn tất cả vì đã nhận Người vào hàng ngũ của họ mặc dầu Người, tự cho mình, không xứng đáng. Giáo sư Anna chỉ định cho Công Chúa Maria một phòng nhỏ nơi cư ngụ của các thiếu nữ. Thánh Nhi quì xuống hôn sàn nhà vì nhớ nơi đó là đất thánh trong khuôn viên đền thờ. Trong hành động khiêm tốn phủ phục thờ lạy, Người tạ ân Chúa vì ân sủng mới này. Người cũng cảm tạ đất vì nâng đỡ và để cho Người đứng trong nơi thánh này. Kế đó, Đức Maria nói với các thiên thần hộ vệ:   “Hỡi các thiên thần, các đặc phái viên của Đấng Toàn Năng, những người bạn chí thiết và đồng hành của tôi, tôi tận tình xin các vị ở lại với tôi trong đền thánh Chúa. Xin các thiên thần chân tín hộ vệ tôi, nhắc tôi nhớ mọi việc phải làm; chỉ dạy hướng dẫn tôi như các giáo sư và hướng đạo mọi hành động của tôi, để trong mọi sự tôi có thể chu toàn thánh ý Đấng Tối Cao, làm vui lòng các vị tư tế, vâng lời thầy dạy và đồng bạn của tôi.” Riêng với các thiên thần đã được nói tới như là mười hai thiên thần trong Sách Khải Huyền, Đức Maria nói: “Tôi xin quí vị, các đặc sứ của tôi, nếu Đấng Toàn Năng ban phép, tới an ủi song thân của tôi trong nỗi đau buồn cô đơn của các ngài.”

  Trong khi mười hai thiên thần thi hành lệnh của Người, Đức Maria tiếp tục nói truyện cách huyền nhiệm với các thiên thần khác. Người cảm thấy sức mạnh siêu nhiên ngọt ngào, được nâng lên trong cơn ngây ngất bừng bừng, ngay khi đó Thiên Chúa truyền cho các thiên thần sốt mến giúp đỡ soi sáng chuẩn bị linh hồn rất thánh của Người. Tức khắc Đức Maria được tràn đầy ánh sáng và sức mạnh siêu nhiên, làm cho toàn bích và quân bình các bản năng theo những mầu nhiệm lúc này được tỏ rõ cho Người. Được chuẩn bị và hộ vệ do các thiên thần biệt phái cho Người với nhiều thiên thần khác, Thánh Nhi thiên quốc, cả hồn xác, được đưa lên thiên cung, nơi đây Người được Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh đón tiếp hết sức quảng đại và hài lòng. Đức Maria phủ phục trước tòa Thiên Chúa Toàn Năng, hết lòng tôn kính, khiêm tốn thờ lạy như Người thường thực hành trong các thị kiến. Tiếp đến Đức Maria được biến đổi do những tác động của ánh sáng siêu nhiên, để trực diện Thiên Chúa. Đây là lần thứ hai Thiên Chúa hiện ra rõ ràng với Đức Maria trong ba năm đầu đời của Người.

  Thiên Chúa Cha nói với Mẹ tương lai của Thiên Chúa Con: “Bồ Câu của Ta, Người Yêu Dấu của Ta, Ta muốn Người thấy các kho tàng của Bản Tính vô cùng, sự toàn vẹn vô cùng của Ta, và cũng nhìn thấy các đặc ân giấu kín được tiền định cho các linh hồn, những người Ta đã chọn được hưởng vinh quang của Ta, được cứu độ nhờ máu Con Chiên. Hỡi Ái Nữ của Ta, hãy coi xem Ta nhân từ đại lượng chừng nào đối với các thụ tạo, những người này biết và yêu mến Ta; chân thực chừng nào trong các lời của Ta, trung thực chừng nào trong các lời Ta hứa, uy dũng lạ lùng biết chừng nào trong mọi việc Ta làm. Hỡi Người Yêu Dấu của Ta, hãy để ý coi điều chân thực khôn sánh là những ai theo Ta không đi trong bóng tối. Ta muốn Người, được Ta chọn, là một nhân chứng về các kho tàng Ta dành để nâng người khiêm tốn lên, làm cho người nghèo khó được sung túc, ca tụng người bị chà đạp, để thưởng tất cả mọi nguời sẽ chịu đau khổ vì danh Ta.”

  Đức Maria đáp lời Thiên Chúa: 

 “Lạy Thiên Chúa tối cao hằng hữu, Chúa cao sang khôn lường, dư dật mọi sự, các mầu nhiệm của Chúa khôn dò; lời Chúa hoàn toàn đích thực và thành tín; các kỳ công Chúa tạo dựng toàn hảo vô cùng, vì Chúa là Chúa, bản tính và mọi sự trọn lành nơi Chúa đều vô cùng và vĩnh cửu. Nhưng, lạy Chúa Tối Cao, sự hèn mọn của con sẽ làm gì khi thấy sự huy hoàng uy nghi của Chúa? Con nhìn nhận con không đáng ngước trông lên sự cao cả của Chúa, dẫu vậy con tha thiết ước mong được Chúa đoái nhìn. Lạy Chúa, trước nhan thánh Chúa, mọi tạo vật chỉ là ‘hư không’. Con là nữ tì của Chúa, con chỉ là bụi đất, con sẽ phải làm gì? Xin Chúa hoàn tất trong con mọi điều Chúa muốn và đẹp ý Chúa. Nếu đau khổ, áp bức hành hạ nhân loại phải chịu, nếu lòng khiêm tốn và đức hiền lành hết sức quí báu trước thánh nhan Chúa, thì lạy Chúa Yêu Dấu của con, xin đừng để con bị tước mất kho tàng bao la đó, cũng xin đừng để con không được hưởng lòng thương yêu của Chúa. Xin Chúa ban các phần thưởng vì những thống khổ này cho các tôi tớ và bạn hữu của Chúa, những người đó xứng đáng hơn con, vì con chưa phải vất vả trong việc phụng sự và làm vui lòng Chúa.”

  Đấng Tối Cao, hài lòng với lời cầu khẩn của Thánh Nhi, đã cho Đức Maria hiểu Chúa ưng thuận để Người chịu đau khổ vất vả suốt cuộc đời trần thế vì yêu Chúa. Công Chúa thiên đàng cảm tạ vì đặc ân được chọn để chịu cực khổ vì vinh danh Chúa. Khao khát nhận được đặc ân đó, Đức Maria xin Thiên Chúa cho phép được trước Thiên Nhan thề hứa bốn điều: Trinh Khiết, Khó Nghèo, Phục Tòng, và trọn đời sống trong đền thờ Chúa.

  Thiên Chúa nói với Đức Maria:

 “Người Yêu Dấu của Ta, Người được tuyển chọn của Ta, các tư tưởng của Ta vượt trên mọi thứ được tạo dựng; Con chưa biết những việc xẽ xảy ra cho Con trong suốt cuộc sống trần thế; Con chưa hiểu tại sao không thể hoàn thành tất cả mọi ước nguyện nồng nàn theo cách Con hình dung lúc này. Lời khấn hứa Đức Trinh Khiết Ta cho phép và ước muốn Con làm việc đó. Ta muốn từ giây phút này Con từ bỏ mọi của cải trần thế. Ta cũng muốn Con cố gắng tối đa giữ những gì thuộc về ba lời hứa kia, đúng như Con đã thệ hứa. Điều ước nguyện của Con sẽ được hoàn thành qua nhiều trinh nữ khác trong luật ân sủng mới; vì, để bắt chước Con phụng sự Ta, các trinh nữ đó cũng sẽ tuyên hứa cũng những lời thệ ước đó và sống trong các cộng đồng mà Con sẽ là Mẹ muôn vàn ái nữ của Ta.”

  Khi đó, trước thiên nhan Chúa, Thánh Nhi tuyên khấn giữ Đức Trinh Khiết, về phần các nhân đức khác không ràng buộc Người. Người khước từ mọi quyến luyến đối với các thụ tạo và mọi thứ ở đời, quyết tâm phục tòng mọi thụ tạo vì Chúa. Người mau mắn, nhiệt thành trung tín thi hành các lời khấn hứa này hơn hết mọi người đã và sẽ tuyên khấn giữ các nhân đức đó. Ngay lúc đó chấm dứt thị kiến Thiên Chúa rõ ràng, nhưng thánh nhi Maria chưa được đưa trở lại trần gian ngay. Vì lưu lại thiên cung, Người được vui hưởng một điều khác nữa, một thị kiến Chúa trong tình trạng thấp hơn, để trong đó Người thấy những mầu nhiệm khác và được trang điểm bằng những y phục thần linh.

  Sau khi Hài Nhi thiên quốc được trang điểm bằng những y phục thuộc về Thiên Chúa, nghi lễ đính ước vinh quang và lạ lùng hơn nữa được cử hành. Đấng Tối Cao nhận Đức Maria là Người Được Tuyển Chọn duy nhất, phong cho Người địa vị tột đỉnh có thể ban cho một thụ tạo. Nơi Đức Maria, Thiên Chúa ký thác thiên tính của Ngôi Lời, và tất cả mọi kho tàng ân sủng thích hợp với địa vị cao quí đó.

  Ngây ngất trong thẳm sâu của tình yêu kỳ diệu và những phước lộc mà các đặc ân này tạo ra, Đức Nữ Vương mọi người khiêm tốn nói với Thiên Chúa Ba Ngôi:

  “Lạy Đức Vua tối cao, lạy Thiên Chúa cao siêu khôn lường, Chúa là Ai và con là ai, mà Chúa đoái nhìn đến con, kẻ chỉ là bụi đất, không xứng đáng với lòng nhân từ thương xót như thế? Lạy Chúa của con, trong Chúa như qua tấm gương tinh tuyền nhìn thấu bản tính kiên định vô cùng của Chúa, con nhìn thấy và hiểu chắc chắn không sợ sai lầm sự thấp hèn đê tiện của con, con ca tụng bản tính vô cùng của Chúa và khinh chê sự hư vô của con. Trước ánh mắt Chúa, con bị tan biến ngây ngất ngỡ ngàng vì Đấng Cao Sang vô cùng đoái nhìn con trùng đất hèn hạ mà nó chỉ đáng bị mọi tạo vật quên lãng khinh thường.

 “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa duy nhất của con, Chúa đáng được vinh danh và chúc tụng trong hành động này biết chừng nào! Qua con, Chúa tạo ra sự lạ lùng biết chừng nào nơi các thiên thần của Chúa, các vị này hiểu lòng đại lượng vô cùng, sự cao sang và lòng thương xót Chúa trong việc nâng con vốn hèn hạ từ bụi đất lên đặt giữa các thiên thần (Tv 112:7)! Lạy Vua và Chúa của con, con xin nhận Chúa là Phu Quân và hiến dâng chính thân con làm nô lệ của Chúa. Xin Chúa đừng để trí khôn con can dự vào bất cứ thứ gì khác, xin đừng để tâm trí con giữ bất cứ hình ảnh nào khác, xin đừng để ý muốn của con tìm kiếm hoặc thích thứ gì khác hơn Chúa, Chúa là Thiên Chúa Tối Cao, là Tình Yêu chân thực duy nhất của con. Xin Chúa đừng để mắt con nhìn người ta, cũng đừng để các bản năng và giác quan của con hướng về bất cứ thứ gì khác ngoài Chúa; xin Lượng Từ Bi cao cả của Chúa hướng dẫn con. Lạy Chúa yêu dấu, chỉ một mình Chúa cho Hiền Thê của Chúa, và Con chỉ thuộc về Chúa thôi, Chúa là Đấng Tốt Lành vô cùng và hằng hữu.”

  Đấng Tối Cao hoan hỉ nhận lời thuận ước này của Công Chúa thiên quốc, đi vào cuộc hôn nhân mới này với linh hồn rất thánh của Người. Lúc này, Đức Maria trở nên Hiền Thê đích thực của Thiên Chúa và là Nữ Vương mọi thụ tạo, Thiên Chúa phong ban cho Người mọi kho tàng ân sủng và quyền năng của Chúa. Thiên Chúa truyền cho Đức Maria xin bất cứ điều gì Người ước ao và bảo đảm rằng Thiên Chúa không bao giờ khước từ bất cứ điều gì Người xin. Chim Bồ Câu tột đỉnh khiêm tốn lập tức tiến lên, với lửa yêu thương bác ái bừng bừng cháy, xin Thiên Chúa gởi Con Một Thiên Chúa đến trần gian để là thuốc chữa trị cho nhân loại; xin cho toàn thể nhân loại được kêu gọi đến với sự nhận biết Thiên Chúa đích thực. Người cũng xin cho thánh Joakim và Anna được nhiều hồng ân Chúa hơn; xin cho những kẻ khó nghèo đau khổ được an ủi nâng đỡ; xin cho điều đẹp ý Chúa được thể hiện nơi Người.

  Trên đây là một số những lời cầu khấn được Vị Tân Giai Nhân mạch lạc nói ra dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Tất cả các thiên thần ca hát dâng lên Đấng Tối Cao những lời ca chúc tụng sự kỳ diệu lạ lùng này, trong khi đó các thiên thần được Thiên Chúa Cao Cả đặc phái, giữa tiếng nhạc thiên cung, đưa Thánh Nhi từ thiên cung trở lại nơi của Người trong đền thờ.

 Để lập tức khởi đầu thực hành những điều Đức Maria đã tuyên hứa trước Thiên Nhan, Người đến với bà giáo Anna, dâng cho bà tất cả mọi thứ mà thân mẫu để lại cho, ngoại trừ một vài cuốn sách và xiêm y. Đức Maria xin bà phân phát những thứ đó cho người nghèo khó hoặc dùng các thứ đó vào bất cứ mục đích gì theo ý bà và xin bà chỉ dạy cho Người biết phải làm những gì. Vị nữ giáo sư cẩn trọng này, do ơn Chúa soi dẫn, đã nhận các thứ do Thánh Nhi trao dâng, thu hết mọi thứ ngoại trừ y phục Người mặc trên mình, để cho Người hoàn toàn khó nghèo. Bà quyết định săn sóc Người cách đặc biệt như một người khốn cùng nghèo khó. 

  Vị nữ giáo sư thánh thiện, sau khi tham khảo ý kiến thầy cả thượng phẩm, cũng đã cho Hài Nhi hiền dịu nhất mực một qui luật sống. Do việc từ bỏ chính mình, Nữ Vương muôn loài được hoàn toàn tự do, thoát khỏi mọi thụ tạo và thoát khỏi chính mình, không có cũng không ước muốn bất cứ thứ gì, ngoại trừ lòng yêu mến Thiên Chúa nồng nàn mãnh liệt tột đỉnh và lòng khiêm tốn tự hạ.

  LỜI MẸ MARIA

 Con của Mẹ, đặc ân con vừa mới học và mô tả là một trong số những đặc ân vĩ đại khôn sánh Đấng Toàn Năng ban cho Mẹ suốt đời. Nhờ trực kiến và thấy bản chất vô cùng cao siêu của Chúa rõ ràng, Mẹ được ơn hiểu biết các thánh ân và mầu nhiệm cao siêu nhất. Trong việc trang điểm và đính ước này Mẹ nhận được những ơn khôn sánh, cảm thấy những việc làm ngọt ngào nhất của Chúa trong linh hồn. Lòng Mẹ ước nguyện tuyên khấn Đức Khó Nghèo, Vâng Phục, Trinh Khiết và dâng mình trong đền thờ rất vui lòng Chúa. Vì thế Mẹ được phần thưởng là những người kính sợ Thiên Chúa trong Giáo Hội và luật ân sủng được lôi cuốn sống dưới những lời khấn này như hiện nay. Đây là lúc khởi đầu những điều mà các con, các nữ tu, thực hành ngày nay, hoàn thành những lời thánh David trong thánh vịnh bốn mươi bốn: “Nối gót Người, các trinh nữ sẽ được tiến dẫn tới Đức Vua;” vì Chúa an bài những khát vọng của Mẹ là nền tảng cuộc sống tu trì theo luật Phúc Âm. Suốt đời Mẹ, Mẹ chu toàn trọn hảo mọi điều hứa với Chúa; không bao giờ Mẹ nhìn vào mặt một nam nhân, ngay cả đến gương mặt thánh phu quân Giuse, Mẹ cũng không nhìn vào mặt các thiên thần, khi các vị này hiện ra dưới hình người ta, mặc dầu Mẹ thấy và biết tất cả các thiên thần trong Thiên Chúa. Mẹ cũng không bao giờ hướng về bất cứ thụ tạo nào, có lý trí hoặc vô linh tính, cũng không hướng về bất cứ hoạt động hoặc khuynh hướng nào của bản tính nhân loại. Mẹ được Thiên Chúa thống trị trong mọi sự, hoặc do chính Chúa trực tiếp hoặc gián tiếp qua các thiên thần, mà Mẹ tự nguyện vâng phục.

  Con của Mẹ, nhờ ơn trợ giúp siêu nhiên con hãy nâng mình lên trên chính bản thân con, không bao giờ để ý muốn của con ưng theo bất cứ sự chiều mến hoặc cử chỉ nào không ngay chính. Mẹ ước muốn con tiêu hao chính con trong việc chết đi đối với các đam mê của con, trở nên hoàn toàn thần hoá, để sau khi dập tắt trong con mọi thứ thuộc về trần thế, con có thể tiến tới việc sống và đối thoại siêu nhiên. Mặc dầu là đất, con phải là đất được chúc phúc, không có những gai góc của đam mê, con phải là thứ đất mà hoa trái của nó được dành tất cả cho Chúa, Đấng tạo dựng nó. Nếu con có Phu Quân là Chúa tối cao toàn năng, con hãy coi mọi thứ thuộc về trần gian này là hèn hạ đối với địa vị của con, không đáng để con hướng mắt con và hơn cả là không để trái tim con hướng về phía thụ tạo nô lệ hèn hạ như thế. Ngay cả đến các thiên thần cũng yêu mến quí trọng con vì địa vị của con là hiền thê của Đấng Tối Cao. Nếu như giữa loài người, một tiện dân dám để mắt nhìn khao khát vào người vợ của hoàng tử bị coi là thái độ hỗn xược vô cùng liều lĩnh, thì tội nặng nề biết chừng nào nếu việc đó xảy ra đối với hiền thê của Vua toàn năng thiên quốc? Và trọng tội không kém nếu chính người đó ưng thuận sự suồng sã như thế. Con hãy suy xét và nhớ chắc rằng hình phạt dành cho tội này kinh khủng khôn lường, Mẹ không cho con thấy điều đó rõ ràng để con khỏi chết vì sự yếu đuối của con. Mẹ ước ao những lời Mẹ chỉ dạy đủ thúc đẩy con tiến tới việc chu toàn tất cả mọi điều Mẹ giáo huấn và tận lực bắt chước Mẹ. Con phải chuyên cần nhắc các nữ tu của con nhớ giáo huấn này, theo dõi việc họ sống giáo huấn đó.

  Con của Mẹ, hạnh phúc vĩ đại nhất, có thể ban cho bất cứ linh hồn nào trong cuộc sống trần thế, là Đấng Tối Cao kêu gọi linh hồn đó tận hiến phụng sự Ngài. Do đặc ân này Thiên Chúa cứu linh hồn đó khỏi tình trạng nô lệ hiểm nghèo, giải thoát khỏi tình trạng nô lệ thế gian ác độc, nơi mà tự do đích thực bị tước đoạt, nơi người ta phải sống trong lao khổ. Người nào mà dại khờ đần độn tới mức không biết những hiểm nguy của cuộc sống trần gian, cuộc sống vốn bị cản trở bởi mọi thứ luật lệ tập quán kinh tởm ác độc do sự xảo quyệt của ma quỉ và sự cứng lòng của loài người? Đời sống tu trì ẩn dật là cuộc sống tốt lành, trong đó người ta tìm được sự an toàn. Bên ngoài cuộc sống đó là thống khổ và biển giông tố, đầy tràn đau khổ bất hạnh. Qua sự cứng lòng hoàn toàn quên hẳn chính họ, loài người không biết cũng không được lôi cuốn bởi các ân sủng của chân lý này. Nhưng hỡi con, một linh hồn, con đừng điếc tai trước tiếng mời gọi của Đấng Tối Cao, con hãy lắng nghe và đáp ứng lời Chúa trong mọi hành động của con. Mẹ muốn nhắc con nhớ ma quỉ luôn xúi người ta chống lại lời Chúa kêu gọi hướng linh hồn về đời sống thánh thiện trong việc phụng sự Ngài.

  Chính hành động thánh thiêng của việc nhận tu phục, cho dù không luôn được thực hiện với lòng sốt sắng và ý định trong sạch ngay chính, cũng đủ khiến Lucifer và các quỉ của nó tức giận lôi đình. Chúng biết đời sống tu trì sẽ đưa linh hồn tới sự thánh thiện trọn lành, làm vinh danh Chúa và các thiên thần hân hoan. Rất thường xảy ra là có những người nhận lãnh tu phục với những động lực thế tục, sau đó được ơn Chúa làm cho nên tốt lành ngay chính. Nếu việc trở nên thánh thiện nói trên xảy ra cho một người khởi đầu cuộc sống tu trì không vì ý ngay lành, thì nơi một linh hồn đi vào vòng ảnh hưởng của tình yêu siêu nhiên với lòng khao khát chân thành tha thiết tìm kiếm yêu mến phụng sự Thiên Chúa, ơn soi sáng và ảnh hưởng của ân sủng nhờ sự hãm mình trong đời sống tu trì còn mạnh mẽ sinh ích lợi nhiều hơn biết chừng nào?

CHƯƠNG 2

  * MẸ MARIA DẠY  VỀ CÁC LỜI KHẤN BẬC TU TRÌ;

 * NHỮNG NĂM ĐẦU ĐỨC MARIA SỐNG TRONG ĐỀN THỜ

 Con yêu dấu của Mẹ, Mẹ cho con lời giáo huấn con ước ao xin thực hành. Nhưng con cần phải nhận giáo huấn này với tinh thần ngưỡng vọng nhiệt thành, sẵn sàng thực hành. Người khôn ngoan nói: “Con của cha, nếu con bảo lãnh cho bạn hữu của con, con đã cột tay con vì người khác, con bị ràng buộc vì lời nói từ miệng con, con bị kẹt vì chính lời của con” (Cn 6:1-2). Cũng thế, người nào thề hứa với Thiên Chúa là cột chặt ý muốn riêng của mình vào Chúa. Bởi vậy, người đó không có tự do hành động theo ý mình mà phải theo sự chỉ dẫn và thánh ý Chúa. Khi tuyên khấn, người thệ hứa đã tự nguyện ràng buộc vào Chúa, bị cột giữ do những lời từ chính miệng mình nói ra. Trước khi tuyên khấn, quyền lựa chọn còn ở trong tay mình; nhưng một khi đã tự ràng buộc thì phải tuân theo. Con hãy nói cho những người đó biết họ phải hoàn toàn ký thác hiến dâng tự do cho Thiên Chúa qua các bề trên. Các linh hồn được cứu độ hoặc bị hư mất hoàn toàn tùy thuộc việc sử dụng ý chí tự do của mình. Đấng Tối Cao đã thiết lập đời sống tu trì dưới các lời khấn thánh hiến chính vì để cứu nhân loại khỏi lạm dụng ý chí tự do mà làm hại chính họ.

Qua lời tuyên khấn, quyền tự do làm điều xấu được may mắn mất đi, còn tự do làm điều lành được bảo đảm vững chắc. Lời khấn hứa tựa như dây cương dẫn qua khỏi mọi hiểm nguy, đưa tới con đường êm ái vững chắc. Linh hồn thoát khỏi tình trạng nô lệ, khỏi bị các đam mê khống chế; được sức mạnh mới chống lại các thứ đó; lấy lại địa vị chúa tể nơi vương quốc của mình; chỉ qui phục luật ân sủng và ơn Chúa Thánh Thần soi dẫn. Vì thế, nếu linh hồn dâng hiến toàn thể ý chí của mình chỉ để chu toàn các điều đã khấn hứa với Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần sẽ quản trị và hướng dẫn mọi hoạt động của linh hồn đó. Như thế, người ta từ thân phận nô lệ đổi sang hoàn cảnh và tình trạng là con Đấng Tối Cao; từ cuộc sống thế tục chuyển sang cuộc sống thiên thần; sự hư hoại vì hiệu lực xấu xa của tội lỗi không thể phát huy toàn lực. Còn ở trần thế, con không thể nào ước lượng hoặc hiểu thấu các kho tàng ân sủng gồm những gì, bao nhiêu được ban cho các linh hồn tận lực tận tình phấn đấu chu toàn cách hoàn hảo các lời khấn hứa. Con hết sức yêu quí của Mẹ, Mẹ bảo đảm với con rằng một người có thể ngang bằng hoặc vượt hơn công nghiệp các thánh tử đạo nếu người đó nhiệt thành thi hành cách trọn hảo các nhiệm vụ tu trì. Các linh hồn tu trì cần giữ những ước nguyện theo thứ tự:

 Thứ nhất: Họ phải phấn đấu để nhiệt thành chu toàn các bổn phận theo lời khấn và tất cả các nhân đức nối kết với những lời khấn đó.

 Thứ hai: Họ có thể thực hành những việc tự nguyện, những việc được gọi là “làm quá bổn phận”. Một số linh hồn, tìm kiếm sự trọn lành, nhưng bị ma quỉ làm lạc đường, ấp ủ lòng nhiệt thành không chính đáng, thường làm nghịch lại. Vì thế, trong khi thiếu sót trầm trọng các bổn phận chính, họ lại sốt sắng thêm những thực hành tự nguyện khác, vốn thường ít ích lợi, hoặc nổi lên tinh thần tự phụ, tự tôn. Họ âm thầm muốn được coi là nổi bật về lòng nhiệt thành trọn lành, trong khi đó thực ra họ rất xa ngay cả bước khởi đầu của sự trọn lành. Mẹ không muốn thấy ở con một lỗi lầm nào đáng bị quở trách. Nhưng, trước hết con hãy chu toàn mọi bổn phận theo lời khấn và trong đời sống cộng đồng, kế đến con có thể thêm những gì con có khả năng, tùy theo khả năng của con và ơn Chúa soi dẫn. Những điều này sẽ tô điểm, làm cho linh hồn con đáng được chấp nhận trước mắt Thiên Chúa.

Lời khấn Đức Phục Tòng là điều thề hứa chính trong đời sống tu trì. Lời khấn phục tòng hàm ý khước từ ý muốn riêng mình. Nhờ lời khấn này, các tu sĩ từ bỏ mọi quyền nói về mình: tôi sẽ làm hoặc tôi sẽ không làm; người tu sĩ vứt bỏ, khước từ mọi quyền này do đức vâng phục, ký thác mình trong tay bề trên. Để chu toàn bổn phận này, điều cần thiết là con không cho rằng mình khôn ngoan, không thấy mình vẫn còn là chủ những ý thích, những ước vọng, hoặc ý kiến của con. Đức phục tòng đích thực phải gồm có phẩm chất đức tin, để các lệnh của bề trên được tôn trọng, kính cẩn thi hành, mà không chỉ trích phê phán. Để phục tòng cách thích nghi, con phải tự coi mình không có ý kiến, không có cuộc sống riêng mình, trái lại con phải để cho mình được dìu dắt và quản trị tựa như một xác chết, sống chỉ để tận tụy thi hành mọi điều bề trên muốn. Không bao giờ xét con phải chu toàn lệnh bề trên hoặc không, mà chỉ nghĩ làm cách nào con thi hành điều bề trên đưa ra cách tốt đẹp nhất.

Con hãy nhớ phương cách trọn hảo nhất của đức phục tòng là tránh xúc phạm bề trên bằng việc tỏ ra con không đồng ý với người. Bề trên muốn tìm một đức phục tòng tự nguyện. Những lệnh bề trên đưa ra phải được tuân theo tức thời, không phản đối hoặc lầm bầm, bằng lời nói hoặc bất cứ cử chỉ nào khác. Bề trên thay quyền Chúa, người nào phục tòng bề trên là tuân phục chính Chúa, Đấng quản trị và soi sáng các vị đó, để các lệnh bề trên đưa ra sẽ vì mục đích cứu độ các linh hồn. Sự tuân phục đối với bề trên đi thẳng tới chính Thiên Chúa, Đấng tỏ hiện thánh ý Ngài qua các bề trên (Lc.10:16). Con phải thuyết phục chính con tin Chúa nói qua các vị đó, đó là lời của chính Chúa. Con đừng sợ vâng phục, vì đó là con đường hết sức an toàn. Trong ngày chung phán, Thiên Chúa không xét những sai lầm của kẻ phục tòng; Chúa sẽ gột sạch mọi tội lỗi khác khi xét đến hy sinh được hiến dâng do đức tuân phục. Con cực thánh Mẹ đã hiến dâng những đau khổ và cái chết vô giá của Ngài cách đặc biệt cho những kẻ yêu mến phục tòng. Ngay cả đến bây giờ, để làm nguôi lòng Thiên Chúa Cha, Chúa Ngôi Hai xin Thiên Chúa Cha nhớ đến việc Ngài tuân phục cho đến chết trên Thánh Giá (Phil. 2:8), mà nhờ đó Thiên Chúa Cha nguôi cơn thịnh nộ đối với nhân loại.

      Lời khấn Đức Thanh Bần là việc đại lượng khước từ, xa tránh gánh nặng các thứ tạm bợ; làm nhẹ nhàng tinh thần, là ơn trợ giúp được ban cho sự yếu đuối của loài người, là sự tự do của trái tim thanh tịnh theo đuổi phúc lộc thiêng liêng vĩnh cửu. Đức Thanh Bần là sự giầu có dư dật, trong đó lòng khao khát của cải trần thế được làm nhẹ bớt, quyền vui hưởng mọi giàu sang tột đỉnh cao quí được thiết lập. Con của Mẹ, tất cả những điều này và muôn hồng ân khác tích chứa trong đức thanh bần tự nguyện, mà con cái trần gian không biết. Những người đó chỉ yêu mến của cải trần thế, thù mghịch đức khó nghèo thánh thiện phong phú này. Họ không cân nhắc, mặc dầu họ cảm thấy đau khổ vì sức nặng của cải níu chặt xuống đất, đưa họ tới chính lòng trái đất để mưu tìm vàng bạc với nỗi ưu tư lớn lao. Họ bỏ ăn bỏ ngủ, lao khổ và mồ hôi, như thể họ không phải là người, mà là dã thú, đến độ không biết những việc họ đang làm là đau khổ. Nếu họ bị níu kéo nặng nề như thế khi chưa tìm được của cải, thì khi sở hữu những thứ đó họ còn bị cột chặt xuống đất nặng nề chừng nào? Hãy để cho vô số linh hồn, đã sa hoả ngục vì của cải, nói rõ gánh nặng của họ. Hãy để những lo lắng mưu toan khôn tả về bảo vệ tài sản, hãy để cho các luật lệ bất khả nhượng mà của cải và những người sở hữu chúng đưa vào thế gian, nói rõ những gì cần phải có để duy trì những thứ đó!

Của cải vật chất bóp nghẹt và tàn ác đè bẹp tinh thần yếu đuối, triệt hạ đặc quyền theo đuổi sự tốt lành vĩnh cửu là chính Thiên Chúa. Trái lại, Đức Thanh Bần tự nguyện khôi phục lại cho nhân loại địa vị cao quí, giải thoát họ khỏi nô lệ sự ác độc, phục hồi quyền tự do siêu việt và quyền làm chủ mọi thứ. Người ta không bao giờ có thể là chủ nhân đích thực nếu không khinh chê của cải, chỉ khi nào tự nguyện không màng đến của cải, người ta mới có được của cải vững bền hơn và sử dụng của cải cách khôn ngoan hữu hiệu hơn. Khi đó, hơn hết mọi sự là trái tim được tự do, có thể tích chứa kho tàng Thiên Chúa, mà trái tim được Đấng Tạo Hoá ban cho sức chứa hầu như vô cùng.

Của cải vật chất tạm bợ được Đấng Tối Cao tạo dựng chỉ với mục đích duy nhất là duy trì sự sống. Khi đạt tới mục đích này rồi, nhu cầu của cải vật chất không cần nữa. Nhu cầu này hữu hạn, được thỏa mãn dễ dàng nhanh chóng, nên không có lý do để việc lo lắng cho linh hồn bất tử chỉ thất thường tạm bợ. Thế mà nhân loại để cho lòng khao khát của cải quá sức liên tục không hề đứt quãng. Người ta tận hiến thì giờ, hết lòng lo lắng ân cần, dồn hết khả năng lanh lợi của trí óc chỉ để lo cho việc sống của thân xác, mà không biết sẽ kéo dài được bao lâu, cũng chẳng biết khi nào chấm dứt. Trái lại, người ta chỉ dành cho linh hồn khốn nạn của họ được một giờ khắc duy nhất trong suốt bao nhiêu năm cuộc sống, mà giờ đó rất thường là cuối cùng và tồi tệ nhất trong đời họ.

Lời khấn Đức Trinh Khiết gồm có sự trinh khiết thân xác và linh hồn. Sự trinh khiết này dễ bị mất, đôi khi khó khăn hoặc không thể nào hồi phục lại được, tùy theo cách làm mất nhân đức này. Kho tàng Đức Trinh Khiết quí báu được tàng trữ trong lâu đài có nhiều cửa ra vào. Nếu những cữa ngõ này không được canh giữ bảo vệ cẩn mật, kho tàng quí báu này không chút bảo đảm an toàn. Con của Mẹ, để duy trì được trọn hảo lời khấn Đức Trinh Khiết, cần phải thiết lập một giao ước bất khả xâm phạm với các giác quan của con, không sử dụng chúng, ngoại trừ những gì thuận theo phán đoán của lý trí và vì vinh danh Đấng Tạo Hoá. Sau khi các giác quan của con bị diệt, con dễ dàng đánh bại các kẻ thù của con, vì chỉ qua các giác quan kẻ thù mới có thể đánh bại con. Không một tư tưởng nào có thể trở lại, hoặc được làm cho hoạt động trở lại, trừ phi được xúi giục khích thích bởi những hình ảnh và ấn tượng được thâu nhận qua các ngoại giác.

 Mặc dầu không một thánh đức nào thiếu nơi linh hồn người tuyên khấn và được xứng đáng tước hiệu là hiền thê của Chúa Kitô, chính Đức Trinh Khiết làm cho người khấn giữ xứng đáng và giống Đức Phu Quân hơn hết. Chính Đức Trinh Khiết làm cho trinh nữ trở nên cao quí, được đưa ra khỏi tính hay hư nát trần thế, được nâng lên cuộc sống thiên thần, trở nên giống Chúa. Thánh đức này tô điểm mọi thánh đức khác, nâng thân xác lên bậc cao hơn, soi sáng trí khôn, tích trữ trong linh hồn sự cao quí vượt trội hơn hết mọi thứ hay hư nát. Thánh đức này thuộc về một kết quả đặc biệt của Ơn Cứu Độ mà Con của Mẹ giành được trên Thánh giá. Sách Thánh nêu lên cách rõ ràng rằng “các trinh nữ tháp tùng đi theo Con Chiên” (Kh 14:4).

Lời khấn dâng mình trong tu viện là tường thành bảo vệ Đức Trinh Khiết và mọi thánh đức, là cấm khu trong đó các thánh đức được nuôi dưỡng phát triển. Đó là đặc quyền Thiên Chúa ban cho các nữ tu, tránh cho họ khỏi những lôi cuốn nặng nề nguy hiểm mà sự tự do của thế gian trả cho người theo những phù vân của nó. Do lời khấn này, người nữ tu sống như trong một hải cảng được phòng thủ an toàn, trong khi các linh hồn khác ngụp lặn đắm chìm trong biển đời đầy giông tố. Vì có hết sức nhiều lợi điểm, việc dâng mình sống trong tu viện không thể bị coi như giam hãm trong cấm cung. Trong vòng thành tu viện, những cánh đồng thánh đức bao la được dành sẵn cho người nữ tu. Trong môi trường như thế, người nữ tu có thể giải trí và vui thú. Chỉ khi nào không còn cảm thấy hứng thú trong niềm vui này, người nữ tu mới bắt đầu cảm thấy sự tù túng trong cuộc sống tự do tuyệt vời này. Con của Mẹ, đối với con, đừng để có một chỗ vui chơi nào khác; Mẹ cũng không muốn thấy con bị giam mình trong những giới hạn chập hẹp cho dù nơi đó bằng cả thế giới hữu hình. Con hãy lên tới đỉnh cao hiểu biết, yêu mến Thiên Chúa, nơi không một ranh giới hoặc giam hãm nào có thể giữ được con, tại đó con có thể sống trong tự do tuyệt đối. Từ nơi cao đó con sẽ thấy mọi thụ tạo nhỏ bé xấu xa đáng khinh chê chừng nào, những thứ đó quá nhỏ hẹp không thể giữ linh hồn con được.

Chúng tôi (tác giả) xin kể lại chính lời Đấng Tối Cao giải thích điều này:

 

    “Tất cả các việc làm của Đức Maria, Đấng là Mẹ Thiên Chúa làm người, đều tột đỉnh trọn hảo về mọi phương diện. Các hành động nhân đức nội tâm của Người hết sức cao quí, công nghiệp và ân huệ cực độ vĩ đại. Phần con, (linh hồn tác giả), có thể hiểu nhưng không thể giải thích các việc đó bằng ngôn ngữ của con. Trong cuộc lữ hành, trong thân xác hay chết của con, con hãy đặt Đức Maria rất thánh làm gương sáng cho con, đi theo Người qua sa mạc bằng việc khước từ mọi thứ thuộc về loài người và thế giới hữu hình. Con hãy để Đức Maria là sao Bắc Đẩu dẫn đường con đi. Người sẽ cho con thấy rõ thánh ý Cha, sẽ cho con tìm thấy nơi Người luật thánh Cha, con hãy suy gẫm luật đó ngày đêm. Đức Maria, do lời Người cầu bầu, sẽ đánh vào tảng đá nhân tính Chúa Kitô (Ds 20:11), để nơi sa mạc này, các nguồn nước ân sủng và ánh sáng siêu nhiên được tuôn ra, để khát vọng của con được no thoả, kiến thức của con được soi sáng, ý chí con bốc cháy. Đức Maria sẽ là cột lửa soi sáng đường con đi (Xh 13:21), là cột mây cho con bóng mát, giải khát con chống lại sức nóng do các đam mê, chống lại sự hung ác của kẻ thù con.”

“Con sẽ có nơi Đức Maria một thiên thần canh giữ bảo vệ, hướng dẫn (Xh 13:21), đưa con thoát khỏi những hiểm nguy của thành Babylon và Sodoma, để án trừng phạt của Cha không vươn tới con. Con sẽ có nơi Người một Bà Mẹ yêu thương, Người Bạn cố vấn, Giáo Sư hướng dẫn, Đấng bầu cử che chở, Nữ Vương mà con có thể phục vụ và vâng phục như một nữ tì. Trong các thánh đức, Đấng Hiền Mẫu này của Con Một Yêu Dấu Cha đã thi hành trong đền thờ, con sẽ tìm thấy một bản tóm lược tất cả các sự trọn lành tột đỉnh theo đó con phải sắp xếp đời con. Hãy học ở Người để con là một bản sao y hệt đáng tin cậy tất cả các thánh đức của Người, vẻ đẹp Đức Trinh Khiết, sự dễ thương của Đức Khiêm Tốn, tính tức thời cao độ nhất trong việc Tận Hiến và Vâng Lời, kiên định của Đức Tin, vững vàng của Đức Cậy Trông, lửa của Đức Yêu Mến, và là hình bóng trọn vẹn nhất tất cả mọi kỳ công của quyền năng Cha. Con phải điều chỉnh cuộc đời con theo qui luật này; do gương sáng này con phải sắp xếp, trang trí đời con theo vẻ diễm kiều duyên dáng của một tân giai nhân muốn đi vào phòng Đấng Phu Quân và Chúa của mình.”

“Nếu sự cao quí và điều kiện của vị giáo sư là động cơ thúc đẩy môn đệ, làm cho học thuyết của mình được dễ dàng chấp nhận và khả ái hơn, (thì) ai có thể thu hút con mạnh mẽ hơn Vị Nữ Giáo Sư của con, Đấng là Mẹ của Phu Quân của con. Người được tuyển chọn tinh tuyền trinh trắng hơn hết trong tất cả mọi phụ nữ, không một tì vết tội lỗi, cùng một lúc là Trinh Nữ và Mẹ của Con Một Vô Cùng Yêu Dấu của Thiên Chúa Cha. Con cần nghe lời Vị Nữ Giáo Sư cao cả này; bắt chước Người cặn kẽ; suy gẫm không ngưng nghỉ sự tuyệt vời và các thánh đức đáng ca tụng của Người. Con hãy nhớ cuộc sống và các đối thoại Người tiến hành trong đền thờ là khởi đầu, mà tất cả các linh hồn nối gót Người thánh hiến làm hiền thê của Chúa Kitô, phải bắt chước chính những việc đó.”

Bây giờ chúng tôi trở lại với các hành động của Đức Maria trong đền thờ. Sau thị kiến Thiên Chúa, Đức Maria nạp cho bà giáo tất cả mọi thứ sở hữu. Người trút bỏ hết mọi thứ để hoàn toàn gắn bó Đức Phục Tòng; giấu dưới thánh đức này các kho tàng ân sủng khôn ngoan vĩ đại hơn của các thiên thần sốt mến Seraphim. Đức Maria xin thầy cả và bà giáo vạch cho Người qui luật sống hướng dẫn trong các việc làm. Sau khi vị tư tế và bà giáo cân nhắc lời thánh nhi Maria, và được ơn Chúa soi sáng, đã gọi Công Chúa thiên cung tới trước mặt hai vị. Vì kính trọng chức vụ và địa vị của các ngài, Công Chúa Maria đã hết sức khiêm tốn xin được phép quì suốt buổi hội kiến này.

 Vị thượng tế nói với thánh nhi Maria: “Con của ta, ngay khi Con còn là một hài nhi rất non trẻ, Chúa đã đưa Con tới nhà và là đền thờ Chúa. Con hãy cảm tạ ơn Chúa vì hồng ân này, từ đó mưu cầu lợi ích bằng cách hết lòng phụng sự Chúa trong chân lý với trái tim ngay thẳng. Con hãy giành cho được tất cả các nhân đức, để Con có thể từ nơi thánh này trở về, được chuẩn bị sẵn sàng và trang bị sức mạnh chống lại mọi khó khăn nguy hiểm trần thế. Con hãy vâng lời giáo sư Anna và sớm khởi đầu mang ách ngọt ngào của thánh đức, để Con có thể thấy ách đó dễ mang suốt đời” (Thren. 3:27).

Hài nhi thiên cung đáp: “Thưa thầy của Con, thầy là thừa tác, là tư tế của Thiên Chúa và thay quyền Chúa; thưa giáo sư của Con; con xin thầy tư tế và giáo sư chỉ dạy con mọi việc con phải làm để con có thể tránh khỏi lỗi lầm. Con ước nguyện vâng lời thầy tư tế và giáo sư trong mọi sự.” Thầy cả thượng phẩm và bà giáo Anna cảm thấy được soi sáng phải đặc biệt chăm sóc hài nhi thiên cung này.

Thầy cả thượng phẩm cũng nói cho hài nhi Maria biết qui luật về mọi việc làm hàng ngày: “Con của thầy, con sẽ tham gia các việc chúc tụng ca hát tôn vinh danh Chúa với hết lòng cung kính nhiệt thành, luôn luôn xin Đấng Tối Cao ban những nhu cầu cho đền thánh và dân của Ngài, và xin cho việc Chúa Cứu Thế đến. Tám giờ con sẽ lui về nghỉ và thức dậy lúc rạng đông để chúc tụng Chúa cho tới giờ thứ ba (khoảng sáu giờ sáng). Từ giờ thứ ba cho tới chiều tối con sẽ làm các việc tay chân, để con sẽ được chỉ dạy về mọi thứ. Lúc bữa ăn, con hãy giữ sự chừng mực thích hợp. Kế đó con tới nghe bà giáo của con chỉ dạy. Phần còn lại trong ngày con sẽ dành vào việc đọc Sách Thánh. Trong mọi việc con hãy khiêm tốn, nhã nhặn, vâng theo lời bà giáo của Con.”

Thánh nhi vẫn còn quì trong khi lắng nghe lời vị tư tế và sau đó xin ngài chúc lành. Sau khi hôn tay thầy cả thượng phẩm và bà giáo, hài nhi Maria quyết tâm giữ qui luật sống được ấn định cho Người trong suốt thời gian ở trong đền thờ bao lâu các vị không truyền dạy cách khác. Công Chúa Maria, Đấng là Thầy sự thánh thiện, đã chu toàn các lệnh truyền. Các khát vọng và tình yêu nồng nàn thúc đẩy Người thi hành nhiều việc khác nữa. Do gương sáng đặc biệt này, những người sống đời tu trì cần học tránh không theo lòng yêu mến sôi sục theo ý riêng mình trái với Đức Vâng Lời và ý bề trên.

Đức Maria xin bà giáo cho phép phục vụ tất cả mọi người bằng những việc khiêm tốn: lau chùi các phòng ốc, rửa chén bát. Với lòng khiêm nhượng, Người biết cách dành thì giờ và cơ hội để làm việc đó, và làm trước những người khác. Đức Maria hiểu mọi mầu nhiệm và nghi lễ trong đền thờ, nhưng Người ân cần học những điều đó cả lý thuyết lẫn thực hành. Không bao giờ Người sót một nghi lễ hoặc bổn phận nào, bất kể nhỏ mọn đến đâu. 

Công Chúa thiên cung hết sức hiền lành, dịu dàng, thân ái trong mọi hành động; sẵn sàng phục vụ; thiết tha chuyên cần trong việc tự hạ; ân cần quí mến đối với tất cả các thiếu nữ trong đền thờ. Đức Maria tiến hành mọi việc cách khôn ngoan siêu việt. Không khi nào Người để mất một cơ hội làm việc thấp hèn, khiêm tốn phục dịch các bạn đồng liêu, và chu toàn điều làm vui lòng Thiên Chúa.

Đức Maria có mọi thánh sủng và đặc ân tự nhiên ở mức độ tột đỉnh toàn vẹn. Các thánh ân này lại được tăng cường do ân sủng siêu nhiên, tạo ra sự kết hợp tuyệt diệu các ân sủng và vẻ diễm lệ nơi toàn thân cùng hành động của Người. Khi ăn khi ngủ, cũng như trong mọi nhân đức khác, Người tột đỉnh vẹn toàn. Không khi nào Người vượt quá đức chừng mực, có khi còn giảm bớt dưới mức cần thiết. Tuy giấc ngủ được ấn định không cản trở việc chiêm niệm cao độ, nhưng, vì vâng lời, Người đã vui lòng bỏ việc này.

 Đức Maria phân chia và dùng thì giờ cách khôn ngoan, thời lượng được chia thích hợp cho mọi hành động. Đức Maria đọc nhiều trong Sách Thánh về các Thánh Tổ. Người thông thuộc Sách Thánh và các mầu nhiệm cao siêu trong đó vì Đấng Tối Cao đã cho Đức Maria biết mọi mầu nhiệm. Người đề cập những điều đó với các thiên thần hộ vệ. Người thấm nhuần và trao đổi về các điều đó cách khôn ngoan sắc bén. Nếu vị Nữ Giáo Sư thiên quốc này viết ra những điều Người hiểu, hẳn chúng ta có nhiều phụ bản thêm vào Sách Thánh để có thể rút ra từ đó sự hiểu biết tường tận các lời viết cùng ý nghĩa sâu xa của các mầu nhiệm được tích trữ trong kho tàng Giáo Hội.

LỜI MẸ MARIA

 Con của Mẹ, nhân loại bất toàn và cẩu thả trong việc tu đức, dễ dàng yếu nhụt đi trong việc thi hành nhân đức vì bản tính loài người luôn cố gắng tìm an nhàn, trốn tránh lao khổ. Khi linh hồn nghe theo và tùy ứng đối với phần thú tính của xác thịt cùng bản chất tự nhiên của nó, xác thịt sẽ tăng sức mạnh lên, chế ngự lý trí và tinh thần, làm cho lý trí và tinh thần suy yếu tới tình trạng nô lệ nguy hiểm đáng hổ thẹn. Điều ác độc này đáng bị mọi người ghê tởm, lo sợ đề phòng. Thiên Chúa ghê tởm điều đó nơi các thừa tác, các tu sĩ, vì những người đó được coi là trọn hảo. Vì hững hờ uể oải nơi sa trường và hay bị chiến bại, họ dần dần sống trong tê liệt, tin tưởng tự mãn với sự an toàn giả tạo. Họ bằng lòng với các việc thực hành nhân đức dễ dàng bề ngoài, đồng thời tưởng tượng mình đang leo lên đỉnh trọn lành. Lúc đó ma quỉ đưa ra những cám dỗ, gợi ra những điều dẫn tới sự xao lãng việc tu đức và những cám dỗ khác. Vì ít nhận thức rõ rệt các qui luật và các việc thực hành của đời sống tu trì, họ bắt đầu suy yếu trong mọi lãnh vực, coi những điều đó không quan trọng, tiếp tục sống trong an toàn giả tạo, để rồi dần dần mất hẳn ý thức của nhân đức đích thực.

 Con của Mẹ, Mẹ muốn con cảnh giác chống lại điều sai lầm này. Con hãy nhớ, sự chểnh mảng tự nguyện đối với một điều sai sót chuẩn bị và mở đường cho những điều khác; làm cho người ta dễ dàng phạm tội nhẹ; phạm tội nhẹ rồi đến phạm tội trọng. Vì thế người ta xuống dốc từ hố này đến hố khác, cho tới khi tới đáy vực chỉ vì coi thường điều xấu xa. Để ngăn ngừa thảm họa này, cần phải chận đứng dòng tội lỗi từ xa. Việc thực hành hoặc nghi lễ có vẻ nhỏ mọn chính là công sự, là đai phòng thủ phía ngoài chặn đứng địch quân từ xa. Trong khi đó các thành lũy pháo đài chính là các lời giáo huấn, các lệnh truyền và qui luật liên quan đến những vấn đề quan trọng hơn. Nếu ma quỉ phá vỡ, thắng được hàng phòng thủ ngoại vi, nó có lợi thế hơn thắng được những tuyến phòng thủ bên trong. Khi một khe hở rộng bị tạo ra do việc phạm tội, cho dù là tội nhẹ, ma quỉ có cơ hội tốt hơn để tấn công vào thành trì chính trong linh hồn. Linh hồn thấy mình yếu nhược vì các hành động và thói xấu, nhưng vì không có sức mạnh ân sủng, linh hồn không thể mạnh mẽ chống cự cuộc tấn công; và ma quỉ, vì đã chiếm được càng lúc càng nhiều quyền hành đối với linh hồn đó, bắt đầu khống chế, đàn áp linh hồn đó mà không gặp sức đối kháng.

CHƯƠNG 3

 ĐỨC TIN VÀ CÁCH ĐỨC MARIA THỰC HÀNH THÁNH ĐỨC NÀY

 Do vẻ mỹ miều hòa hợp liên quan các tập quán thánh đức, linh hồn Đức Maria được làm cho rực rỡ, cao thượng, hoàn toàn hướng về Thiên Chúa Tối Cao, Đấng là Cùng Đích của mọi thụ tạo. Linh hồn Người linh lợi hoạt bát, mau mắn, hữu hiệu, vui vẻ trong việc thực hành thánh đức. Nếu khả năng hiểu biết kém cỏi của chúng ta có thể xuyên thấu vào linh hồn thánh hiến của Đức Maria, hẳn chúng ta tìm thấy ở đó vẻ diễm kiều tuyệt vời vượt trên vẻ đẹp của tất cả mọi tạo vật hợp lại, và linh hồn Người chỉ dưới một mình Thiên Chúa. Mọi toàn hảo nơi tất cả các thụ tạo đều có ở nơi Đức Maria cực trinh trong chẳng khác ở trong chính tâm cốt của chúng. Mọi thánh đức nơi Đức Maria đạt tới tột đỉnh trọn hảo, vì thế, dù cách nào cũng không thể nói Người cần có điều này hoặc điều kia để trở nên toàn hảo. Ngoài các thánh đức được ban dư đầy, Đức Maria có tất cả mọi nhân đức đạt được do luyện tập, mà Người bồi đắp thêm mãi. Nơi các linh hồn khác, một hành động đơn thuần không thể được gọi là nhân đức, vì cần phải có nhiều hành động được lặp đi lặp lại để tạo thành nhân đức. Nhưng nơi Đức Maria mỗi hành động đều rất hữu hiệu, cường độ cao tột bực, đến độ chỉ một hành động của Người cũng trội vượt trên hết các thánh đức của tất cả mọi người.

 Mục đích để chu toàn một việc cách toàn hảo là làm cho việc đó trở nên thánh đức. Nơi Đức Maria, mục đích này là chính Thiên Chúa, mục đích tối cao của mọi hoạt động. Đức Maria không làm điều gì mà không chắc chắn tiến tới tôn vinh và làm hài lòng Chúa hơn, Người coi điều này là động lực và mục đích tối hậu của mọi hành động.

 Các thánh đức được Thiên Chúa ban sẵn chia ra hai lớp:

  * Lớp thứ nhất gồm những thánh đức có chính Thiên Chúa cho các đối tượng trực tiếp là TIN, CẬY, YÊU MẾN. Vì thế, ba Thánh Đức này được gọi là các THÁNH ĐỨC THẦN HỌC.

 * Lớp thứ hai gồm tất cả các nhân đức khác có những đối tượng gần làm phương tiện đưa linh hồn tới mục đích cuối cùng là Thiên Chúa. Các nhân đức này được gọi là các NHÂN ĐỨC ĐẠO LÝ. Các nhân đức này gắn liền với tập quán phong tục. Mặc dầu nhân đức thuộc lớp này rất nhiều, nhưng được rút gọn thành bốn và được gọi là các NHÂN ĐỨC CHÍNH: KHÔN NGOAN, CHÍNH TRỰC, DŨNG CẢM, và CHỪNG MỰC ĐIỀU ĐỘ. Tác giả sẽ hết cố gắng sức đề cập chi tiết hơn tất cả các nhân đức và hình thái khác nhau của những nhân đức này để có thể làm sáng tỏ tất cả và từng nhân đức đặc biệt tô điểm các năng lực của Đức Maria.

Bây giờ chỉ xin nói tổng quát: Đức Maria có các nhân đức này ở mức độ trọn hảo; các nhân đức này còn được bổ sung bằng ơn Chúa Thánh Thần và Đại Hồng Phúc. Ngay từ giây phút đầu tiên bẩm thai, Thiên Chúa đã trút cho Đức Maria tràn đầy mọi thánh sủng và đặc ân dẫn tới vẻ đẹp cao quí của linh hồn và các bản năng nhân loại của Người. Tác giả xin tóm gọn tất cả những điều đó trong một lời: Thiên Chúa ban với mức đáng ca tụng vô cùng mọi thứ tốt lành, có thể ban, cho Đức Maria vì Người là Mẹ của Con Chúa và là một thụ tạo. Thêm với tất cả những thứ này, các nhân đức của Đức Maria được bồi đắp không khi nào ngưng. Người thêm công nghiệp riêng vào với các nhân đức được ân ban, nuôi dưỡng, làm tăng thêm các nhân đức tích tụ được bằng cường độ mãnh liệt của các hành động đầy công nghiệp.

Chỉ bằng vài lời, thánh Elisabeth mô tả Đức Tin cao cả của Đức Maria, khi bà thốt lên: “Hiền Muội có phúc vô cùng vì Hiền Muội đã tin, vì các điều Chúa hứa được viên thành nơi Hiền Muội” (Lc 1:45). Đức Tin của Đức Maria phải được ước luợng từ sự vĩ đại của mọi thánh sủng và đặc ân Người được, từ địa vị cao sang khôn tả của Người. Nơi Đức Maria, Đức Tin hiện hữu ở mức độ cao nhất, hoàn hảo nhất có thế có được. Đức Tin của Đức Maria bù đắp sự thiếu lòng tin nơi nhân loại. Đấng Tối Cao ban Thánh Đức tuyệt vời này để nhân loại có thể nhận biết Thiên Chúa và các mầu nhiệm, các kỳ công lạ lùng của Ngài: một nhận thức chắc chắn không thể sai, chẳng khác gì đối diện Thiên Chúa như trong thị kiến của các thiên thần trên thiên đàng. Cùng một thực thể và cùng một chân lý, các thiên thần nhìn thấy rõ ràng, chúng ta nhìn thấy mờ ảo qua tấm màn Đức Tin.

Nhìn vào thế giới, chúng ta thấy biết bao nhiêu quốc gia, triều đại và dân tộc, từ ngày khởi đầu thế giới tới nay, đã mất quyền hưởng đặc ân vĩ đại Đức Tin. Loài người vong ân bội bạc, biết bao người đã vô phúc vứt bỏ Đức Tin (mà) Thiên Chúa ban cho do lòng thương xót vô lượng vô của Ngài. Biết bao nhiêu tín hữu, nhận được Đức Tin không vì xứng công, đã chểnh mảng khinh thường để cho Đức Tin nằm im lìm vô hiệu đối với mục đích cuối cùng mà Thánh Đức này chỉ dạy hướng dẫn. Vì thế, đức công bằng của Thiên Chúa phải có phần đền bù cho những mất mát đáng than khóc này, để ân sủng khôn sánh tìm được phần đền đáp đầy đủ và thích hợp với khả năng nhân loại. Cũng thật chính đáng phải tìm được ít nhất một thụ tạo mà nơi người đó, Đức Tin đạt tới sự toàn hảo tột đỉnh, để làm gương sáng và mẫu mực cho toàn thể nhân loại. Tất cả sự đền đáp này được tìm thấy nơi Niềm Tin cao cả của Đức Maria. Thiệt là chính đáng để chỉ vì một mình Đức Maria, chỉ cho một mình Người mà Thiên Chúa nghĩ đến và tạo dựng Đức Tin tuyệt hảo này, nếu như không có một người nào khác trên trần gian. Theo cách chúng ta nói, chính Đức Maria là bảo đảm đủ đối với Đấng Quan Phòng, để Ngài tìm được sự đền đáp về phần nhân loại, để mục tiêu của Đức Tin không bị thất bại vì người ta thiếu sót đáp ứng. Tất cả các tín hữu có thể đo lường, đánh giá chính họ qua Đức Tin của vị Nữ Giáo Sư này, vì họ có thể tin nhiều hơn hoặc ít hơn, họ tới gần hơn hoặc còn xa sự trọn lành khôn sánh nơi Đức Tin của Đức Maria. Vì thế Đức Maria được đặt làm Thầy, làm gương mẫu cho mọi tín hữu, gồm cả các Thánh Tổ, các Tiên Tri, các Thánh Tông Đồ, các Thánh Tử Đạo và tất cả những người đã tin hoặc sẽ tin các giáo lý Chúa Kitô cho tới tận thế.

Đức Maria dứt khoát tin mọi chân lý siêu nhiên bằng tình yêu sáng ngời, tình yêu này không thể diễn tả bằng ngôn từ, vì e rằng trình bầy sai lạc thiếu sót làm giảm cường độ mãnh liệt của lòng tin này. Đức Maria biết mọi điều Người tin và tin mọi điều Người biết, vì kiến thức siêu nhiên nơi Đức Maria ở mức độ cao nhất có thể nơi một thụ tạo. Kiến thức của Người được duy trì luôn luôn trong điều kiện đích thực; nhờ có trí nhớ như các thiên thần, Đức Maria không hề quên điều gì một khi đã biết. Đức Maria luôn luôn sử dụng đặc ân và khả năng hiểu biết này để thực hành Đức Tin. Người thấu triệt mọi điều về Đức Tin, hiểu biết Thiên Chúa tường tận. Về phương diện này Đức Maria giữ địa vị cao vượt trên hết mọi người trần thế, chính Người tạo thành một đẳng trật tột độ cao xa, mà không một người nào khác đang trên đường về quê trời có thể đạt tới.

Đức Maria vượt trội hơn mọi thần thánh về công nghiệp do thực hành Đức Tin và Đức Cậy, ngay cả trong điều có thể coi là bình thường nhất, ở mức độ hoạt động thấp nhất của Người. Như thế chúng ta phải nói gì về sự tuyệt vời nơi các hành động, công nghiệp và lòng yêu mến của Đức Maria khi Người được quyền năng Thiên Chúa nâng lên tới tình trạng hạnh phúc thị kiến trực diện cao siêu nhất và hiểu biết Thiên Chúa tường tận? Nếu điều này vượt qúa sức hiểu biết của các thiên thần, làm cách nào chúng ta, người trần thế, có thể hy vọng tìm được ngôn từ để diễn tả? Nơi Mẹ Maria, Đức Tin đã đạt tới tột đỉnh trọn lành và trọn vẹn chu toàn mục đích của nó. Những người bất trung, những người vô tín ngưỡng, những người ngoại giáo, các người thờ ngẫu thần hãy tới gần vị Nữ Giáo Sư của Đức Tin là Đức Maria, để được soi sáng cho thấy sự giả dối sai lầm, để tìm thấy chính lộ dẫn tới cùng đích của mình. Các tín hữu Công Giáo hãy tới gần để học cho biết những phần thưởng dồi dào của Thánh Đức này. Tất cả chúng ta hãy cùng với các thánh Tông Đồ xin Chúa ban thêm đức tin (Lc 17:5). Không phải chúng ta có thể đạt tới trình độ Đức Tin nơi Đức Maria, nhưng hãy xin được lòng ao ước bắt chước và theo Người, vì Người dạy chúng ta bằng Đức Tin, và giúp chúng ta đạt được thánh đức này.

Thánh Phaolô gọi tổ phụ Abraham là cha tất cả các tín hữu (Rom 4:11), vì ngài là người đầu tiên nhận được lời hứa, tuyệt vọng mà vẫn một lòng trông cậy (Rom 4:18). Thánh Phaolô muốn ca tụng đức tin tuyệt vời của vị Thánh Tổ, vì ngài đã tin lời Thiên Chúa hứa rằng bà Sarah sẽ sinh hạ cho ngài một con trai mặc dầu bà xưa nay son sẻ, theo luật tự nhiên, không thể nào mang thai được. Hơn nữa, khi hiến dâng con trai Isaac làm hy lễ theo lệnh Thiên Chúa, ngài đã cùng một lúc từ bỏ viễn tượng có con cháu nhiều không thể đếm đã được hứa. Toàn thể điều này, và nhiều lời khác Thiên Chúa đã hứa đều không thể nào xảy ra theo luật tự nhiên, dẫu vậy ông Abraham vẫn tin quyền năng Thiên Chúa có thể làm những việc đó cách siêu nhiên. Vì thế Thánh Tổ Abraham xứng đáng được gọi là cha tất cả các tín hữu, được Ấn Đức Tin là phép cắt bì minh chứng.

Nhưng Đức Maria có nhiều quyền và tước hiệu cao cả hơn để được gọi là Mẹ Đức Tin, Mẹ tất cả các tín hữu. Tiêu chuẩn và dấu hiệu Đức Tin dành cho mọi tín hữu theo Luật Ân Sủng được nâng niu trong tay Người. Dĩ nhiên, theo thứ tự thời gian, trước nhất là Tổ Phụ Abraham được phong là cha, là tổ phụ của dân Do Thái, lòng tin của ngài vào các lời hứa liên quan tới Chúa Kitô và nơi các việc làm của Đấng Toàn Năng thật là vĩ đại. Tuy nhiên Lòng Tin của Đức Maria vào những điều này còn đáng ca tụng hơn gấp bội và Người trội vượt hơn Tổ Phụ Abraham về địa vị. Sự kiện một Trinh Nữ mang thai và sinh con còn khó khăn, khác thường, gấp bội so với một người già cả son sẻ có thể mang thai và sinh con. Tổ phụ Abraham không chắc lắm về việc hiến tế Isaac như Đức Maria biết chắc việc hiến dâng Con Một cực thánh. Đức Maria là Người Duy Nhất tin và trông cậy trọn vẹn nơi mọi mầu nhiệm, Người tỏ rõ cho toàn thể nhân loại thấy phải tin vào Đấng Tối Cao, tin các việc của Công Cuộc Cứu Chuộc như thế nào. Vì thế đã hiểu Đức Tin của Đức Maria, chúng ta phải nhận Người là Mẹ các tín hữu, là mẫu mực của Đức Tin Công Giáo và Đức Cậy Trông. Để kết chương này, chúng tôi xin nói thêm rằng Chúa Cứu Thế không cần cũng không có cơ hội cho Đức Tin trong các hành động riêng của Ngài, vì Chúa hiểu và linh hồn cực thánh Chúa vui hưởng vinh quang tột đỉnh cao quí và thị kiến hạnh phúc, nên Chúa Kitô không thể làm gương cho chúng ta về Thánh Đức này. Nhưng điều gì Chúa không làm được nơi chính Ngôi Vị của Chúa, Chúa đã làm nơi Mẹ rất thánh. Chúa đặt Đức Maria là Đấng Sáng Lập, là Mẹ, là gương sáng, là mẫu mực Đức Tin trong Giáo Hội rao giảng Tin Mừng.

LỜI MẸ MARIA

 Con của Mẹ, kho tàng vô giá Đức Tin siêu nhiên bị giấu kín đối với những người chỉ có cặp mắt trần tục; vì họ không biết phải quí trọng đặc ân và thánh sủng giá trị khôn sánh. Con hết sức yêu dấu của Mẹ, con hãy nghĩ kỹ xem thế giới sẽ thế nào nếu không có Đức Tin, thế giới ngày nay ra sao nếu Con và Chúa của Mẹ không bảo vệ Đức Tin. Vì không có ánh sáng Đức Tin, bao nhiêu người mà thế gian coi là vĩ đại, quyền thế và khôn ngoan đã tự lao đầu từ sự u mê vào những tội lỗi ghê tởm nhất, mà từ đó xuống chốn tối tăm đời đời trong hoả ngục! Biết bao nhiêu vương quốc và dân tộc, vì mù quáng, đi theo những lãnh tụ còn mù tối hơn nữa cho tới khi tất cả đều rơi xuống vực thẳm đau khổ đời đời! Những người này được nối gót bởi những Kitô hữu khốn nạn, những người này đã nhận được thánh sủng Đức Tin, nhưng sống như thể không có Đức Tin trong tim.

Bạn thân mến của Mẹ, xin đừng quên tỏ lòng biết ơn vì ơn cao quí này Chúa ban cho bạn như là của hồi môn, để đưa bạn vào phòng cưới của Hội Thánh và sau đó hợp hoan với Ngài trong hạnh phúc vĩnh cửu. Phải không ngừng tập luyện Đức Tin, vì Thánh Đức này đặt bạn gần mục đích cuối cùng, đưa bạn tới gần đối tượng mọi ước vọng và tình yêu. Đức Tin dạy con đường chắc chắn Ơn Cứu Độ đời đời. Đức Tin là ánh sáng đánh tan bóng tối cuộc đời hay chết này. Đức Tin dẫn đưa nhân loại an toàn tới quê trời, nếu người ta không để cho Đức Tin chết yểu vì sự bất trung và tội lỗi. Đức Tin làm cho các nhân đức khác sinh động, tác động như lương thực nuôi người công chính và chất bổ dưỡng nâng đỡ những lao khổ. Đức Tin làm cho những kẻ bất trung và các Kitô hữu thờ ơ phải xấu hổ lo sợ vì sự chểnh mảng của họ. Đức Tin làm cho những người đó hiểu tội lỗi họ khi còn ở trần thế, ý thức nguy cơ hình phạt ở đời sau. Đức Tin có sức làm mọi việc, làm cho mọi thứ trở nên khả dĩ đạt được vì không điều gì bất khả đối với người tin. Đức Tin soi sáng, làm cho sự hiểu biết của nhân loại nên cao sang; Đức Tin hướng dẫn họ trong bóng tối ngu dốt, không để họ lạc đường. Đức Tin nâng người ta vượt lên trên chính họ để thấy và thấu triệt những điều vượt quá khả năng, bảo đảm chắc chắn không kém gì họ nhìn thấy rõ ràng trước mắt. Do đó nhân loại được giải thoát khỏi tình trạng thô thiển và trí khôn hẹp hòi ác độc của những người chỉ tin những điều họ có thể hiểu bằng khả năng hạn hẹp tự nhiên. Những người đó không suy nghĩ rằng linh hồn, bao lâu còn sống trong nhà tù thân xác hay hư nát này, còn bị giới hạn tối đa phạm vi hoạt động vì sự hiểu biết rút được từ hoạt động thô kệch của ngũ quan. Con của Mẹ, vì thế con cần nhận biết rõ giá trị kho tàng vô giá Đức Tin Công Giáo được Thiên Chúa ban cho, con hãy chăm sóc, thực hành Đức Tin với lòng quí mến và kính trọng.

CHƯƠNG 4

  ĐỨC MARIA THỰC HÀNH ĐỨC CẬY TRÔNG

 Đức Cậy Trông theo sau Đức Tin và được an bài là phần bổ sung cho Đức Tin. Đấng Tối Cao gieo cho chúng ta ánh sáng siêu nhiên của Đức Tin. Thiên Chúa muốn chúng ta được ơn hiểu biết Ngài, các mầu nhiệm và lời Chúa hứa chính là để mỗi người chúng ta có thể tự phát sinh lòng khát khao mãnh liệt đạt được Thiên Chúa, nhận biết Chúa là cùng đích, là mục tiêu cuối cùng của mình, học hỏi những phương cách đạt tới mục tiêu và cùng đích đó. Đức Trông Cậy là khát vọng tự nhiên muốn đạt tới hạnh phúc tốt lành vô cùng. Nhờ Nhiệm Tích Thanh Tẩy, chúng ta được ban cho lòng khao khát cậy trông, quyết tâm chính đáng theo đuổi hạnh phúc vĩnh cửu. Đức Trông Cậy sử dụng ơn siêu nhiên hầu đạt được mục đích tối thượng, vượt mọi khó khăn trên đường theo đuổi hạnh phúc đời đời.

Để biết Đức Trông Cậy tuyệt vời chừng nào cần phải được học hỏi từ sự kiện: mục đích tối thượng và cùng đích của Đức Trông Cậy là chính Thiên Chúa, Đấng là Hạnh Phúc Tốt Lành vô cùng cao quí của chúng ta. Mặc dầu Đức Cậy Trông nhìn và tìm kiếm Thiên Chúa như điều trừu tượng, Đức Cậy Trông cũng tìm kiếm Thiên Chúa như mục tiêu có thể đạt tới nhờ công nghiệp Chúa Kitô và qua hành động chính đáng của người khát vọng tìm được Thiên Chúa. Các hành động và tác dụng của thánh đức này được điều khiển bởi ơn soi sáng của Đức Tin siêu nhiên và do sự khôn ngoan tin cậy vào lời Chúa hứa không thể sai. Vì thế, Đức Trông Cậy ở giữa sự tuyệt vọng và việc quá tự tin. Thánh Đức Cậy Trông không để cho người ta tự tin vào khả năng của mình hầu đạt tới vinh quang đời đời hoặc gạt bỏ những hành động đáng công phúc về phần mình. Thánh đức này cũng không để cho sự sợ hãi hoặc thoái chí ngã lòng cản trở người ta tiến về vinh quang đời đời đã được Chúa hứa và bảo đảm cho kết cuộc thành công. Trong sự an toàn của Đức Cậy Trông, được Đức Tin siêu nhiên bảo đảm mọi liên quan với những điều này và được áp dụng cách khôn ngoan chính đáng, nhân loại hy vọng mà không sợ bị lừa gạt, cũng không sợ việc quá tự tin.  

Tuyệt vọng là hậu qủa việc thiếu tin tưởng những điều Đức Tin hứa, không áp dụng cho mình sự bảo đảm chắc chắn nơi các lời Thiên Chúa hứa, và cũng do người ta sai lầm cho rằng mình không thể đạt được hạnh phúc vĩnh cửu. Giữa hai cực đoan nguy hiểm này, Đức Trông Cậy dẫn chúng ta theo con đường an toàn. Một mặt thánh đức này giữ chúng ta trong niềm tin vững vàng rằng Thiên Chúa không từ chối những điều Ngài hứa cho toàn thể nhân loại. Mặt khác, Đức Trông Cậy dạy chúng ta biết những điều Chúa hứa không thể thực hiện vô điều kiện và tuyệt đối, mà đòi hỏi chúng ta, nhờ ơn Chúa giúp, tận lực cố gắng xứng đáng với việc hoàn thành các lời hứa. Thiên Chúa cho người ta có khả năng nhìn thấy vinh quang vĩnh cửu, không phải để người ta đạt tới hạnh phúc đó bằng sự lộng hành tội lỗi của chính các khả năng họ được hưởng, nhưng để người ta sử dụng các khả năng đó thích hợp với mục đích của chúng. Sử dụng chính đáng các khả năng thi hành các thánh đức làm cho người ta xứng đáng vui hưởng hạnh phúc đời đời. Trong khi tìm kiếm hạnh phúc vĩnh cửu, người ta cũng được hưởng hạnh phúc ngay tại đời này do việc nhận biết và yêu mến Thiên Chúa.

Nơi Đức Maria, Đức Trông Cậy đạt tới mức độ cao nhất, cả về chính thánh đức, cả về các hiệu lực và phẩm chất. Lòng ước nguyện theo đuổi mục đích cuối cùng (là) được hưởng thánh nhan Thiên Chúa nơi Đức Maria tích cực hơn nơi bất cứ thụ tạo nào khác. Hơn nữa vị Phụ Nữ khôn ngoan và trung thành này đã không làm điều gì để cản trở ước nguyện này, trái lại Người theo đuổi các mục tiêu Đức Cậy Trông bằng tất cả sự toàn hảo có thể có nơi một thụ tạo. Đức Maria không những chỉ Tin mãnh liệt các lời Chúa hứa mà cũng Trông Cậy mãnh liệt. Hơn nữa, Đức Maria còn được vui hưởng thị kiến hạnh phúc, trong đó Người học biết bằng việc nếm chân lý và sự thành tín vô cùng của Đấng Tối Cao. Đức Maria không có dịp sử dụng Đức Cậy Trông trong khi vui hưởng thị kiến và chiếm hữu Thiên Chúa. Nhưng khi trở lại trạng thái bình thường, do nhớ lại những gì đã hưởng, Đức Maria theo đuổi Đức Cậy Trông với sức mạnh và lòng khao khát mãnh liệt hơn rất nhiều.

Còn một lý do khác nữa tại sao Đức Trông Cậy của Đức Maria trội vượt trên tất cả các tín hữu cộng chung lại, đó là sự cao cả của phần thưởng vinh quang mai sau, vì phần thưởng là đối tượng đích thực sau cùng của Đức Trông Cậy. Nơi Đức Maria phần thưởng này vượt xa trên mọi vinh quang của toàn thể thần thánh. Điều này phù hợp với sự hiểu biết về vinh quang Thiên Chúa bảo đảm dành cho Người. Để Đức Maria có thể đạt tới đỉnh cao nhất của thánh đức này, có thể hy vọng xứng đáng hưởng mọi điều mà quyền năng Thiên Chúa sẽ thực hiện, Người được Đức Tin soi sáng, được mọi ơn trợ giúp và các đặc ân của Thánh Đức này cách thích hợp, được Chúa Thánh Thần trợ giúp cách đặc biệt. Những điều chúng ta vừa mới nói về Đức Cậy Trông nơi Đức Trinh Nữ đối với đối tượng chính của thánh đức này cũng phải được nhìn nhận đối với các đối tượng thứ yếu nữa vì các đặc sủng mầu nhiệm mà Đức Nữ Vương thiên quốc được hưởng đều quá sức vĩ đại.Đức Maria hiểu biết các vinh quang và hạnh phúc đời đời của Người và những việc phải được thực hiện trong Giáo Hội trần thế nhờ công nghiệp của Con cực thánh. Như đã nói trước kia về Đức Tin của Đức Maria, hẳn Thiên Chúa cũng đã tạo dựng Đức Trông Cậy (Hy Vọng) cho dù chỉ vì một mình Người mà thôi, và vì Đức Maria mà Thiên Chúa đã ban thánh đức đó cho cả loài người. Vì lý do này Chúa Thánh Thần gọi Đức Maria là Mẹ Đức Yêu Thương xinh đẹp và Đức Cậy Trông thánh thiện (Gv 1:24-25). Đức Maria trở nên Mẹ Chúa Kitô vì đã cung cấp cho Chúa xương thịt máu của thân xác Chúa. Chúa Thánh Thần đặt Đức Maria là Mẹ Đức Trông Cậy, vì Người đặc biệt hợp lực cộng tác trong việc cưu mang và sinh ra thánh đức này cho các tín hữu. Đặc quyền của Đức Maria là Mẹ Đức Trông Cậy được nối liền với và là hậu quả của việc Người là Mẹ Chúa Giêsu Kitô. Đức Maria biết nơi Con của Người, Người sẽ đặt nền móng mọi sự an toàn chắc chắn cho Đức Trông Cậy của chúng ta. Do việc cưu mang và sinh hạ Con Thiên Chúa làm người, Đức Maria được quyền quản trị đối với các thánh sủng và các lời hứa của Đấng Tối Cao, những điều đó được chu toàn tùy thuộc cái chết của Chúa Kitô. Do tự nguyện cưu mang và sinh hạ Ngôi Lời Nhập Thể, Đức Maria chuyển mọi thứ đó cho chúng ta, vì thế Người sinh ra Đức Trông Cậy cho chúng ta. Bởi thế hoàn thành theo nghĩa chính thống điều Chúa Thánh Thần đã nói với Người: “Các cây Người trồng là thiên đàng” (Dc 4:13); vì tất cả mọi thứ phát sinh từ Đức Maria, Mẹ ân sủng, đều tạo ra hạnh phúc cho chúng ta, thiên đàng của chúng ta, niềm hy vọng chắc chắn chúng ta đạt được hạnh phúc thiên đàng vĩnh cửu.

Theo thánh ý Thiên Chúa Cha, Giáo Hội có Cha trên trời đích thực trong Chúa Giêsu Kitô, vì Chúa Kitô sinh ra và thiết lập Giáo Hội bằng công nghiệp lao khổ, phong phú hóa Giáo Hội bằng những ân sủng, bằng các gương sáng và giáo lý của Ngài. Vì thế thiệt là thích hợp để Giáo Hội cũng phải có một Bà Mẹ hiền từ đầy yêu thương. Đức Từ Mẫu với lòng ân cần săn sóc nuôi dưỡng vỗ về ủi an dịu dàng, với lòng yêu thương cứu giúp sẽ nuôi dưỡng các người con nhỏ bé bằng sữa của mình (1 Cor.3:2), bằng thực phẩm nhẹ mềm và mỹ vị bao lâu những người con này, trong tuổi ấu thơ, không tiêu hoá được thực phẩm của người lực lưỡng mạnh khỏe. Vị Hiền Mẫu dịu dàng này là Đức Maria rất thánh. Ngay từ khởi đầu Giáo Hội, khi Luật Ân Sủng được sinh ra nơi những người con còn ấu thơ (giáo hội sơ khai), Đức Maria đã ban sữa ngọt ngào là những lời giáo huấn đầy ơn soi sáng khích lệ của Hiền Mẫu yêu thương. Đức Hiền Mẫu Maria sẽ tiếp tục cho tới tận thế trợ giúp, cầu bầu can thiệp cho những người con mới, mà Chúa Kitô sinh ra hàng ngày do công nghiệp Hy Sinh Cứu Chuộc và do lời cầu nguyện của Mẹ Hiền hay thương xót. Đức Hiền Mẫu Maria nuôi dưỡng con cái của Mẹ ngay từ khi họ mới sinh. Người là Hiền Mẫu, là cuộc sống và hy vọng của chúng ta. Người là máng chuyên mọi ân sủng chúng ta được hưởng. Người là gương sáng chúng ta phải noi theo bắt chước. Mẹ Maria là bảo đảm của chúng ta trong công cuộc theo đuổi hạnh phúc vĩnh cửu mà, nhờ Con cực thánh của Mẹ, chúng ta đáng được hưởng. Đức Hiền Mẫu Maria ban cho chúng ta ơn trợ giúp cần thiết cho việc đạt được mục đích hạnh phúc cuối cùng.

 LỜI MẸ MARIA

 Con hết sức yêu dấu của Mẹ, với ơn Chúa, con phải làm việc không ngưng nghỉ để bắt chước Mẹ như con đã được ơn soi sáng đặc biệt liên quan đến sự tuyệt vời của Đức Cậy Trông và những việc Mẹ đã thực hành được nhờ Thánh Đức này. Con phải liên tục canh tân suy gẫm các lời hứa của Đấng Tối Cao. Với lòng tin tưởng vững chắc nơi tính cách đích thực siêu nhiên của các lời Chúa hứa, con hãy nâng trái tim lên tới những ước ao và khao khát mãnh liệt đạt cho được những điều đó. Trong Đức Trông Cậy vững chắc này, nhờ các công nghiệp của Con chí thánh Mẹ, con có thể bảo đảm cho mình tới nơi vĩnh phúc trên trời để cùng với mọi thần thánh chiêm ngắm thánh nhan Đấng Tối Cao vinh quang muôn đời. Với sự trợ giúp của Đức Trông Cậy, con có thể nâng trái tim lên trên mọi vật trần thế, đặt trí khôn vào Đấng Tốt Lành không bao giờ thay đổi, Đấng con ao ước. Mọi vật hữu hình sẽ trở nên gánh nặng khó chịu cho con, con sẽ coi những thứ đó là khốn nạn bần tiện. Con sẽ không khao khát đuổi theo thứ gì ngoại trừ đối tượng đáng yêu nhất, hoan lạc nhất của mọi ước nguyện của con. Trong linh hồn Mẹ có Đức Cậy Trông mãnh liệt. Lòng cậy trông như thế chỉ có thể có nơi những người mà nhờ Đức Tin đã chiếm hữu và hiểu rõ đối tượng của Đức Trông Cậy, đã nếm Đức Trông Cậy bằng kinh nghiệm. Không miệng lưỡi và ngôn từ nào có thể diễn tả được sức mãnh liệt của Đức Cậy Trông.

Ngoài ra, để thúc đẩy con hơn nữa, con phải suy gẫm và thực tâm hối tiếc sự bất hạnh của hết sức nhiều linh hồn là hình ảnh Thiên Chúa và có thể hưởng vinh quang của Ngài, nhưng vì tội lỗi, những người đó bị loại ra khỏi lòng trông cậy được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Nếu con cái Giáo Hội ngưng những việc làm vô ích mà dành thì giờ suy nghĩ cân nhắc các ân sủng chắc chắn của Đức Tin và Đức Trông Cậy, Đức Trông Cậy sẽ tách họ ra khỏi sự tối tăm, biệt lập với người không tin tưởng gì cả vì mù quáng. Những người mù quáng hiển nhiên đáng phải xấu hổ vì sự lãng quên dại khờ. Những người đó phải từ bỏ lòng vô ân khốn nạn, phải mở mắt ra vì những hình phạt kinh khủng vô cùng đang chờ. Họ hết sức đáng thương, vì đã khinh thường Máu Chúa Kitô đổ ra chỉ để giành cho họ những ân sủng này. Những người đáng thương đó coi các ân sủng chân lý chẳng khác gì điều giả tưởng. Họ bôn ba đây đó suốt đời mà không dành lấy dẫu chỉ một ngày, nhiều người dẫu chỉ một giờ, để suy nghĩ về các bổn phận và tình trạng nguy hiểm của họ.

 Phần con, nhờ Con chí thánh Mẹ, con hãy tận lực làm việc, cầu nguyện xin cho việc nhổ tận gốc tội lỗi. Hãy tin Mẹ, bất cứ việc thực hành và nỗ lực nào con thực hiện hướng về mục đích này sẽ được Thiên Chúa ân thưởng.

CHƯƠNG 5

 ĐỨC YÊU THƯƠNG CỦA ĐỨC MARIA RẤT THÁNH

 Đức Yêu Thương tuyệt vời là bà chúa, là nữ vương, là mẹ, là sự sống và vẻ đẹp của mọi thánh đức. Đức Yêu Thương cai quản, chuyển động, hướng dẫn các thánh đức tới cùng đích chân thực tối hậu. Đức Yêu Thương dẫn đưa các thánh đức tới đỉnh trọn lành; bảo vệ, làm cho các thánh đức tăng trưởng; chiếu sáng, làm cho các thánh đức nên xinh đẹp, sinh động và có hiệu quả. Nếu các thánh đức khác hỗ trợ nhau về chất lượng toàn hảo nơi các thụ tạo, Đức Yêu Thương cho các thánh đức khác chính sự trọn lành của mình, đưa các thánh đức đó tới sung mãn. Nếu không có Đức Yêu Thương, tất cả mọi thứ đều rất ít giá trị, lu mờ, yếu đuối, không sinh khí, không sinh lợi gì, không được ban cho bản chất hoặc những thuộc tính của sinh khí đích thực. Đức Yêu Thương là nhân từ, nhẫn nhục, hiền lành, không ganh đua, không đố kị, không làm mất lòng, ước muốn không phải để thụ đắc, nhưng sẵn sàng cho đi tất cả, là nguyên nhân mọi sự tốt lành, đối nghịch những điều gian ác (1 Cor. 13:4). Đức Yêu Thương là sự đóng góp sung mãn phong phú nhất vào Sự Tốt Lành đích thực tối hậu. Đức Yêu Thương là Bà Chúa mọi thánh đức, là kho tàng vô cùng bao la của thiên quốc! Chỉ một mình Đức Yêu Thương có chìa khóa thiên đàng! Đức Yêu Thương là bình minh của ánh sáng vĩnh cửu, mặt trời của ngày bất tận, lửa tinh luyện, mỹ tửu ngây ngất, tiên tửu hoan lạc, chất ngọt ngào làm thoả mãn vô tận, nơi nghỉ ngơi của linh hồn. Đức Yêu Thương là ràng buộc êm ái làm cho chúng ta nên một với Thiên Chúa (Gioan 17:21) cùng một dây liên kết hằng kếp hợp Thiên Chúa Cha với Thiên Chúa Con, hợp nhất Thiên Chúa Cha với Thiên Chúa Con và Thiên Chúa Thánh Linh.

 Vì thánh đức Yêu Thương tuyệt vời cao quí hơn mọi thánh đức khác mà Chúa, Thiên Chúa chúng ta, theo Phúc Âm thánh Gioan, muốn tôn vinh chính Chúa hoặc muốn tôn vinh Đức Yêu Thương, đã xưng mình là TÌNH YÊU (1 Gioan 4:16). Có nhiều lý do tại sao Giáo Hội Công Giáo gán mọi trọn hảo của quyền năng cho Chúa Cha, sự khôn ngoan cho Chúa Con, và tình yêu cho Chúa Thánh Linh. Vì Chúa Cha là khởi nguồn, Chúa Con do Chúa Cha sinh ra vì sự khôn ngoan thông minh vô cùng của Thiên Tính, Chúa Thánh Linh do tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Nhưng danh xưng Bác Ái Yêu Thương và sự trọn hảo bao hàm được dùng nói về chính Thiên Chúa không phân biệt Ngôi Vị. Thánh sử nói mà không tách biệt: “Thiên Chúa là Tình Yêu.” Thánh đức này có sự phân biệt về cùng đích mọi hành động nội tại và ngoại tại của Chúa. Về một phương diện, mọi tiến trình thuộc về thiên tính (những hành động của Thiên Chúa với chính mình = nội tại) thành toàn trong hợp nhất và tình yêu thương hỗ tương của Ba Ngôi Thiên Chúa. Do tình yêu hỗ tương và tính chất bất khả phân ly, Ba Ngôi Thiên Chúa tạo thành hợp nhất bất khả tiêu, Thiên Chúa duy nhất. Về phương diện khác, các việc làm ngoại tại cho các thụ tạo, đều do tình yêu Thiên Chúa sinh ra và được an bài, để, được phát sinh từ lòng rộng rãi vô biên của Thiên Chúa, các thụ tạo cũng vì yêu mến mà trở lại nguồn từ đó chúng được sinh ra. Đức Yêu Thương là sự tham gia trọn hảo bản tính Thiên Chúa. Thánh đức này được sinh ra từ Nguồn, lại trở về chính Nguồn, và giống Nguồn hằng hữu đó hơn bất cứ thánh đức nào khác có thể. Nếu chúng ta gọi Thiên Chúa là hy vọng, sự kiên trì, sự khôn ngoan của chúng ta, chính vì chúng ta nhận được các ơn đó từ Chúa. Chúng ta gọi Thiên Chúa là tình yêu của chúng ta, không phải chỉ vì chúng ta nhận được tình yêu từ Ngài, mà vì chính Ngài là nguồn tình yêu, là suối tràn sự trọn hảo siêu nhiên chảy tràn đầy linh hồn chúng ta, biến cải tình yêu trọn hảo hơn, dư đầy hơn bất cứ thánh đức nào khác.

 Đây là bản chất của Đức Yêu Thương trong chính nguồn gốc siêu nhiên là Thiên Chúa. Tuy nhiên, ngoài Thiên Chúa, chúng ta sẽ thấy Đức Yêu Thương trong sự toàn hảo tột đỉnh có thể được nơi một thụ tạo, mà không ở đâu khác hơn là nơi Đức Maria rất thánh. Nơi Người, chúng ta tìm được gương mẫu để rập khuôn Đức Yêu Thương cách dễ dàng, chính xác. Ánh sáng phát xuất từ Mặt Trời Yêu Thương tự hữu thông chính mình cho mọi thụ tạo cho dù xa xôi nhất theo một trật tự và mức độ được thêm bớt tùy theo tình trạng gần hoặc xa của mỗi người đối với nguồn ơn siêu nhiên. 

Vị thế thứ nhất sau chính Thiên Chúa, trong việc phân phát Tình Yêu Thiên Chúa, được dành cho Linh Hồn và Con Người, Đấng đồng thời là Thiên Chúa tự hữu và là thụ tạo. Ân sủng cao quí tột đỉnh là sự tham dự của tình yêu phải tự nhiên được tìm thấy tại nơi nào có sự kết hiệp mật thiết keo sơn nhất với Thiên Chúa, như đã và hiện hữu đời đời trong Đức Kitô Chúa chúng ta.

 Vị thế thứ nhì phải được dành cho Đức Hiền Mẫu Maria rất thánh, nơi Người đức bác ái, tình thương yêu của Thiên Chúa, tìm được nơi nghỉ ngơi đặc biệt. Theo cách chúng ta hiểu, Tình Yêu tự hữu không thể ở yên, im hơi lặng tiếng, cho tới khi tìm được một thụ tạo mà Tình Yêu tự hữu có thể tự thông ban chính mình cho (thụ tạo đó) hết sức tràn đầy, đến độ tình yêu của cả loài người được tái tạo toàn bộ trong chỉ một Thụ Tạo đó mà thôi. Thiên Chúa đã ấn định rằng Thụ Tạo được tuyển chọn này được ban tràn đầy đặc ân Đức Yêu Thương, không thiếu sót, không khiếm khuyết như thông thường nơi tất cả mọi người khác trong toàn thể nhân loại. Bởi thế, chính Người có khả năng cung cấp sự quân bình của việc tạo dựng, làm cho việc đó trở thành sự đền đáp tình yêu cách vĩ đại nhất có thể được. Duy nhất một mình Đức Maria được tuyển chọn trong mọi thụ tạo để bắt chước Mặt Trời công chính về Đức Yêu Thương, trung thành rập khuôn bắt chước thánh đức này từ Chính Nguồn. Chính Đức Maria biết cách yêu mến mãnh liệt hơn, toàn hảo hơn mọi thụ tạo cộng chung lại, yêu mến Thiên Chúa hoàn toàn vì Chúa, cách trinh trong, nồng nàn, không chút khiếm khuyết, cũng yêu thương các thụ tạo khác vì Chúa và theo cách giống như Chúa. Một mình Đức Maria đã theo được đầy đủ động lực của Đức Yêu Thương, Người yêu mến Thiên Chúa vì Thiên Chúa, không vì một ý định nào khác. Người yêu thương các thụ tạo vì các thụ tạo chia phần tham dự trong Thiên Chúa, không có ý nghĩ được đáp lại hoặc thưởng cho tình yêu của Người. Trong việc bắt chước cách tuyệt hảo Đức Yêu Thương tự hữu, Đức Maria, do tình yêu, đã có khả năng và biết phải yêu thương cách nào làm cho đối tượng được yêu thương trở nên tốt đẹp hơn. Bằng tình yêu, Đức Maria làm cho trời đất và mọi thứ hiện hữu, mà không phải là chính Thiên Chúa, trở nên tốt lành hơn.

Nếu được đặt lên cân so sánh, Đức Yêu Thương của Mẹ Maria vượt quá xa đức yêu thương của toàn thể nhân loại và các thiên thần. Người vượt trên cả loài người và các thiên thần về sự hiểu biết bản chất cùng các phẩm chất Đức Bác Ái Yêu Thương. Vì thế chỉ một mình Đức Maria biết cách bắt chước Thánh Đức đó trọn hảo thích đáng vượt trên mọi khả năng của tất cả các thụ tạo có lý trí. Đức Maria đã đền trả, thanh thỏa số nợ mọi thụ tạo mắc đối với tình yêu vô cùng của Chúa như phải được đền đáp, vì sự đền trả loài người dâng lên không thể nào có giá trị tương xứng. Đúng như tình yêu và bác ái thương xót của Linh Hồn cực thánh Chúa Giêsu Kitô có tính cách cao cả xứng hợp với việc kết hợp thiên tính, cũng thế, tình yêu của Đức Maria cao cả vĩ đại tương xứng với sự tuyệt vời được Thiên Chúa Cha ban khi chỉ định Người cưu mang và sinh Con Thiên Chúa Cha để cứu độ trần gian.

Từ đó chúng ta hiểu mọi đặc ân, thánh sủng mọi thụ tạo thụ đắc đều tùy thuộc cách nào đó vào tình yêu và lòng bác ái của Đức Trinh Nữ Maria đối với Thiên Chúa. Chỉ nơi một mình Người, Đức Yêu Thương của Thiên Chúa có thể tồn tại trong thế gian này ở mức độ trọn hảo. Đức Maria đã đền trả hết nợ yêu thương ngay một lúc trong khi toàn thể nhân loại không có khả năng đền đáp, cũng không thể hiểu tầm vĩ đại của số nợ họ mắc. Do lòng yêu thương trọn hảo của Đức Maria, Thiên Chúa Cha phải hiến Con Một cực thánh của Ngài cho chính Đức Maria và cho Việc Cứu Độ nhân loại. Nếu Đức Maria yêu mến ít hơn, nếu Đức Yêu Thương của Người khiếm khuyết, hẳn việc chuẩn bị để Ngôi Lời Nhập Thể đã thiếu sót. Nhưng ngay khi một thụ tạo được tìm thấy giống hệt Thiên Chúa là Đức Maria, kết quả tự nhiên là Ngôi Lời ngự xuống với Đức Maria như Chúa đã làm.

Tất cả điều này là ý nghĩa những lời Chúa Thánh Thần gọi Đức Maria là Hiền Mẫu của tình yêu xinh đẹp (Kn 24:24). Những lời này nói về Đức Maria có nghĩa: Đức Maria là Mẹ Chúa Giêsu, Đấng là tình yêu ngọt ngào nhất của chúng ta, là Chúa, là Đấng cứu độ chúng ta, Đấng trở nên đẹp đẽ nhất trong nhân loại vì sự đẹp đẽ của Thiên Tính, vô cùng và tự hữu. Đức Maria cũng là Hiền Mẫu tình yêu tuyệt diệu, vì chỉ một mình Người được tràn đầy tình yêu, lòng bác ái trọn toàn đẹp vô song. Toàn thể mọi thụ tạo chung lại cũng không thể nào có được vẻ diễm kiều, không tì vết của Đức Yêu Thương nơi Đức Maria; vì tình yêu thương nơi mọi thụ tạo khác không xứng đáng được gọi là đẹp tuyệt đối. Đức Maria là Hiền Mẫu tình yêu; vì Người lôi kéo Tình Yêu xuống trần gian cho chúng ta; Người nuôi dưỡng Tình Yêu cho chúng ta; Người dạy chúng ta nhận biết và thực hành Đức Yêu Thương. Không một thụ tạo nào khác trên trời dưới đất có thể là thầy dạy về tình yêu tuyệt vời cho nhân loại hoặc cho các thiên thần. Vì thế, tất cả các thánh chỉ là những tia hào quang của mặt trời yêu thương, là những dòng suối nhỏ từ đại dương này chảy ra.

Các suối nguồn bác ái yêu thương nơi Công Chúa Maria phát xuất từ Đức Tin, Đức Cậy Trông, cũng do các đặc ân về hiểu biết, thông thái, khôn ngoan được Chúa Thánh Thần ban cho. Nhưng, nguồn tình yêu vĩ đại nhất của Đức Maria là các thị kiến Thiên Chúa. Qua các phương tiện này, Đức Maria đạt tới sự hiểu biết cao xa nhất về Đức Yêu Thương tự hữu, uống Thánh Đức đó từ chính nguồn, do đó Người học biết Thiên Chúa phải được yêu mến vì chính Chúa, và các thụ tạo được yêu mến vì Chúa. Người cũng học biết cách thực hành tình yêu thương bằng cường độ mạnh nhất với lòng khao khát nồng nàn. Hơn nữa, quyền năng Thiên Chúa hoạt động trong Đức Maria không gặp trở ngại, sơ xuất, lơ là hoặc bất toàn, cũng không hề có chút chậm chạp nào trong ý nguyện. Điều này không thể xảy ra nơi bất cứ thụ tạo nào khác.

Đức Maria chu toàn lệnh truyền vĩ đại tự nhiên và siêu nhiên: “Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi hết trái tim, hết linh hồn, hết sức ngươi.” Một mình Đức Maria thanh thỏa lệnh truyền và món nợ này cho toàn thể nhân loại, vì khi còn ở trần thế trước khi nhìn thấy Thiên Chúa, người ta không biết cũng không thể chu tất trọn vẹn. Vị Phụ Nữ cao cả này chu toàn lệnh truyền yêu mến Thiên Chúa ngay khi còn lữ thứ cách trọn hảo hơn tất cả các thánh dù khi các ngài được hưởng nhan thánh Chúa. Đức Maria thỏa mãn các ý định của Thiên Chúa đối với lệnh truyền “yêu mến Thiên Chúa cách trọn hảo”, nghĩa là lệnh truyền đó không bị vô hiệu như nơi những người còn lưu lạc trần gian. Chính Đức Maria đã thánh hóa, chu toàn lệnh truyền “yêu mến Chúa cách trọn vẹn” thay cho toàn thể nhân loại. Do lòng bác ái, Người bổ sung tất cả những thiếu sót của nhân loại trong việc chu tất lệnh truyền này. Chắc chắn là nếu Thiên Chúa không tiền định (rằng) Đức Maria sẽ ở trong số nhân loại hay chết, chắc hẳn Thiên Chúa đã không ban lệnh truyền “yêu mến Chúa trọn hảo” dưới hình thức này. Vì thế, chúng ta không những chỉ mắc nợ Đức Maria về lệnh truyền “đức yêu thương trọn hảo”, mà cũng còn mắc nợ Người việc chu toàn đầy đủ thánh đức đó thay cho cả loài người. 

 Hiền Mẫu diễm kiều tuyệt vời, tột đỉnh dịu hiền của Đức Yêu Thương Bác Ái xinh đẹp! Xin cho muôn dân nhận biết Mẹ, muôn thế hệ chúc tụng Mẹ, muôn loài tôn vinh ngợi khen Mẹ! Một mình Mẹ là Đấng trọn hảo, Đấng yêu dấu, Hiền Mẫu được tuyển chọn của Tình Thương tự hữu. Thiên Chúa tạo dựng Mẹ, tuyển chọn Mẹ để chiếu sáng như mặt trời trong tình yêu xinh đẹp tuyệt vời tột đỉnh trọn hảo (Dc 6:9)! Tất cả chúng ta, con cháu Evà, đến với mặt trời này để được soi sáng và bốc cháy. Chúng ta đến với Đức Hiền Mẫu Maria để được tái sinh trong yêu thương. Chúng ta đến với vị Giáo Sư này để được dạy cho biết đức yêu thương bác ái không tì vết. Tình yêu là khuynh hướng muốn được người mình yêu thương làm cho vui lòng và thoả mãn. Tình yêu là sự tuyển chọn, tách biệt người được yêu thương ra khỏi đồng loại. Đức bác ái đánh giá cao và quí trọng sự tốt lành của người được yêu. Chúng ta sẽ học tất cả những điều này nơi Đức Hiền Mẫu của Tình Yêu đích thực, Đấng được gọi bằng tên đó cách đích đáng vì tình yêu của Người gồm có hết tất cả các đặc tính này. Nơi Người, chúng ta học biết yêu mến Thiên Chúa vì Chúa, học nghỉ ngơi thỏa mãn trong Chúa với hết trái tim chúng ta, dâng cho Chúa một nơi riêng biệt trong tình yêu của chúng ta xa hẳn mọi thứ không phải là Thiên Chúa, vì yêu Chúa cùng với yêu những thứ khác chỉ làm giảm bớt tình chúng ta yêu Chúa. Chúng ta học quí trọng Chúa hơn vàng, hơn mọi thứ quí giá, vì so sánh với Chúa thì mọi thứ không có chút giá trị gì, mọi sắc đẹp chỉ là xấu xí vô duyên, mọi thứ vĩ đại và đáng quí theo con mắt trần tục trở nên đáng khinh bỉ không chút giá trị.

LỜI MẸ MARIA

 Con của Mẹ, nếu con ao ước trong tình yêu thương mẫu tử mà theo Mẹ, bắt chước Mẹ trong các thánh đức khác, Mẹ đặc biệt muốn cho con thấy và nói rõ hơn cho con biết Mẹ ước mong thấy con theo Mẹ trong Đức Yêu Thương, vì thánh đức này là cùng đích, là triều thiên vinh quang của mọi thánh đức khác. Mẹ ước ao con tận lực, hết lòng yêu mến thiết tha rập in trong linh hồn con mọi điều con đã học về Đức Yêu Thương của Mẹ. Con hãy thắp sáng ngọn đèn Đức Tin và lý trí để tìm cho thấy đồng tiền giá trị vô cùng, để sau khi con đã tìm được (Lc 15:8), con quên đi và khinh chê mọi thứ thuộc về trần gian hay hư nát. Con hãy suy đi nghĩ lại, cân nhắc và đi theo những lý lẽ, nguyên do vô cùng, mà những điều này làm cho biết Thiên Chúa đáng yêu hơn hết mọi thứ. Để con có thể chắc chắn được rằng con yêu Chúa trọn hảo đích thực, con hãy xem xét trong con để tìm ra những dấu chỉ và hiệu lực sau đây của tình yêu đó:

 1.- tư tưởng cùng suy niệm của con có cư ngụ liên tục trong Chúa không?

2- các giới răn, lệnh truyền và khuyên bảo của Chúa, có bị chống đối hoặc thờ ơ trong con không?

3.- con có sợ xúc phạm đến Chúa không?

4.- con có lập tức tìm đến xin lỗi Chúa sau khi đã xúc phạm đến Ngài không?

5.- con có buồn phiền khi thấy Chúa bị xúc phạm, vui mừng khi thấy Chúa được mọi người phụng sự không?

6.- con có khao khát, vui sướng khi nói không ngừng về tình yêu của Chúa không?

7.- con có hoan hỉ khi nhớ Chúa hiện diện không?

8.- con có buồn phiền vì con quên Chúa và Chúa xa con không?

9.- con có yêu mến điều Chúa yêu không?

10.- con có ghét điều Chúa ghét không?

11.- con có tìm lôi kéo người ta về với tình thương và ân sủng của Chúa không?

12.- con có cầu nguyện chân thành không?

13.- con có đón nhận các ân sủng của Chúa với lòng biết ơn không?

14.- con có không phí phạm các ơn Chúa, trái lại con làm cho các ơn Chúa nên nguyên cớ tốt lành để vinh danh Chúa không?

15.- con có cố gắng dập tắt mọi chuyển động đam mê trong con mà những thứ này làm cho con chậm trễ hoặc cản trở con trong khát vọng yêu mến và thi hành thánh đức không?

Trật tự chính đáng của thánh đức này là yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi thụ tạo, kế đến là yêu thương mình, và người gần gũi thân cận mình nhất, đó là, người lối xóm lân bang (người khác). Thiên Chúa phải được yêu mến bằng tất cả sự hiểu biết, không dối trá; với tất cả ý chí, không dành lại, không chia sớt; bằng trọn vẹn trí khôn, không quên sót, không giảm thiểu, không chểnh mảng thờ ơ, không cẩu thả tắc trách. Nguyên do của lòng yêu Chúa là chính Chúa chứ không phải thứ gì khác. Chúa phải được yêu mến vì Chúa, là Thiên Chúa Tối Cao, là sự tốt lành thánh thiện vô cùng. Yêu mến Thiên Chúa vì những nguyên do nói trên làm cho người ta yêu thương chính mình và yêu thương người khác; vì cả hai đều thuộc về cùng một Thiên Chúa, từ Thiên Chúa mọi người nhận được chính nguồn gốc của họ, sự sống và hoạt động của họ. Người nào yêu Thiên Chúa chân thành vì chính Thiên Chúa cũng sẽ yêu thương tất cả mọi thứ thuộc về Chúa và mọi thứ được dự phần sự tốt lành của Chúa. Vì thế đức Yêu Mến coi người khác như kỳ công của Thiên Chúa mà không phân biệt bạn hoặc thù, ân nhân hoặc người áp bức. Đức Yêu Thương quí trọng những gì thuộc về Chúa, và thuộc về Chúa nơi người khác. Đức Yêu Thương chỉ chú ý tới việc chia sẻ sự tốt lành vô cùng, mà theo tiêu chuẩn này yêu thương mọi người trong Thiên Chúa và vì Thiên Chúa.

CHƯƠNG 6

* CÁC THÁNH ĐỨC VÀ  ÂN SỦNG KHÁC THIÊN CHÚA BAN CHO ĐỨC MARIA TRONG NHỮNG NĂM THƠ ẤU;

* NHỮNG THỬ THÁCH ĐỨC MARIA PHẢI CHỊU TRONG ĐỀN THỜ;

* THÁNH JOAKIM VÀ THÁNH ANNA TỪ TRẦN

 Tạm rời Vị Công Chúa thiên quốc Maria, để Người sống qua những năm thơ ấu trong đền thờ, chúng ta bước sang bên cạnh nói về các thánh đức, đặc ân và mạc khải siêu nhiên, mà thiếu nhi Maria, bé thơ về tuổi tác nhưng trưởng thành về sự khôn ngoan siêu đẳng, nhận được từ Đấng Tối Cao, và các thánh đức Người thực hành suốt đời. Bé thơ rất thánh lớn lên cả về tuổi tác cùng ân sủng trước thánh nhan Thiên Chúa và trước mặt người ta. Lòng yêu mến nhiệt thành của Người luôn luôn hòa hợp quân bình, vượt trên các khả năng tự nhiên. Nơi Người, thánh sủng và vẻ diễm kiều không đo theo tuổi tác, mà theo các kế hoạch nhân từ và mục đích cao cả của Thiên Chúa, các dòng thánh sủng mãnh liệt của Chúa tìm tụ lại tích lũy trong Thành Thánh này. Đấng Tối Cao tiếp tục ban các đặc ân ưu đãi, hằng giờ canh tân các kỳ công của Ngài, chẳng khác gì tất cả mọi hoạt động của quyền năng Thiên Chúa chỉ dành cho một mình Đức Maria. Dù trong tuổi ấu thơ, Đức Maria đã đáp ứng hết sức thích đáng nguồn ân sủng Thiên Chúa trút xuống cho. Các thiên thần là chứng nhân của điều tựa như cuộc tranh đua giữa Đấng Tối Cao và Công Chúa bé thơ.

Quyền năng Thiên Chúa hàng ngày trút từ kho tàng vô cùng các ân sủng được dành riêng để làm giàu cho cho một mình Công Chúa bé nhỏ trinh trong. Phần Đức Maria, chẳng khác gì trái đất được chúc phúc, không những chỉ làm cho hạt giống Lời Thiên Chúa nảy mầm, các đặc ân và ưu đãi sinh trái gấp trăm, mà còn làm cho cả triều thần thiên đàng ngưỡng mộ thán phục. Đức Maria, một bé thơ, vượt xa các thiên thần Seraphim sốt mến cao cấp nhất trong việc yêu mến, tạ ân, chúc tụng và mọi thánh đức, không để mất thời gian, không gian và cơ hội, hoặc một phụng dịch nào, mà Người đã không thực hành với sự trọn lành cao độ có thể.

Ngay cả trong những năm thơ ấu, Đức Maria hiểu rõ Sách Thánh và dành nhiều thì giờ đọc các sách đó. Vì được tràn đầy khôn ngoan, Đức Maria nghiền ngẫm trong trái tim những điều từ các mạc khải siêu nhiên được ban riêng, cùng với những điều nói cho toàn thể loài người trong các Sách Thánh. Vì thế, khi đọc và suy gẫm riêng, Người liên tục dâng lên lời cầu nguyện tha thiết nài xin Ơn Cứu Độ cho nhân loại và Ngôi Lời nhập thể. Đức Maria thường năng đọc các Sách Tiên Tri Isaias, Jeremias và các Thánh vịnh hơn, vì các mầu nhiệm về Chúa Cứu Thế, Luật Ân Sủng được giải thích, nhắc lại rõ ràng hơn trong các sách này. Thêm vào những điều đã thấu triệt, Đức Maria mở rộng kiến thức bằng việc đặt những câu hỏi sâu sắc với các thiên thần. Nhiều lần Người nói cách yêu thương âu yếm về mầu nhiệm nhân tính của Ngôi Lời: “Ngôi Lời sẽ trở thành một hài nhi, Ngài sẽ sinh ra bởi một Trinh Mẫu, trưởng thành, như mọi người khác, chịu khổ hình chết vì con cái Adong”. Trong những buổi thảo luận vấn đáp này, các thiên thần và các Seraphim trả lời, chỉ dẫn, củng cố, làm cho trái tim trinh trắng của Người cháy lửa yêu mến Thiên Chúa nồng nàn hơn. Nhưng các thiên thần luôn giấu không cho Đức Maria biết địa vị cao cả của Người, mặc dầu nhiều lần Người dâng mình với lòng khiêm tốn tột cùng xưng mình là nô lệ của Chúa, là nô lệ của Vị Hiền Mẫu hạnh phúc, Đấng sẽ được chọn cho việc Chúa sinh xuống trần gian.

Đấng Tối Cao quyết định rằng sự sung mãn ân sủng và thánh đức nơi Công Chúa Maria phải đi trước thời điểm được ấn định cho việc lên tới đỉnh công nghiệp. Các ân sủng và thánh đức của Người cần phải vươn tới những việc thực hành khó khăn nhất, cao thượng nhất, mặc dù trong những năm ấu thơ. Một trong những lần thị kiến, Thiên Chúa hiện ra nói rõ ràng với Công Chúa Maria: “Ái Nữ Yêu Dấu của Ta, Ta yêu Con bằng tình yêu vô cùng, Ta ước muốn ở Con điều làm vui lòng Ta, chu toàn mọi ước muốn của Ta. Hỡi Ái Nữ của Ta, Con biết kho tàng còn giấu kín chứa đựng những khó khăn và đau đớn, quá sức khủng khiếp đối với sự ngu dốt mù quáng của loài người hay chết. Con cũng biết Con Một Yêu Dấu của Ta, khi mặc nhân tính, sẽ giảng dạy con đường thập giá cả bằng lý thuyết và hành động. Ngài sẽ để lại con đường thánh giá làm di sản cho những kẻ được tuyển chọn. Ngài sẽ chọn con đường đó cho mình và thiết lập trên đó luật ân sủng, làm cho việc khiêm nhượng, nhẫn nhục trong đau khổ, là nền tảng vững chắc tuyệt vời của luật đó. Điều này thích hợp nhất cho điều kiện hiện nay của bản tính nhân loại; càng thích hợp hơn nữa, sau khi nhân loại đã bị sa đọa, nghiêng ngả xấu xa bởi quá nhiều tội lỗi. Điều cũng thích hợp với đức công bằng và quan phòng của Ta là nhân loại phải tự làm cho chúng xứng đáng triều thiên vinh quang qua những khổ cực và thánh giá, vì Con Một Vô Cùng Yêu Dấu của Ta sẽ xứng đáng với vinh quang và triều thiên cũng bằng cách đó trong thân xác loài người. Vì thế, hỡi Ái Nữ Yêu Dấu của Ta, Con sẽ hiểu Ta đã chọn Con do quyền năng của Ta vì vui lòng Ta, và đã làm cho Con giàu có bằng các đặc ân của Ta. Điều không chính đáng là nếu các hồng ân của Ta nằm im trong trái tim Con, cũng không chính đáng nếu tình yêu của Con thiếu kết quả, cũng không chính đáng nếu Con bị loại không được hưởng sản nghiệp dành cho Người Được Tuyển Chọn của Ta. Vì thế Ta muốn Con chịu thống khổ đau đớn vì yêu Ta.”

Công Chúa Maria vô địch đã đáp lại lời đề nghị của Đấng Tối Cao bằng trái tim can trường hơn tất cả các thánh và các thánh tử đạo khắp thế giới đã từng biểu lộ: “Lạy Chúa là Thiên Chúa, Đức Vua Tối Cao của con, con xin sẵn sàng hiến dâng làm hy lễ vui lòng Chúa toàn thân con, mọi quan năng và các hoạt động của chúng, mà con đã nhận được do lượng từ bi vô cùng của Chúa. Con ước ao mọi việc được vẹn toàn theo thánh ý khôn ngoan nhân từ vô cùng của Chúa. Nếu Chúa cho con tự do chọn lựa bất cứ thứ gì, con chỉ ước muốn chọn chịu đau khổ tới chết vì yêu Chúa. Con xin Chúa, lạy Chúa Duy Nhất của con, xin Chúa làm cho tì nữ trở nên hy lễ toàn thiêu đau khổ đáng được chấp nhận trước thánh nhan Chúa. Lạy Chúa, Thiên Chúa quyền năng và đại lượng vô cùng, con nhìn nhận món nợ của con, không một thụ tạo nào khác mắc nợ Chúa quá nhiều như con. Toàn thể mọi thụ tạo khác chung lại cũng không mắc nợ Chúa nhiều bằng một mình con. Con hoàn toàn bất xứng trước nhiệm vụ thanh toán món nợ này đối với sự cao cả của Chúa. Nhưng nếu Chúa vui lòng chấp nhận việc chịu đau khổ là một thứ đền đáp, xin cho phép mọi đau đớn thống khổ của sự chết đến với con. Con sẽ chỉ xin sự bảo vệ siêu nhiên của Chúa, và, phủ phục trước ngai tòa Chúa Cao Cả vô cùng, con khẩn khoản nài xin Chúa đừng bỏ con. Lạy Chúa, xin hãy nhớ các lời thành tín Chúa đã hứa với Tổ Phụ chúng con và các Tiên Tri rằng Chúa sẽ ưu đãi người công chính, nâng đỡ người gặp hoạn nạn, an ủi người đau khổ, bảo vệ bênh vực họ trong mọi thống khổ. Lời Chúa chân thực, lời Chúa hứa chắc chắn không thể sai, các tầng trời và trái đất có thể lập tức vỡ ra từng mảnh, chứ lời Chúa không thể nào sai. Lòng ác độc của loài thụ tạo không thể làm tắt lòng thương xót đối với những người trông cậy vào lòng từ bi xót thương của Chúa; xin hoàn tất trong con thánh ý Chúa.”

Đấng Tối Cao chấp nhận của lễ ban sáng này hiến dâng từ ấu nhi Maria rất thánh, và bằng nét mặt vô cùng hiền từ Thiên Chúa nói với Đức Maria: “Con xinh đẹp trong các tư tưởng của con, hỡi Ái Nữ Đấng Toàn Năng, Con Gái Yêu Dấu của Ta, Con được Ta yêu dấu và tuyển chọn. Các điều con ước nguyện hết sức đẹp lòng và được Ta chấp nhận; Ta muốn con lưu ý rằng để khởi sự việc hoàn thành các điều đó, theo sự an bài tối cao của Ta, thân phụ Joakim của con sẽ từ bỏ cuộc đời này để tới đời sống vĩnh cửu. Cái chết của thân phụ con sẽ xảy ra mau chóng. Thân phụ con sẽ qua đời êm ái, được đặt giữa các thánh trong lâm bô, chờ đợi Ơn Cứu Độ nhân loại.”

Lời loan báo này không làm xáo trộn trái tim Công Chúa thiên cung Maria. Nhưng tình yêu của con cái đối với cha mẹ là món nợ công chính tự nhiên, tình yêu này nơi Ấu Nhi rất thánh đạt tới mức tột đỉnh toàn vẹn, nên không thể thiếu sự đau buồn tự nhiên vì mất hiền phụ. Đức Maria tha thiết cầu nguyện cho thánh hiền phụ, xin Chúa ban cho ngài ơn trông cậy phó thác nơi Chúa là Thiên Chúa đích thực và quyền năng khi ngài qua cái chết thánh thiện. Công Chúa thiên đàng cũng đặc biệt xin Thiên Chúa bảo vệ thánh hiền phụ chống lại ma quỉ trong giờ phút ly trần, cho ngài ở trong số các thánh được tuyển chọn, vì khi còn sống, thánh Joakim đã tuyên xưng, tôn vinh thánh danh Chúa. Để làm cho Thiên Chúa phải nhận lời hơn nữa, Ái Nữ tột độ hiếu thảo đã tình nguyện chịu mọi đau khổ Chúa sẽ an bài.

Chúa chấp nhận lời cầu khẩn này, an ủi Công Chúa thiên quốc, bảo đảm rằng Chúa sẽ hỗ trợ thân phụ Người như là phần thưởng yêu thương nhân từ nhất cho những người yêu mến phụng sự Chúa, và đặt thánh Joakim giữa các Thánh Tổ Phụ Abraham, Isaac và Jacob. Cùng lúc đó Thiên Chúa lại chuẩn bị Đức Maria nhận chịu các đau khổ khác nữa. Tám ngày trước khi thánh Joakim từ trần, Đức Maria được Chúa báo cho biết ngày giờ thánh hiền phụ từ trần. Thánh Joakim từ trần chỉ sáu tháng sau ngày Đức Maria vào đền thờ. Sau khi được Chúa báo tin này, Đức Maria yêu cầu mười hai thiên thần, được thánh sử Gioan nói tới trong Sách Khải Huyền, giúp đỡ thân phụ Ngừơi, nâng đỡ an ủi ngài trong khi đau yếu. Tới những giờ phút cuối cùng cuộc đời thánh Joakim, Đức Maria gởi đến với thánh hiền phụ tất cả các thiên thần cận vệ Người và xin Chúa cho các thiên thần hiện ra rõ ràng để an ủi ngài hơn nữa. Thiên Chúa ưng thuận đặc ân này và xác nhận mọi ước nguyện của Người Được Tuyển Chọn Duy Nhất. Vị đại thánh tổ Joakim tột đỉnh hạnh phúc đã thấy các thiên thần cận vệ Đức Maria. Để đáp lại lời cầu xin cùng các ước nguyện của Đức Maria, Đấng Toàn Năng để cho mọi ân sủng tuôn tràn, truyền cho các thiên thần nói với thánh Joakim:

 

 “Hỡi người của Thiên Chúa, xin Đấng Tối Cao Toàn Năng là ơn cứu độ đời đời cho ngài. Xin Chúa từ ngai toà cực cao ban ơn trợ giúp cần thiết và hạnh phúc cho linh hồn ngài. Đức Maria, Ái Nữ của ngài, đã gởi chúng tôi tới giúp đỡ ngài trong giờ này, khi ngài phải trả nợ của loài người hay chết cho Đấng Tạo Hoá. Ái Nữ của ngài là Vị Bầu Cử thành tín mạnh thế nhất trước mặt Đấng Toàn Năng. Nhân danh Đấng Toàn Năng và trong yên lành bây giờ ngài sẽ qua khỏi đời này mà lòng ngài tràn đầy hân hoan an ủi, vì Thiên Chúa đã làm cho ngài là phụ thân của Ái Nữ tột đỉnh diễm phúc. Mặc dầu Đấng Cao Cả khôn lường chưa tiết lộ các nhiệm tích và địa vị sẽ được ban cho Ái Nữ của ngài, Thiên Chúa muốn ngài lúc này biết điều đó để tôn vinh, chúc tụng Thiên Chúa, để sự đau đớn buồn lòng vì cái chết tự nhiên có thể được nhẹ bớt nhờ sự vui mừng tinh thần trước tin này. Đức Maria, Ái Nữ của ngài, được Đấng Cao Cả chọn, an bài là Đấng mà nơi Người Ngôi Lời sẽ mặc thân xác và hình hài nhân loại. Người sẽ là Hiền Mẫu hạnh phúc của Chúa Cứu Thế, là Người Được Phúc hơn hết mọi phụ nữ, được chúc tụng tột đỉnh trong mọi thụ tạo, chỉ dưới một mình Thiên Chúa. Ái Nữ tột đỉnh hạnh phúc của ngài sẽ khôi phục những gì nhân loại đã mất vì tội nguyên tổ, Người sẽ là đỉnh núi cao nhất trên đó luật mới ân sủng sẽ được thiết lập. Ngài để lại cho trần gian Vị Ái Nữ, mà qua Người, Thiên Chúa sẽ khôi phục thế gian và chuẩn bị ơn cứu độ toàn thể nhân loại. Ngài rời khỏi trần gian trong niềm vui sướng linh hồn, xin Chúa từ Sion chúc lành cho ngài (Tv 127:5), đặt ngài trong hàng ngũ các thánh, đem ngài tới thị kiến vui hưởng thành thánh Jerusalem.” 

Trong khi các Thiên Thần nói với thánh Joakim, thánh Anna đứng ở đầu giường đức phu quân; do thánh ý Chúa, thánh Anna đã nghe và hiểu những lời các thiên thần nói. Cùng lúc đó thánh tổ phụ không còn nói được, bắt đầu đi vào con đường chung cho mọi người trần thế, ngài bắt đầu cơn hấp hối trong cuộc vật lộn lạ lùng giữa niềm vui mừng đối với thông điệp này và cơn đau đớn của giờ chết. Trong cuộc xung đột này giữa các sức mạnh linh hồn, thánh Joakim thực hiện những hành động nhiệt thành yêu mến, tin cậy, thán phục, ngợi khen chúc tụng, tạ ơn, lòng khiêm nhượng và các hành động anh hùng của nhiều thánh đức khác. Thánh Joakim đắm chìm trong hiểu biết mầu nhiệm quá sức cao siêu đó trong lúc mãn cuộc sống tự nhiên và chết cái chết quí báu của bậc thánh nhân (Tv 115:15). Linh hồn ngài được các thiên thần đưa tới lâm bô các Thánh Tổ và người công chính. Để là niềm an ủi và ánh sáng mới soi Lâm Bô tăm tối, Đấng Tối Cao đã gởi linh hồn thánh Joakim làm sứ giả đại diện Thiên Chúa loan báo cho toàn thể các thánh: bình minh ngày vĩnh cửu đã tới, ánh bình minh đang khởi đầu rọi chiếu trên trần thế trong Đức Maria, Ái Nữ của thánh Joakim và Anna; từ Đức Maria, Mặt Trời Thiên Chúa là Chúa Kitô, Chúa Cứu Thế, sẽ được sinh ra. Các thánh Tổ cùng các linh hồn công chính trong lâm bô nhận tin vĩ đại này với lòng hân hoan, và dâng lên lời ca tụng cùng nhiều ca vịnh tạ ân Đấng Tối Cao.

Nỗi đau đớn đầu tiên Vị Công Chúa của chúng ta phải chịu là Thiên Chúa ngưng tất cả mọi thị kiến thường xuyên từ trước tới nay. Cả các thiên thần cũng ẩn mặt. Đức Maria không còn được thấy các thiên thần như trước mặc dầu các ngài vẫn hiện diện vô hình chung quanh để bảo vệ Người. Linh hồn trinh trong của Đức Maria dường như hoàn toàn bị bỏ rơi, Người bị để một mình trong bóng đêm dày đặc vì sự  vắng mặt Đấng Yêu Dấu. Công Chúa bé nhỏ của chúng ta hết sức lạ lùng bỡ ngỡ, vì mặc dầu Chúa, đã chuẩn bị chu đáo để Đức Maria đón nhận những đau khổ sẽ tới, đã không nói rõ bản chất những thứ đó. Trái tim thơ ngây của Chim Bồ Câu đơn sơ không tích chứa một tư tưởng nào khác, không ấp ủ một kết luận nào ngoại trừ những điều thích hợp với đức khiêm nhượng và tình yêu khôn sánh, Người giải thích mọi điều theo cũng ánh sáng này. Với lòng khiêm tốn, Đức Maria nghĩ mình không xứng đáng được hưởng thêm nữa sự hiện diện và sở hữu Đấng Tốt Lành. Với tình yêu bốc cháy khao khát trông chờ Đấng Tốt Lành với lòng yêu mến nhưng đau đớn khôn tả, Đức Maria hướng trọn linh hồn về Chúa trong hoàn cảnh mới này và nói:

 

 ”Lạy Thiên Chúa Tối Cao và là Chúa muôn loài, Chúa đại lượng vô cùng, dư thừa tình thương xót. Lạy Chúa của con, con thú nhận một thụ tạo hèn hạ như con không xứng đáng được hưởng lòng ưu ái của Chúa. Linh hồn con trong nỗi buồn phiền sâu thẳm nhất tự trách mình vong ân bội bạc và mất lòng Chúa. Nếu sự bội bạc của con che khuất Mặt Trời vốn làm cho sống động và soi sáng con, nếu con đã bất cẩn thiếu sót trong việc tạ ơn vì các hồng ân vĩ đại, lạy Chúa, Đấng chăn dắt con, con nhìn nhận tội chểnh mảng nặng nề của con. Như một con chiên nhỏ đơn sơ dại khờ, con không biết phải tạ ơn Chúa cách nào, con cũng không biết điều gì đẹp lòng Chúa hơn hết, xin Chúa hãy nhìn con phủ phục sát đất, dính vào bụi đất, để được Chúa nâng lên khỏi sự nghèo khó cơ cực của con. Lạy Thiên Chúa của con, Đấng ngự trên cao, bàn tay quyền năng Chúa đã tạo dựng con (Giób 10:8), Chúa không thể quên hình hài chúng con Chúa đã tạo dựng (Tv 102:14), và trong loại bình gì Chúa đã đặt các kho tàng của Chúa. Linh hồn con tan biến trong đắng cay (Tv 30:11) vì vắng bóng Chúa, vì Chúa là cuộc sống ngọt ngào vô cùng, không ai ngoài Chúa có thể hồi phục lại cuộc sống rũ liệt linh hồn con. Vắng bóng Chúa, con đến với ai? Con sẽ hướng về đâu nếu không có ánh sáng hướng dẫn mắt con? Ai sẽ an ủi con khi tất cả chỉ là đau đớn? Ai sẽ cứu con khỏi chết, khi không chút sinh khí nào sót lại?”

Đức Maria cũng hướng về các thiên thần, tiếp tục không ngừng những lời than vãn yêu thương: “Hỡi các Hoàng Tử thiên quốc, các vị sứ giả của Đức Vua vĩ đại tối cao, những người bạn thành tín nhất của linh hồn tôi: tại sao các vị cũng bỏ tôi? Tại sao qúi vị cũng rút khỏi tôi sự hiện diện ngọt ngào và từ chối không nói chuyện với tôi? Nhưng tôi không ngạc nhiên vì điều quí vị buồn lòng, hỡi các chúa công, nếu vì sự vong ân bội bạc mà tôi đáng phải rơi vào tình trạng mất ân sủng của Đấng tạo thành quí vị và tôi. Hỡi ánh sáng trên các tầng trời, xin soi sáng tôi về vấn đề này. Nếu tôi phạm lỗi lầm, xin hãy sửa chữa và xin cho tôi lại được ơn Chúa tha thứ. Hỡi các triều thần cao quí của thành Jerusalem trên trời, xin xót thương sự đau buồn và bị thất sủng của tôi: xin nói cho tôi biết Đấng Yêu Dấu của tôi ở đâu, xin nói cho tôi biết Ngài ẩn mình nơi nào (Dc 3:3). Xin cho tôi biết phải tìm Ngài ở đâu mà không phải đi lang thang (Dc 1:6), không phải đi qua khắp những đám đông mọi hạng người. Nhưng khổ cho tôi, vì quí vị không đáp lời, mặc dầu quí vị hết sức nhã nhặn lịch sự và biết rõ nơi Phu Quân tôi ẩn náu, vì Ngài không bao giờ lánh mặt cùng vẻ duyên dáng của Ngài đối với quí vị!”

Tiếp theo đó, trong những nỗi lo âu về Người Yêu của mình, Đức Maria nói với toàn thể mọi thụ tạo khác: “Hiển nhiên cả các ngươi nữa, cũng đầy lòng biết ơn và được trang bị chống lại những ai vô ơn bạc tình, căm hờn kẻ vong ân bội nghĩa. Nhưng cho dù vì lòng nhân từ của Chúa, các ngươi để cho tôi ở giữa các ngươi, những khát vọng của tôi không vì thế mà được thỏa mãn. Vì với tính cách hữu hạn của các ngươi so với lòng Chúa rộng rãi khôn lường, điều tôi theo đuổi không mãn nguyện, nỗi đau buồn không giảm bớt, sự đau đớn không chút giảm thuyên, cay đắng buồn phiền cứ gia tăng, ước vọng mãi tăng thêm, trái tim tôi rạo rực hơn, ngất lịm đi trong tình yêu không bao giờ thoả mãn đối với những thứ ở đời.”

Mặc dầu Lucifer thấy lòng can đảm kiên trì của Đức Maria và sức mạnh của ơn trợ giúp siêu nhiên, đã không biết chút gì về sự khôn ngoan thận trọng được giấu kín của Người. Ỷ vào lòng kiêu ngạo quỉ quyệt, nó bao vây Thành Thánh Thiên Chúa theo nhiều cách và nhiều hình thức chiến tranh khác nhau. Trong suốt cuộc chiến này, Lucifer đã thường thay đổi bộ máy chiến tranh, nhưng bộ máy chiến tranh của nó chẳng khác gì chiếc vòi con ong yếu nhược chống lại viên kim cương hoặc bức tường cứng như kim cương. Công Chúa của chúng ta là vị phụ nữ khôn ngoan dũng lực (Cn 31:11), nơi người trái tim phu quân cậy nhờ tín cẩn, không chút lo lắng e sợ những ước nguyện của mình bị hư hoại. Người có sức chịu đựng kiên cường (Cn 31:25) làm nữ trang, y phục là đức trinh khiết, đức bác ái yêu thương bảo vệ chẳng khác nón sắt che đầu. Khủng long dơ bẩn kiêu căng không thể nhìn lên Thụ Tạo này mà không bị chóa mắt giận dữ điên cuồng vì sự mơ hồ của nó. Nó nhất định giết Người; bầy quỉ dữ dồn toàn lực vào mục đích này. Chúng mất quá nhiều thì giờ vào nỗ lực này, nhưng thành công chỉ là số không.

Sau khi Đức Trinh Nữ thành công chiến đấu chống lại những trận chiến bí mật này, Lucifer mở trận chiến mới bằng việc dùng người ta. Nó âm thầm nhen nhúm lòng ghen tức đố kị chống lại Công Chúa Maria nơi các thiếu nữ đồng lớp. Địch quân này khó chống lại hơn nhiều, vì nó mọc lên ngay từ sự mau mắn mà Công Chúa thiên cung nổi bật trong việc thi hành mọi thánh đức, tăng thêm khôn ngoan và thánh sủng trước mặt Thiên Chúa và người ta. Satan trút lòng ghen ghét vào trái tim các thiếu nữ này; thuyết phục các cô rằng hào quang của Đức Maria sẽ làm lu mờ cản trở, khiến họ ít được để ý tới. Vì Người, mà các thầy tư tế các giáo sư có thể thấy rõ những chểnh mảng hững hờ của các cô; và chỉ một mình Đức Maria được mọi người quí mến.

Các thiếu nữ này để cho ma quỉ gieo những hạt giống xấu vào lòng. Vì khờ dại, các cô để cho hạt giống đó mọc lên cho tới khi trở thành lòng ghét cay ghét đắng đối với Công Chúa Maria. Các cô gái này bắt đầu nhìn và đối xử với Người cách thù nghịch. Các cô không thể nào chịu được lòng khiêm tốn của Chim Bồ Câu hiền lành. Lucifer khích thích làm cho các cô nhiễm lây lòng tức giận của chính nó. Các hiệu lực của Satan trở nên rõ ràng; các thiếu nữ này âm mưu, bất chấp ơn soi sáng linh thiêng, cố ý quấy rầy hành hạ Đức Maria cho tới khi Người bị bắt buộc phải rời khỏi đền thờ. Các cô kêu Người ra một bên; nói với Người những lời nặng nề, đồng thời đối xử với Người hết sức ác độc. Các cô gọi Người là giả hình; kết tội Người âm mưu giành ưu đãi của các thầy tư tế và bà giáo; tìm cách hạ các cô khác bằng những lời than phiền, phóng đại lỗi lầm của họ, trái lại, Người là kẻ vô dụng nhất trong tất cả và đáng bị thù ghét.

Đức Trinh Nữ khôn ngoan, can đảm, khiêm nhượng, điềm tĩnh chịu đựng những nhục nhã này và nhiều lời buộc tội khác nữa mà không chút bối rối. Đức Maria đáp: “Các bạn quí mến của tôi, hiển nhiên các chị nói đúng, tôi là kẻ hèn hạ bất toàn nhất; các bạn, các chị của tôi, được dạy bảo tường tận hơn tôi, hãy tha thứ những lỗi lầm và chỉ bảo cho sự kém cỏi của tôi. Xin chỉ bảo  hướng dẫn (tôi), để tôi có thể hành động tốt hơn và làm vui lòng các chị. Mặc dầu tôi bất toàn, tôi thành thực xin các chị, các bạn của tôi, cho tôi được hưởng hảo tâm của các chị; tôi yêu mến quí trọng các chị như tôi là một nữ tì xin vâng phục mọi điều các chị muốn thử thách hảo ý của tôi. Xin cho biết các chị muốn tôi làm gì.”

Những lời lẽ khiêm tốn dịu hiền này của Đức Maria đã không làm mềm trái tim chai đá nơi các bạn đồng lớp, vì các cô đó bị nhiễm lây lòng hận thù ghen ghét độc hại của rắn già hỏa ngục. Chính vì đức khiêm nhượng của Người, Satan càng tức giận lồng lộn hơn, nó biến thuốc giải độc này thành phương tiện tăng thêm lòng thù hận nơi các cô gái công khai chống lại Đức Maria, Đấng là dấu chỉ vĩ đại trên trời (Kh 13:15). Việc hành hạ này tiếp tục suốt nhiều ngày, trong khi đó Công Chúa thiên đàng cố gắng làm nguôi lòng thù ghét của các bạn đồng lớp bằng sự khiêm tốn, kiên trì, hiền lành và bao dung. Ma quỉ táo bạo xúi giục các thiếu nữ đó nhiều tư tưởng hết sức liều lĩnh, thúc đẩy các cô bạo hành con chiên hiền lành khiêm tốn, tới mức muốn làm cho Người chết. Nhưng Thiên Chúa đã không cho phép việc thi hành những xúi bẩy phạm thượng như thế; điều tệ nhất họ được để cho tiến hành là sỉ nhục Đức Maria bằng lời nói hoặc tát hoặc đấm Người một vài cái. Bà giáo và các thầy tư tế không biết gì về những cãi vã này. Trong thời gian này Đức Maria rất thánh đạt được những công nghiệp khôn sánh trước mặt Đấng Toàn Năng. Người dùng cơ hội này thực hành các thánh đức đối với Thiên Chúa và cả đối với những người thù ghét hành hạ mình. Đức Maria đã thực hiện những hành động anh hùng của đức yêu thương, khiêm tốn, lấy ân báo oán, lấy ân sủng đối lại lời nguyền rủa, lấy lời cầu nguyện đáp lại lời phạm thượng (1 Cor.4:13), chu toàn trong mọi sự những đòi hỏi trọn hảo nhất, cao cả nhất của luật Chúa. Đức Maria cầu nguyện cho những kẻ hành hạ đàn áp Người.

Một hôm, các cô gái này đưa Đức Maria tới một căn phòng vắng, tại đây các cô có thể hành động an toàn hơn. Các cô đánh Người tàn nhẫn, sỉ nhục thậm tệ, với mục đích làm cho Người kiệt lực hoặc tức giận hầu lôi kéo đức khiêm tốn khoan hoà không lay chuyển của Người vào hành động khinh xuất nào đó. Nhưng Đức Nữ Vương các thánh đức cho dù một giây lát cũng không khuất phục điều xấu xa, không bị lay chuyển, vẫn bình tĩnh trả lời các cô này hết sức nhã nhặn. Quá sức tức giận vì thất bại trong mục đích này, các cô lớn tiếng cãi cọ. Khắp đền thờ nghe tiếng huyên náo lạ lùng khiến mọi người sửng sốt bối rối. Các thầy tư tế và bà giáo vội vàng tới nơi phát ra tiếng ồn ào. Chúa để cho Người Yêu Dấu chịu thêm một sỉ nhục mới nữa, khi bà giáo và các thầy tư tế nghiêm khắc tra hỏi lý do cuộc xung đột này. Trong khi Chim Bồ Câu tột đỉnh hiền lành im lặng, các cô kia giận dữ nói: “Maria thành Nazareth lôi kéo tất cả chúng tôi vào trận xung đột cãi vã vì cách cư xử khó chịu của Cô Ta. Khi vắng mặt quí vị, Cô Ta khiêu khích chọc tức chúng tôi quá sức mà nếu Cô Ta không rời khỏi đền thờ, không thể nào chúng tôi giữ hoà khí được. Khi chúng tôi làm lơ, Cô Ta trở nên quá sức chịu đựng. Nếu chúng tôi quở trách, Cô Ta chế nhạo bằng cách quì phục dưới chân chúng tôi giả bộ khiêm nhượng, sau đó cãi lại làm ồn lên.” Vì tin những lời vu khống này, các tư tế và bà giáo đưa Công Chúa Maria vào một căn phòng khác và nghiêm khắc quở trách Người. Sau khi khuyến cáo Người phải cải đổi cách cư xử như người sống trong nhà Thiên Chúa, các vị đó đe dọa trục xuất Người khỏi đền thờ nếu không sửa đổi hạnh kiểm. Lời đe dọa này là hình phạt nặng nề nghiêm khắc nhất, nếu như Người đã thực sự có lỗi; hình phạt đó nặng nề hơn nhiều, vì Người hoàn toàn vô tội.

Lucifer đã liên tiếp bí mật bày mưu kế vụ rắc rối này, nó xúi bẩy trái tim các cô gái khờ dại này tới những thái độ ngạo mạn tự phụ lớn lao hơn nữa, vì thành công trong việc dối gạt các vị tư tế, các cô táo bạo trầm trọng hơn nữa trong việc làm mất uy tín và hạ thanh danh Đức Trinh Nữ cực tinh tuyền. Theo ma quỉ xúi bẩy, các cô bịa đặt những lời cáo buộc dối trá mới; nhưng Đấng Tối Cao không bao giờ cho phép điều gì quá nặng nề làm mất thanh danh Đức Maria, Đấng mà Thiên Chúa đã chọn làm Hiền Mẫu rất thánh của Con Một Vô Cùng Yêu Dấu. Các thiếu nữ đó được để cho thực hiện nhiều mưu mô đàn bà mà tính hiếu động thúc đẩy. Trước những lời nói cùng cách đối xử thậm tệ của các bạn đồng lớp và những lời quở trách của bà giáo và các thầy tư tế, Công Chúa Maria khiêm hạ đã tìm được nhiều cơ hội thực hành các thánh đức, gia tăng đặc ân từ Đấng Tối Cao, bồi đắp thêm công nghiệp.

Chúa không ngủ, cũng không chợp mắt (Tv 120:4) mặc dầu làm như không nghe tiếng Người Yêu Dấu kêu cứu. Những đau khổ này là cơ hội đem lại nhiều chiến thắng vinh quang. Ngọn lửa hành hạ đàn áp âm ỉ vẫn tiếp tục không giảm sút, để Chim Phượng Hoàng Maria có thể nhiều lần canh tân chính Người từ bụi đất của đức khiêm tốn, để trái tim cực tinh tuyền được đổi mới hoài hoài lên tới những trạng thái và hoàn cảnh mới của ân sủng siêu nhiên. Đến lúc cần chầm dứt lòng thù hận ghen tương mù quáng của các cô gái bị bẫy gạt đó, để lòng hờn giận của họ không làm giảm uy danh Đấng tuyệt vời về bản chất và thánh sủng, Chúa nói với thầy cả thượng phẩm trong giấc ngủ: “Maria, Tôi Tớ của Ta, đẹp mắt Ta, là Người toàn hảo được Ta tuyển chọn: Người hoàn toàn vô tội đối với tất cả mọi điều bị cáo buộc.” Cũng mạc khải đó được ban cho bà Anna, bà giáo quản nhiệm các trinh nữ trong đền thờ.

Việc làm sáng tỏ của các tư tế và bà giáo về Đức Maria làm xẹp đi những hành hạ. Chúa cũng kềm hãm ngăn cản ma quỉ từ đó về sau không được xúi giục các cô đó nữa. Thời gian Chúa ẩn mặt xa lánh này, kéo dài (thật lạ lùng) mười năm. Mặc dầu trong mười năm này Đấng Tối Cao một vài lần an ủi Người Yêu Dấu bằng việc để cho Đức Maria được thấy Chúa, nhưng các đặc ân này ít rộng rãi, ít âu yếm dịu dàng hơn trong những năm ấu thơ. Sự vắng mặt này được Chúa an bài để Đức Maria, do việc thực hành các thánh đức trọn lành, có thể được làm cho xứng đáng với địa vị được tiền định. Vì nếu Đức Maria được liên tục vui hưởng thị kiến Đấng Tối Cao, hẳn Người đã không thể chịu đau khổ theo lệ thường của một thụ tạo thuần túy.

Suốt thời gian Chúa ẩn mặt, Đức Maria rất ít khi được thị kiến Thiên Chúa và nhìn thấy các thiên thần. Nhưng linh hồn rất thánh và các quan năng của Người được vui hưởng nhiều đặc ân, nhiều thánh sủng hơn, nhiều ơn soi sáng hơn tất cả các thánh. Thời gian Chúa ẩn mặt này khởi đầu tám ngày trước khi thân phụ Đức Maria, thánh Joakim, từ trần, sau đó, những hành hạ đàn áp của hoả ngục bắt đầu, nối tiếp bằng những hành hạ áp bức từ phía người ta. Những đàn áp hành hạ này kéo dài tới khi Công Chúa của chúng ta tròn mười hai tuổi. Sau khi Đức Maria đã qua tuổi mười hai, một hôm các thiên thần, không hiện ra rõ ràng, nói với Người: “Này Maria, sắp tới ngày cuối đời của hiền mẫu Anna theo Đấng Tối Cao an bài. Thiên Chúa quyết định giải phóng bà khỏi tù đày thân xác, đem những vất vả khổ cực của bà tới viên mãn hạnh phúc.”

Với thông điệp bất ngờ và buồn rầu này, trái tim Ái Nữ Maria tràn ngập xót thương. Sấp mình trước mặt Thiên Chúa, Người cầu nguyện sốt sắng xin cho thánh hiền mẫu Anna được chết lành:

 “Lạy Vua muôn thuở, lạy Đấng Tạo Thành quyền năng đời đời hằng hữu của muôn loài, mặc dầu con chỉ là tro bụi, mặc dầu con phải thú nhận con mắc nợ lòng nhân từ đại lượng của Chúa, không vì thế mà con bị cản trở không được kêu van xin Chúa (Stk 18:17). Lạy Chúa, con trút ra trước thánh nhan Chúa trái tim con, hy vọng rằng Chúa sẽ không chê bỏ kẻ đã luôn luôn xưng tụng thánh danh Chúa. Lạy Chúa, xin cho tôi tớ Chúa lui về an nghỉ bình an, người tôi tớ với lòng thành tín và tin cậy vô địch hằng ước ao chu toàn điều đẹp lòng Chúa. Xin Chúa cho người vinh quang qua khỏi sa trường đầy thù nghịch, vào nơi dành cho các thánh được tuyển chọn của Chúa. Xin Chúa tăng thêm sức mạnh cho người vào lúc cuối đời như Chúa đã từng giúp đỡ người bước đi theo đường trọn lành. Lạy Thiên Chúa, xin cho người đi vào nơi an bình của tình bằng hữu và ân sủng Chúa, vì người luôn kiếm tìm điều đó với trái tim ngay thẳng.”

Chúa đã không đáp lời rõ ràng điều Người Yêu Dấu van nài. Nhưng lời đáp của Chúa là một đặc ân kỳ diệu được biểu lộ cho Đức Maria và thánh hiền mẫu Anna. Trong đêm đó Thiên Chúa truyền cho các thiên thần hộ vệ đưa Đức Maria bằng thân xác tới bên giường hiền mẫu Anna trong khi đó một thiên thần lấy hình dáng của Người ở lại trong đền thờ. Các thiên thần vâng lệnh Thiên Chúa đưa Đức Maria tới phòng thánh mẫu Anna. Công Chúa thiên cung hôn tay hiền mẫu, nói: “Thưa mẹ và bà chúa của con, xin Đấng Tối Cao là ánh sáng và sức mạnh của mẹ, xin chúc tụng Chúa, Ngài đã dủ lòng đoái thương không để cho con bị khắc khoải không được hưởng chúc lành cuối cùng của mẹ. Thưa mẹ của con, xin mẹ cho con được hưởng chúc lành từ tay mẹ.” Thánh Anna chúc lành cho Ái Nữ Maria. Trái tim tràn ngập hân hoan, thánh hiền mẫu cảm tạ ơn Chúa về đặc ân vĩ đại được ban cho chính bà. Thánh Anna biết nhiệm tích của Ái Nữ và Nữ Vương của mình; bà không quên bầy tỏ lòng biết ơn vì tình yêu thương Đức Maria biểu lộ trong dịp này.

 Thánh Anna, vị hiền mẫu được chúc phúc, cảm thấy những đau đớn của giờ chết tới gần, nằm tựa đầu trên ngai toà ân sủng là vòng tay của Ái Nữ Maria rất thánh, ký thác linh hồn tột đỉnh tốt lành trong tay Đấng Tạo Thành. Sau khi vuốt mắt hiền mẫu và đặt xác thánh trong tư thế mai táng, Công Chúa Maria được các thiên thần đưa trở lại đền thờ. Thiên Chúa không cản trở sức mạnh tình yêu con cái đối với cha mẹ nơi Đức Maria. Tình yêu này tự nhiên tạo ra nỗi đau đớn vĩ đại đầy cảm xúc vì cái chết của hiền mẫu và cảm giác cô đơn vì Chúa ẩn mặt. Những đau khổ này, được chi phối bởi các ân sủng do đức ngây thơ trinh trắng và khôn ngoan, đã đạt tới tột đỉnh thánh thiện trọn lành nơi Đức Maria. Giữa những đau đớn đó, Người dâng lời chúc tụng Đấng Tối Cao vì lòng thương xót vô cùng đã ban cho hiền mẫu Anna, cùng với những lời than vãn dịu ngọt yêu thương vì việc Chúa ẩn mặt vẫn không giảm bớt.

Công Chúa thiên cung của chúng ta cảm thấy ngày được thị kiến Thiên Chúa rõ ràng đang tới gần, tựa như những hiệu báo bình minh, các tia sáng siêu nhiên chiếu trong linh hồn Người. Trái tim Đức Maria bắt đầu được đốt cháy vì ngọn lửa vô hình đang tới gần. Được gợi ý vì linh nghiệm mới này, Đức Maria hỏi các thiên thần:

 “Thưa các bạn hữu và chúa công, các vị bảo vệ thận trọng trung tín nhất của tôi, xin cho biết đêm tối của tôi đã mấy giờ rồi? Đến khi nào ánh sáng ngày rực rỡ mới mọc lên, để Mặt Trời Công Chính soi sáng mắt tôi, ban sinh lực cho tình yêu của tôi, cho linh hồn tôi?”

Các thiên thần nói với Đức Maria: “Kính thưa Người Yêu Dấu của Đấng Tối Cao, ánh sáng chân lý Người ao ước gần tới rồi; ánh sáng đó sẽ không chần chờ lâu, ánh sáng đó đã tới rồi.” Với những lời này tấm màn che khuất các linh thiêng được nhẹ nhàng kéo lên. Các thiên thần trở nên hữu hình, y như trong những năm đầu đời Đức Maria.

Các thiên thần truyền sang cho Đức Maria ánh sáng để tinh lọc các quan năng, không phải vì Người có tì vết gì cần phải chữa trị. Trái lại các hành động và việc làm của Đức Maria trong thời gian Chúa ẩn mặt đều thánh thiện đáng công phúc. Vả lại cần để cho Đức Maria được ban thêm những đặc ân mới, trấn tĩnh tinh thần và các quan năng vốn đã từng bị giao động vì những đau khổ lo lắng đầy yêu thương trong suốt thời gian Chúa ẩn mặt. Để nâng Đức Maria lên vị thế mà Người có thể vui hưởng những đặc ân mới khác, có thể xứng hợp với mục đích cao cả và hợp với cách thức vui hưởng ân sủng đó, các quan năng của Người cần phải được làm mới lại, được sắp đặt lại. Các thiên thần sốt mến Seraphim cùng với Đức Maria tiến hành các việc này, khi Chúa ban cho Đức Maria ân trang điểm và phẩm chất cần thiết cuối cùng chuẩn bị cho thị kiến sắp diễn ra tức thời.

Sau một thời gian dài ẩn mặt, Thiên Chúa hiện ra với Đức Maria. Mặc dầu thị kiến này không phải trực diện nhưng rất tuyệt diệu. Qua thị kiến này, Thiên Chúa lau khô những giọt lệ không khi nào ngừng của Công Chúa Maria, thưởng cho lòng yêu mến và tâm tình khắc khoải yêu thương nồng nàn, thỏa mãn mọi ước nguyện, làm cho Người ngụp lặn trong hoan lạc khi ngả đầu trong vòng tay Đấng Yêu Dấu (Dc 8:5). Khi đó Phượng Hoàng non hồi phục tính trẻ trung, tung cánh bay tới những miền cực xa của Thiên Chúa (Tv102:5). Do hậu quả của thị kiến này Đức Maria đã lên tới nơi không một thụ tạo nào khác có thể tới, cũng không một thần linh nào, ngoài Thiên Chúa, có thể tới được.

Công Chúa của chúng ta ra khỏi thị kiến, hoàn toàn được đổi mới, được làm cho giống Thiên Chúa, đầy kiến thức mới về Thiên Chúa, về các nhiệm tích còn giấu kín của Đức Vua; xưng tụng, thờ lạy, chúc tụng Chúa bằng những lời ca bất tận, bằng những chuyến bay cao của tinh thần an hòa. Đức khiêm tốn và các thánh đức khác của Đức Maria cũng gia tăng thích hợp. Lời cầu nguyện nồng nàn của Người xuyên thấu ngày càng sâu xa vào điều trọn hảo nhất, làm vui lòng Đấng Tối Cao hơn hết; Người chu toàn và thực hành điều đó trong mọi hành động. Tình trạng này kéo dài một số ngày cho tới khi xảy ra biến cố sẽ được kể trong chương tiếp.

CHƯƠNG 7

  CUỘC HÔN NHÂN THẦN DIỆU VỚI THÁNH GIUSE

       Khi được mười ba tuổi rưỡi và tương đối lớn theo tuổi, Công Chúa Maria cực trinh khiết tuyệt vời diễm lệ thị kiến Thiên Chúa cũng như các lần trước. Trong thị kiến này, xảy ra việc tương tự như đã xảy ra cho Tổ Phụ Abraham khi Thiên Chúa truyền cho ông hiến dâng Isaac yêu dấu. Thiên Chúa thử thách ông Abraham (Stk 12:12), thử thách để thưởng công việc ông sẵn sàng vâng phục thánh ý Chúa. Chúng ta có thể nói chính việc thử thách đó đã xảy đến với Đức Maria. Thiên Chúa thử lòng Đức Maria bằng việc truyền cho Người đi vào đời sống hôn nhân. Nhờ đó chúng ta có thể hiểu ý nghĩa đích thực những lời: Cao siêu khôn lường là những phán xét của Thiên Chúa, cao quí thay đường lối và tư tưởng của Ngài vượt trên chúng ta (Rom 11:33)! Cũng như khoảng cách xa thẳm giữa trời với đất, tư tưởng của Đức Maria cách xa những chương trình Thiên Chúa Tối Cao dành cho Người. Thiên Chúa truyền cho Đức Maria chấp nhận một phu quân để được bảo vệ giúp đỡ. Vì ước nguyện từng hun đúc quyết tâm suốt đời không lấy chồng, Đức Maria thường canh tân lời khấn hứa giữ Đức Trinh Khiết đã khấn hứa khi còn ấu thơ.

Dẫu vậy, với lệnh truyền bất ngờ này, Đức Trinh Nữ đã khôn ngoan ngưng quyết định riêng, thực hiện Đức Bình Tĩnh Cậy Trông và Đức Tin hoàn hảo hơn Tổ Phụ Abraham. Không còn chỗ để mà hy vọng (Rom 4:18), Đức Maria đáp lại thánh ý Chúa:

 “Lạy Thiên Chúa hằng hữu uy nghi khôn lường, Đấng tạo thành trời đất muôn vật, lạy Thiên Chúa, Đấng cân trọng lượng gió (Gióp 28:25), do lệnh Chúa truyền tạo thành ranh giới biển cả, mọi thụ tạo vâng phục thánh ý Chúa, xin sử dụng con, con trùng nhỏ bé vô giá trị, theo thánh ý Chúa, mà không để cho con thất trung với điều đã khấn hứa với Chúa. Lạy Chúa nhân từ, nếu  không làm Chúa buồn, con tái xác nhận ao ước giữ Trinh Khiết trọn đời, xin nhận Chúa là Chúa và Phu Quân của con. Bổn phận duy nhất của con, một thụ tạo, là vâng lời Chúa, xin Chúa – Phu Quân của con - đoái nhìn điều ước nguyện đó, để theo quyền năng Chúa quan phòng, con có thể thoát khỏi sự nguy hiểm này mà tình yêu của Chúa đặt con vào.” Tuy nhiên theo bản chất tự nhiên, Đức Trinh Nữ Maria có chút lo âu như xảy ra sau này đối với lời Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel (Lc 1:8). Nhưng, dù Đức Maria có cảm thấy một chút buồn lòng, điều đó không cản trở việc thực hành Đức Vâng Lời cách anh hùng tột bậc, Đức Maria đã hoàn toàn ký thác cho Chúa. Thiên Chúa đáp lời: “Này Maria, đừng để cho trái tim xao xuyến. Việc Người ước thệ được Ta chấp nhận, cánh tay quyền năng của Ta vượt trên mọi qui luật. Ta sắp đặt như sẽ xảy ra là điều thích hợp nhất cho Người.”

Được an ủi bằng lời hứa không rõ ràng của Thiên Chúa, Đức Maria rời khỏi thị kiến trở lại trạng thái bình thường. Người lo âu vì bị đặt giữa sự phân vân và hy vọng do lệnh truyền và lời hứa của Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn Đức Maria gia tăng gấp bội lòng Yêu Mến Tín Nhiệm, Đức Tin, Khiêm Nhượng, Phục Tòng, Trinh Khiết tinh tuyền tột cùng và các thánh đức khác. Trong khi Đức Maria đắm mình chuyên cần cầu nguyện và can đảm ký thác, Thiên Chúa nói với thượng tế Simeon, truyền cho ngài sắp xếp cuộc hôn nhân cho Đức Maria, Ái Nữ thánh Joakim và Anna thành Nazareth. Vị tư tế thánh thiện xin thánh ý Chúa về người sẽ được chọn làm phu quân của Trinh Nữ Maria. Thiên Chúa truyền cho ông triệu tập tất cả các tư tế và các học giả, cho họ biết Trinh Nữ này là Côi Tử, nhưng không muốn lấy chồng. Tuy vậy, theo tập quán, các trinh nữ đầu lòng không rời khỏi đền thờ mà không được cấp dưỡng, vì thế điều chính đáng là nếu Trinh Nữ Maria kết hôn với người nào mà các vị đó cho là tốt.

Trinh Nữ Maria rất khôn ngoan, với vẻ mặt lộ ra sự khiêm nhu thanh khiết, đã bình tĩnh khiêm tốn đáp lời thầy cả thượng phẩm: “Thưa thầy, theo lòng con ước ao, con ước muốn giữ trọn vẹn trinh khiết suốt đời. Con muốn tận hiến toàn thân cho Thiên Chúa trong việc phụng sự nơi đền thánh này để đáp lại những hồng ân cao cả con đã nhận được tại đây. Con không bao giờ có ý định hoặc muốn đi vào đời sống hôn nhân, vì con tự xét không đủ khả năng chu toàn các trách nhiệm liên quan đến hôn nhân. Đây là ước nguyện của con, nhưng còn thầy, thầy của con, thầy thay quyền Chúa đối với con, xin chỉ dạy con điều phải làm theo thánh ý Chúa.” Thánh Simeon nói: “Con gái của thầy, những ước nguyện thánh thiện của Con được Thiên Chúa chấp nhận. Nhưng Con hãy nhớ không một trinh nữ Do Thái nào không lập gia đình bao lâu chúng ta trông chờ Đấng Cứu Thế đến theo những lời tiên tri Chúa ban. Vì thế tất cả những ai sinh được con cái trong dân chúng ta đều được coi là được chúc phúc. Trong hoàn cảnh hôn nhân, Con có thể phụng sự Thiên Chúa cách đích thực toàn hảo khôn lường. Để Con có được người bạn đồng hành theo thánh ý Chúa, hợp với ước nguyện của Con, chúng ta sẽ cầu xin Chúa, như thầy đã nói với Con, xin Chúa chọn phu quân cho Con, người đó sẽ làm vui lòng Chúa và thuộc dòng dõi thánh vương David. Con hãy liên tục cầu nguyện xin cũng ơn đó, xin Đấng Tối Cao thương Con mà chỉ dẫn chúng ta.”

Việc này xảy ra chín ngày trước ngày được ấn định hoàn thành quyết định của các tư tế và học gỉa. Trong thời gian này Đức Trinh Nữ Maria gia tăng cầu nguyện, không ngừng van xin Thiên Chúa thi hành trọn vẹn điều vui lòng Chúa. Vào một trong chín ngày này, Thiên Chúa hiện ra nói với Đức Maria: “Hỡi Ái Nữ yêu dấu của Ta, hãy để cho trái tim ưu phiền của Con thư thái,  đừng bối rối buồn rầu. Ta sẽ chu toàn mọi điều Con ước nguyện cầu xin, Ta sẽ điều khiển mọi sự, hướng dẫn các tư tế bằng ơn soi sáng; Ta sẽ cho Con một phu quân được chính Ta tuyển chọn. Người đó sẽ không cản trở các ước nguyện thánh thiện của Con, nhưng do ân sủng của Ta, người đó sẽ làm cho Con được sung túc trong các điều Con ước nguyện. Ta sẽ tìm cho Con một phu quân hoàn toàn, hợp với trái tim Ta, Ta sẽ chọn người đó trong số các tôi tớ Ta. Ta quyền năng vô cùng; Con không bao giờ thiếu vắng sự bảo vệ giúp đỡ của Ta.”

Đức Maria đáp: “Lạy Thiên Chúa Tối Cao, Tình Yêu của linh hồn con, Chúa biết rõ mọi thầm kín trong lòng và mọi điều con ước nguyện. Chúa đã làm cho những điều này bừng cháy trong con từ giây phút đầu tiên Chúa cho con làm người. Hỡi Phu Quân, xin gìn giữ con tinh tuyền trinh khiết, như con đã từng ước nguyện cho Chúa và nhờ Chúa. Xin Chúa đừng khinh miệt những khát vọng của con, xin đừng che giấu thánh nhan Chúa khỏi con. Lạy Thiên Chúa, xin Chúa nhớ con chỉ là một con trùng nhỏ vô dụng, yếu đuối hèn hạ vì sự hư không của con. Nếu con xa lìa mất nhân đức trong hoàn cảnh hôn nhân, con sẽ làm cho Chúa và mọi ước nguyện của con thất vọng. Xin Chúa bảo vệ con an toàn, không bị ngã lòng vì những lầm lỗi của con. Dù con chỉ là hạt bụi vô dụng (Stk 18:27), lạy Chúa, con sẽ kêu cầu lượng cao cả Chúa, ký thác nơi lòng nhân từ vô biên của Chúa.”

 Vào ngày Đức Maria tròn mười bốn tuổi, các thanh niên trong chi họ Juda, thuộc dòng tộc David, lúc đó đang ở Jerusalem, tụ họp trong đền thờ. Công Chúa Tối Cao Maria cũng thuộc dòng dõi thánh vương David. Trong số các thanh niên này, thánh Giuse, một miêu duệ vua David, quê quán ở Nazareth, bấy giờ đang ở Jerusalem. Lúc đó thánh Giuse ba mươi ba tuổi, đẹp trai, dáng mặt vui vẻ, nhưng khiêm tốn nghiêm nghị. Đặc biệt là thánh Giuse trinh khiết tột bậc trong tư tưởng và phẩm hạnh, thánh thiện trong mọi khuynh hướng. Từ mười hai tuổi, thánh Giuse đã khấn hứa và giữ Đức Trinh Khiết. Thánh Giuse có họ ba đời với Đức Trinh Nữ Maria. Ngài nổi tiếng thanh khiết, thánh thiện, không bị chê trách trước thánh nhan Chúa cũng như trước mặt người ta.

Tất cả các thanh niên chưa lập gia đình này tụ tập trong đền thờ, liên kết với các tư tế, cầu xin để được Chúa Thánh Thần chỉ dẫn trong việc họ sắp sửa thi hành. Thiên Chúa soi dẫn thầy cả thượng phẩm đặt vào tay mỗi thanh niên một khúc cây khô, với chỉ dạy rằng mọi người, với Đức Tin sống động, cầu xin Thiên Chúa Uy Quyền chỉ cho thấy người được Thiên Chúa chọn làm phu quân của Trinh Nữ Maria. Vì hương thơm ngào ngạt nhân đức, sự cao sang, nhan sắc lẫy lừng, và sự khiêm nhu của Người, tư cách con đầu lòng mà ai nấy đều biết, mọi thanh niên, trừ một người, đều ao ước niềm hạnh phúc xứng đáng được Người làm hiền thê. Người ngoại trừ duy nhất trong số các thanh niên còn độc thân đó là thánh Giuse, người khiêm tốn ngay thẳng nhất, đã tự nghĩ mình không xứng đáng được hồng ân vĩ đại như thế. Thánh Giuse, dịp này, nhớ đến lời thề giữ Trinh Khiết đã hứa với Chúa và tái quyết tâm giữ trọn đời. Ngài phó thác hoàn toàn cho thánh ý Chúa, trao phó mọi sự cho Chúa sắp đặt, đồng thời, hơn hết tất cả mọi người khác, ngài được lòng tôn trọng kính yêu đặc biệt đối với Trinh Nữ Maria cao quí.

Khi mọi người đang cầu nguyện, người ta thấy cây gậy trong tay thánh Giuse nở hoa, đồng thời một chim bồ câu trắng tinh tuyền rực rỡ lạ lùng đậu trên đầu ngài, trong khi đó Thiên Chúa nói trong lòng thánh Giuse: “Giuse, tôi tớ của Ta, Maria sẽ là Hiền Thê của con. Con hãy chấp nhận Người với lòng kính trọng ân cần, vì Người được chấp nhận trước mặt Ta, linh hồn thân xác Người tinh tuyền tột đỉnh. Con sẽ phải làm tất cả những điều Maria sẽ nói cho con biết.” Do sự biểu lộ và dấu hiệu này từ trời đến, các thầy cả tuyên bố thánh Giuse là phu quân được chính Thiên Chúa chọn cho Trinh Nữ Maria. Trinh Nữ Maria được mời ra để cử hành lễ đính hôn. Đấng Được Tuyển Chọn tiến ra như mặt trời, rực rỡ hơn mặt trăng, đến trước mặt mọi người với dung mạo đẹp đẽ hơn thiên thần; không thể nào so sánh sự duyên dáng, sắc đẹp, vẻ cao sang và kiều diễm của Người; các thầy cả kết hôn Người với thánh Giuse, người trinh khiết thánh thiện nhất trong các nam nhân.

 Công Chúa thiên cung, trinh khiết hơn các vì sao trên trời, dung nhan diễm lệ như Nữ Hoàng cao sang nhưng khiêm tốn hết mực, từ biệt các tư tế, xin các ngài chúc lành, từ biệt bà giáo Anna cùng các bạn, và xin lỗi mọi người. Đức Maria cám ơn mọi người về những đặc ân đã nhận được từ tay họ trong suốt thời gian ở trong đền thờ. Sự khiêm tốn trong cách cư xử của Đức Maria làm tăng thêm sự khôn ngoan và tư cách trong những lời nói khi thi hành những phận sự cuối cùng này trong đền thờ. Người thường ít nói, nhưng những lời có giá trị. Đức Trinh Nữ Maria rời khỏi đền thờ lòng buồn vô hạn vì hy sinh những ước vọng của mình. Cùng với các người giúp việc (những người này là dân ngoài đời xuất sắc trong việc phụng sự đền thờ) Đức Trinh Nữ đi cùng với đức phu quân Giuse, về Nazareth, quê quán của Cặp Vợ Chồng tột đỉnh hạnh phúc này.

Tới nhà Nazareth, nơi Đức Maria thừa hưởng gia tài của thánh song thân Joakim và Anna, Hai Vị được bạn hữu và thân nhân chào đón thăm hỏi chúc tụng vui vẻ nồng nàn theo tục lệ. Sau khi chu toàn các nghĩa vụ tự nhiên về tình bằng hữu và xã giao, chu tất mọi việc chuyện trò giao thiệp với mọi người bà con thân quyến, hai vị Phu Thê tột đỉnh thánh thiện này, được rảnh rang nói chuyện với nhau trong nhà. Người Do Thái có phong tục là trong những ngày đầu cuộc sống hôn nhân, vợ chồng phải tìm hiểu hoặc thử thách các thói quen, tính tình của nhau, để sau đó có thể cư xử tương nhượng.

Dịp này, thánh Giuse nói với Đức Maria: “Thưa hiền thê và bà chủ của tôi, tôi tạ ân Thiên Chúa Tối Cao vì đặc ân chọn tôi làm phu quân của Người mà tôi không xứng đáng. Tôi xét mình không xứng đáng là bạn đồng hành với Người, nhưng Đấng Toàn Năng có thể nâng kẻ thấp hèn lên khi Chúa muốn, đã tỏ cho tôi thấy lòng thương xót của Ngài. Tôi ước ao và hy vọng, nhờ sự hiểu biết của hiền thê, giúp tôi đền đáp xứng đáng trong việc phụng sự Chúa với trái tim ngay thẳng. Vì thế, xin hãy coi tôi là tôi tớ của Người; do tình yêu đích thực tôi dành cho Người, xin Người bù đắp những thiếu sót của tôi trong việc chu toàn mọi phận sự trong gia đình và các việc khác, mà với tư cách một người chồng xứng đáng, tôi phải biết cách chu toàn; xin bà chủ nói cho tôi biết những gì làm Người vui lòng để tôi có thể chu toàn.”

Nghe những lời này bằng trái tim khiêm tốn và trong sáng, Đức Trinh Nữ Maria đáp lời thánh Giuse: “Thưa chủ nhân của thiếp, thiếp may mắn, vì Thiên Chúa Tối Cao, để xếp đặt cho thiếp cuộc sống này, đã chọn người làm phu quân của thiếp. Thiên Chúa đã cho thiếp bằng chứng hiển nhiên về thánh ý Chúa muốn thiếp phục vụ phu quân. Nhưng nếu phu quân cho phép, thiếp sẽ nói lên những tư tưởng và ý định mà thiếp muốn giãi bầy với người về mục đích này.” Thiên Chúa Tối Cao đã chuẩn bị trái tim trung thành ngay chính của thánh Giuse bằng hồng ân và lại đốt cháy trái tim ngài bằng tình yêu linh thánh qua lời Đức Maria. Thánh Giuse nói: “Xin Bà Chủ hãy nói đi, nô bộc của Người xin nghe.” Dịp này Đức Maria được các thiên thần bảo vệ hiện rõ hình người đứng vây quanh theo Người yêu cầu. Để Đức Trinh Nữ cực trinh trong hành động với ân sủng và công phúc lớn lao hơn, Thiên Chúa đã cho Người cảm thấy lòng kính trọng tôn phục đối với phu quân. Chúa để cho Đức Maria ở trong tình trạng e lệ sợ hãi mà Người luôn luôn cảm thấy khi phải một mình nói chuyện với nam nhân. Ngoại trừ một đôi lần nói chuyện với thầy cả thượng phẩm nơi Đền Thờ, Người chưa khi nào một mình nói chuyện với nam nhân nào khác.

Các thiên thần đứng chung quanh Đức Maria, tham dự cuộc đối thoại này. Được đoàn tùy tùng vinh hiển bảo vệ, Đức Maria nói với thánh Giuse: “Thưa chủ nhân và phu quân của thiếp, điều chính đáng là chúng ta dâng lời chúc tụng vinh danh với tất cả lòng tôn kính lên Thiên Chúa, Đấng tạo dựng chúng ta, Đấng tốt lành vô cùng, những xét đoán của Ngài khôn lường. Đối với chúng ta, những kẻ hết sức khó nghèo, Ngài đã tỏ ra lượng xót thương vô biên khi chọn chúng ta phụng sự Ngài. Thiếp nhìn nhận, giữa mọi thụ tạo, mang ơn, thiếu nợ Thiên Chúa nhiều hơn mọi người khác, và nhiều hơn tất cả mọi người khác cộng lại. Thiếp đã lãnh nhận từ tay rộng lượng của Chúa nhiều hơn họ mặc dù thiếp không xứng đáng. Giữa tuổi thanh xuân, được thúc đẩy bởi sức mạnh chân lý, nhờ hiểu biết những giả trá của các thứ hữu hình do ánh sáng Thiên Chúa soi dẫn, thiếp đã tận hiến cho Thiên Chúa bằng lời khấn hứa giữ thân xác và linh hồn trinh khiết trọn đời. Thiếp là của Thiên Chúa và nhìn nhận Thiên Chúa là Phu Quân, là Chúa của thiếp, với quyết tâm bất khả di dịch giữ Đức Trinh Khiết cho Thiên Chúa. Thiếp xin người, chủ nhân của thiếp, giúp thiếp chu toàn lời khấn nguyện này. Đối với mọi điều khác, thiếp xin là nữ tì hầu hạ người, sẵn lòng làm việc để đem lại phúc lộc đời người bao lâu thiếp còn sống. Thưa phu quân của thiếp, xin người vui lòng chấp nhận quyết định này và cũng lập lời khấn hứa tương tự, để tận hiến chúng ta làm của lễ đáng được Thiên Chúa Toàn Năng chấp nhận. Xin Thiên Chúa chấp nhận chúng ta trong hương thơm ngào ngạt, ban cho chúng ta của cải đời đời mà chúng ta trông chờ.”

Tâm hồn thánh Giuse chan chứa vui mừng do lời hiền thê thiên đàng, vị phu quân tối ư trinh khiết đáp: “Thưa bà chủ của tôi, Người cho tôi biết Đức Trinh Khiết và những tư tưởng đáng hoan nghênh; Người đã xuyên thấu và làm nở trái tim tôi. Tôi chưa giải bầy những tư tưởng của tôi cho Người biết trước khi tôi được biết ý kiến của Người. Tôi cũng nhìn nhận được Thiên Chúa, Đấng Tạo Thành, ban cho nhiều ân huệ hơn bất cứ người nào khác. Ngay từ thiếu thời, Chúa đã gọi tôi bằng ơn soi sáng đích thực để yêu mến Chúa với trái tim ngay thẳng. Tôi ước muốn cho Người biết, thưa Bà Chủ của tôi, khi được mười hai tuổi, tôi đã khấn hứa phụng sự Đấng Tối Cao bằng Đức Trinh Khiết trọn đời. Do việc này bây giờ tôi hoan hỉ phê chuẩn lời khấn hứa này để không làm trở ngại lời khấn hứa của Người; trước thánh nhan Thiên Chúa tôi hứa giúp đỡ Người phụng sự yêu mến Thiên Chúa hết lòng Người ao ước. Nhờ ơn Chúa, tôi sẽ là nô bộc, là bạn đồng hành trung thành của Người, xin Người chấp nhận Tình Yêu Trinh Khiết của tôi, xin coi tôi là Anh Trai của Người, mà không bao giờ chấp nhận một thứ tình yêu nào khác, ngoài tình yêu Người mắc với Chúa, sau Chúa là với tôi.” Trong buổi đối thoại này Thiên Chúa tái củng cố Đức Trinh Khiết nơi trái tim thánh Giuse, và Tình Yêu Tinh Tuyền Thánh Thiện của ngài dành cho hiền thê Maria rất thánh. Thánh Giuse đã có sẵn tình yêu này ở trình độ cao, Đức Trinh Nữ gia tăng tình yêu đó cách dịu dàng, mở rộng trái tim thánh Giuse qua những đối thoại khôn ngoan.

Do ơn Chúa, Cặp Vợ Chồng Trinh Khiết tột đỉnh thánh thiện này hưởng niềm vui và an ủi khôn tả. Công Chúa thiên đàng, Nữ Vương mọi thánh đức, Đấng theo đuổi sự trọn lành tột đỉnh các nhân đức trong mọi sự, yêu mến đáp ứng các điều sở nguyện của thánh Giuse. Thiên Chúa Tối Cao cũng đổi mới Sự Trinh Khiết cho thánh Giuse, ban cho khả năng chế ngự các khuynh hướng tự nhiên, để không một chướng ngại hoặc một dấu vết của khát vọng dục tình nhưng với hồng ân mới đáng ca ngợi, ngài có thể phục vụ Đức Trinh Nữ Maria, và trong Đức Trinh Nữ, hoàn thành thánh ý vui lòng Chúa. Đức Maria và thánh Giuse quyết định tức thời về phân chia gia tài thừa hưởng từ song thân của Đức Trinh Nữ. Các ngài dâng một phần vào đền thờ, nơi Đức Trinh Nữ đã ở, một phần dành cho người nghèo, một phần được trao phó cho thánh Giuse sử dụng tùy theo phán đoán của ngài. Đức Maria chỉ dành riêng cho mình đặc quyền duy nhất là phục vụ thánh Giuse và chăm sóc việc nhà. Đức Trinh Nữ cực khôn ngoan luôn tránh xa các việc trao đổi với người ngoài, điều hành gia sản, hoặc mua bán.

Trong cuộc sống trước kia thánh Giuse đã học nghề thợ mộc, một nghề chính đáng để mưu sinh, nhưng thanh bần. Thánh Giuse hỏi ý kiến Đức Maria có đồng ý để ngài hành nghề thợ mộc mưu sinh và kiếm chút đỉnh phân phát cho người nghèo; cần phải làm việc gì chứ không ở không. Đức Trinh Nữ đồng ý quyết định này, vì Thiên Chúa không muốn các ngài giàu có, nhưng thanh bần, yêu thương người khó nghèo, ước ao giúp đỡ họ với hết khả năng. Từ đó nổi lên cuộc tranh đua thánh thiện: người nào phải tuân phục người kia là bề trên. Nhưng Đức Trinh Nữ, Đấng khiêm nhượng nhất trong những kẻ khiêm nhượng, đã thắng cuộc tranh đua này; vì chồng là đầu gia đình, Người không để cho trật tự tự nhiên này bị đảo lộn. Đức Trinh Nữ ước ao vâng phục thánh Giuse trong mọi sự, chỉ xin ngài cho phép giúp đỡ người nghèo khó, mà nhất định là thánh Giuse vui lòng chấp thuận. 

Về phần thánh Giuse trong những ngày này, được ơn Chúa soi dẫn, học biết ngày càng nhiều đức tính của Đức Trinh Nữ Maria: sự khôn ngoan hiếm có, lòng khiêm nhượng, sự trinh trắng và mọi nhân đức khác đều trội vuợt xa những điều suy nghĩ ước lượng của thánh nhân. Ngài chìm đắm trong sự kính trọng mới chưa hề có, và với niềm vui bao la trong lòng, đã không ngừng ca tụng, tạ ơn Chúa vì đã ban cho người bạn đồng hành và hiền thê trội vuợt trên mọi xứng đáng của mình. Để công cuộc này của Đấng Tối Cao được toàn hảo (vì mới chỉ là phần mở đầu của kỳ công vĩ đại nhất được hoàn thành do quyền phép toàn năng), Thiên Chúa truyền cho Công Chúa thiên đàng, do sự hiện diện và đối thoại, trút vào trái tim phu quân Giuse lòng kính trọng thánh thiện. Hiệu lực này được thực thi trên thánh Giuse do hào quang hoặc phản quang của ánh sáng siêu nhiên và dáng vẻ uy nghi từ gương mặt Đức Maria.

LỜI MẸ MARIA

 Con của Mẹ, trong gương cuộc sống hôn nhân Thiên Chúa Tối Cao đặt Mẹ trong đó, con tìm thấy lời quở trách dành cho các linh hồn, những người này viện dẫn cuộc sống của họ ở trần gian như lời bào chữa cho việc họ không theo đuổi sự trọn lành. Đối với Chúa không điều gì không làm được, không điều gì không thể xảy ra được cho những người có Đức Tin sống động, trông cậy phó thác hoàn toàn cho Chúa quan phòng. Mẹ đã sống trong nhà phu quân cũng với sự trọn lành như trong đền thờ. Trong khi đổi cách sống, Mẹ đã không thay đổi tình cảm, Mẹ cũng không thay đổi lòng ước ao và lo lắng yêu mến phụng sự Chúa. Trái lại Mẹ tăng thêm lòng lo lắng vì sợ bổn phận của một hiền thê có thể cản trở việc phụng sự Chúa. Trường hợp này Chúa ban đặc ân cho Mẹ, an bài và làm cho mọi sự phù hợp với các điều Mẹ ước nguyện cách mãnh liệt. Chúa cũng sẽ làm như thế cho mọi người, nếu họ đáp ứng. Nhưng người ta tự lừa dối mình, đổ lỗi cho tình trạng hôn nhân. Các trở ngại cho cuộc sống thánh thiện trọn lành không ở tình trạng hoàn cảnh, mà là chính những lo âu hão huyền vô ích, họ tự dính líu vào, làm cho họ quên sự ngọt ngào của Chúa mà đi tìm kiếm và ưa thích những thứ theo ý riêng họ.