LỜI MỞ ĐẦU

Lời tác giả, đấng đáng kính (nữ tu) Maria đệ Giêsu thành Agreda:

Để trình bày được rành mạch, chúng tôi xin chia Lịch Sử Cuộc Đời Mẹ Maria làm ba giai đoạn, tám phần.

 Giai đoạn thứ nhất, phần 1-2, về những sự việc trong mười lăm năm đầu cuộc đời Mẹ, mọi việc Đấng Tối Cao thể hiện cho Mẹ từ khi bẩm thai Vô Nhiễm Nguyên Tội cho tới khi Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể nơi lòng trinh khiết Mẹ.

 Giai đoạn thứ hai, phần 3-6, gồm mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, trọn cuộc đời Chúa Cứu Thế, Khổ Hình, Tử Nạn và Thăng Thiên, như thế mô tả cuộc đời Mẹ Maria hợp nhất với cuộc đời Thiên Chúa Con Mẹ và tất cả mọi việc Mẹ thi hành khi sống bên Chúa.

 Giai đoạn thứ ba, phần 7-8, về cuộc đời Mẹ Maria từ khi Chúa Cứu Thế về thiên đàng cho tới giờ phút Mẹ trút hơi thở cuối cùng, được rước cả hồn xác về trời, được đội triều thiên tôn vinh là Nữ Vương Thiên Đàng, nơi Mẹ ngự đời đời là Ái Nữ Thiên Chúa Cha, Hiền Mẫu của Chúa Con và là Hiền Thê của Chúa Thánh Thần.

Năm 1627, tám năm sau ngày tuyên khấn, đức vâng lời đặt trên vai tác giả, lúc đó mới 25 tuổi và mặc dầu bất xứng, chức vụ bề trên từ đó tới nay. Suốt mười năm đầu trong chức vụ bề trên, tác giả nhiều lần được Chúa và Mẹ Maria truyền viết Lịch sử Cuộc Đời Mẹ. Tác giả liên tiếp lo sợ chống lại mệnh lệnh này, cho tới năm 1637 mới bắt đầu viết về Cuộc Đời Mẹ Maria lần thứ nhất. Khi hoàn tất tác phẩm này, vì bối rối lo âu và được một cha giải tội (ngài hướng dẫn tác giả trong thời gian cha linh hướng thường xuyên của tác giả đi vắng) bảo rằng phụ nữ không được viết sách vở gì trong Giáo Hội, tác giả đốt hết những gì đã viết, không phải chỉ có tác phẩm Lịch Sử Cuộc Đời Mẹ Maria mà cả nhiều vấn đề nghiêm trọng và huyền nhiệm khác nữa. Sau đó tác giả bị các bề trên và cha linh hướng quở trách rất nặng và bắt phải viết lại Lịch Sử Cuộc Đời Mẹ Maria. Đấng Tối Cao và Mẹ Maria, cũng nhắc lại lệnh này. Nhờ ơn Chúa tác giả bắt đầu viết lại Lịch Sử này ngày 8 tháng 12 năm 1665, ngày Lễ Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. 

Con thú nhận và tôn vinh Chúa, Đức Vua Tối Cao, rằng trong Sự Uy Nghi đáng chúc tụng của Chúa, Chúa không cho những người khôn ngoan thông thái biết các điều này (Mt.11:25), nhưng đoái thương mạc khải cho con, một nữ tì thấp hèn nhất trong Giáo Hội, ngõ hầu Thiên Chúa Toàn Năng là Tác Giả Lịch Sử này càng được chúc tụng hơn nữa, còn về phần con, công cụ của Chúa, thì hèn hạ chỉ đáng khinh bỉ. 

Tôi đã thấy một dấu lạ vĩ đại và huyền nhiệm trên trời: một Vị Phụ Nữ, Bà Chúa, Nữ Hoàng diễm kiều tuyệt vời, đội triều thiên tinh tú, mặc áo mặt trời, và mặt trăng dưới chân (Kh 12:1). Các thiên thần nói với tác giả: “Đây là Vị Phụ Nữ được chúc phúc, Đấng mà thánh Gioan đã thấy trong Khải Huyền, nơi Người các mầu nhiệm kỳ diệu Ơn Cứu Chuộc được ký thác, tích chứa và giấu kín. Thiên Chúa Toàn Năng yêu thương Thụ Tạo này tột độ đến mức các thiên thần đều hết sức ngỡ ngàng. Hãy chiêm ngưỡng và ca tụng các đặc ân của Người, ghi lại các đặc ân đó thành sách. Đây là mục đích mà các đặc ân đó sẽ được tiết lộ rõ ràng cho con tùy theo mức độ thích hợp với hoàn cảnh của con.” 

Vào một lần khác tác giả thấy một chiếc thang rất đẹp có nhiều bậc, nhiều thiên thần đứng chung quanh và lên xuống thang này. Thiên Chúa nói với tác giả: “Đây là chiếc thang Jacob huyền nhiệm, nhà Thiên Chúa và cửa thiên đàng (Stk 28:17). Nếu con tha thiết phấn đấu sống đẹp lòng Cha, con sẽ lên thang này đến với Cha.” Tác giả đau buồn khi thấy tội lỗi của mình là gánh nặng cho chính mình (Gióp 7:20), và tha thiết trông chờ ngày mãn hạn tù đày, mong tới nơi không còn chướng ngại cho tình yêu của mình. Tác giả đã sống một vài ngày trong tâm trạng này, cố gắng cải đổi cuộc sống, lại xưng tội chung và sửa đổi một số khuyết điểm. 

Thị kiến chiếc thang vẫn tiếp tục không gián đoạn, nhưng tác giả không được giải thích cho hiểu. Tác giả hứa với Chúa: tự nguyện từ bỏ mọi thứ thuộc về trần thế, dồn hết năng lực ý chí chỉ để yêu Chúa, không để cho lòng yêu mến hướng về bất cứ tạo vật nào, cho dù thứ đó hết sức nhỏ bé hoặc không đáng nghi ngờ. Sau khi sống một vài ngày trong tình cảm và tâm nguyện này, tác giả được Thiên Chúa cho biết chiếc thang đó có nghĩa là Cuộc Đời Đức Trinh Mẫu Maria, là các thánh đức và ân sủng của Người. Đấng Tối Cao nói với tác giả: “Con của Cha, Cha muốn con lên thang Jacob, vào qua cửa thiên đàng này để lãnh hội kiến thức từ các đặc tính của Cha và tích lũy cho mình trong việc suy niệm về Thiên Tính của Cha. Con hãy chỗi dậy, bước đi và lên thang đó đến với Cha. Các thiên thần này đây, đứng chung quanh và lên xuống thang này, được Cha chỉ định hộ vệ Đức Hiền Mẫu Maria. Các thiên thần này là đạo quân phòng vệ canh giữ thành thánh Sion. Con hãy chăm chú chiêm ngưỡng Người, chiêm niệm các thánh đức của Người, học hỏi bắt chước các thánh đức đó.” 

Khi đó dường như tác giả lên thang Jacob, nhận ra được những sự lạ lùng vĩ đại, những điều kỳ diệu khôn tả của Chúa nơi Thụ Tạo duy nhất và sự thánh thiện trọn lành thánh đức tột đỉnh từng  được quyền năng Thiên Chúa tạo thành. Tác giả thấy Chúa các thiên thần và Đức Nữ Vương muôn loài nơi đầu thang. Chúa và Mẹ ra lệnh cho tác giả tôn vinh, chúc tụng, ngợi khen Chúa vì những mầu nhiệm cao cả này và bằng trọn khả năng của mình viết hết những điều đó ra. Chúa chuyển động ý chí của tác giả, để trước sự hiện diện của Mẹ Maria và được Người giúp đỡ, tác giả khấn hứa chế ngự tật xấu của mình, và khởi đầu viết Lịch Sử Cuộc Đời Mẹ. 

 Mẹ Maria đáp lại các lời tác giả cam kết: “Con của Mẹ, thế giới rất cần học thuyết này, vì thế giới không biết, cũng không thực hành lòng tôn kính đối với Thiên Chúa Toàn Năng. Đức Công Chính thần linh được kêu nài làm cho nhân loại tỉnh ngộ ra khỏi sự ngu dốt. Nhân loại chìm đắm trong sự hững hờ vong ân bội nghĩa, ngụp lặn trong tối tăm, không biết cách tìm kiếm ơn cứu độ và ánh sáng. Tuy nhiên, đây là số phận của họ, vì nhân loại thiếu lòng tôn thờ kính úy phải có.”   

Thiên Chúa phán bảo tác giả: “Con của Cha, khi Cha gởi Con Một của Cha đến trần gian, ngoài một số ít người phụng thờ Cha, cả thế gian ở trong hoàn cảnh tồi tệ hơn hết kể từ khởi nguyên. Từ thuở tạo dựng và tội lỗi của con người đầu tiên cho tới khi Cha ban Luật cho Maisen, nhân loại, tự nó thống trị lấy mình theo bản năng, đã phạm nhiều sai lầm và tội lỗi (Rom 5:13). Sau khi nhận được Luật, nhân loại lại phạm tội vì không tuân giữ Luật (Gioan 7:19) vì thế chúng tiếp tục sống tách rời khỏi ánh sáng chân lý và đi tới tình trạng hoàn toàn vong ân bội nghĩa. Trong tình thương hiền phụ, Cha đã gởi tới cho nhân loại Ơn Cứu Độ đời đời và thuốc chữa mọi bệnh tật nan y của bản tính loài người, như thế làm sáng tỏ phần Cha. Cũng như khi Cha đã chọn đúng thời điểm để tỏ rõ hơn lòng nhân từ của Cha, bây giờ Cha cũng chọn thời điểm để tỏ cho nhân loại thấy một đặc ân hết sức lớn lao khác nữa.   

Lúc này thế giới đã tới hoàn cảnh bất hạnh tột độ. Mặc dầu Ngôi Lời đã nhập thể, nhân loại càng thờ ơ với hạnh phúc, càng ít tìm kiếm hạnh phúc hơn. Cha muốn mở cửa Thiên Đàng cho người công chính để qua đó họ có thể tìm thấy đường vào tình thương xót của Cha. Cha muốn ban cho nhân loại ánh sáng để xua đuổi bóng tối che khuất con mắt lương tri họ. Cha muốn ban cho nhân loại phương thuốc thích hợp để phục hồi ân sủng Cha. Hạnh phúc cho những ai biết được điều này, phúc thay cho những ai biết được giá trị ân sủng này. Hạnh phúc thay những ai tìm kiếm và hiểu được những điều kỳ diệu huyền nhiệm của Cha. 

Cha muốn cho nhân loại biết lời chuyển cầu của Đức Trinh Vương Maria rất thánh giá trị chừng nào, vì Người là Đấng hồi phục sự sống bằng việc dâng bản tính loài người hay chết lên Thiên Chúa. Cha muốn nhân loại ngắm nhìn những kỳ công do quyền năng Cha thực hiện nơi thụ tạo tinh tuyền này, như nhìn vào tấm gương để từ đó người ta có thể ước lượng được sự vong ân bạc nghĩa của họ. Cha muốn cho nhân loại biết những điều kỳ diệu mà theo thánh ý tối cao của Cha những điều liên quan đến Mẹ Ngôi Lời Thiên Chúa tới nay vẫn còn được giấu kín.” 

 “Cha không tiết lộ những huyền nhiệm này trong Giáo Hội sơ khai, vì những huyền nhiệm này quá sức vĩ đại, đến độ các tín hữu có thể miệt mài chiêm niệm và ca tụng các huyền nhiệm này suốt thời gian khá lâu, trong khi đó việc thiết lập Luật Ân Sủng và Phúc Âm vững chắc thì cần thiết hơn. Mặc dầu mọi mầu nhiệm trong đạo đều phù hợp với nhau cách tuyệt hảo, nhưng vì đức tin vào Ngôi Lời Nhập Thể, Ơn Cứu Chuộc và các giáo huấn của luật Phúc Âm mới vẫn còn trong thời kỳ phôi thai, sự ngu dốt của loài người có thể tác hại ngược lại, hoài nghi tính cách trọng đại của mầu nhiệm này. Vì thế, Ngôi Lời Nhập Thể nói với các môn đệ trong bữa tối sau cùng: “Nhiều điều Thầy cần phải nói cho anh em biết, nhưng anh em chưa sẵn sàng đón nhận” (Gioan 16:12). Chúa Cứu Thế cũng nói lời này với toàn thể nhân loại, vì người ta chưa có thể vâng nghe trọn vẹn luật ân sủng và hoàn toàn tin theo Chúa Con; nhân loại càng được chuẩn bị ít hơn để đón nhận các mầu nhiệm về Mẹ Thiên Chúa. 

Lúc này nhân loại cần đến mạc khải này rõ ràng hơn, điều cần thiết này thúc đẩy Cha bỏ qua khuynh hướng tội lỗi của họ. Bây giờ nhân loại cần phải làm hài lòng Cha bằng việc kính mến, tin tưởng, học hỏi những điều lạ lùng liên quan trực tiếp đến Vị Hiền Mẫu Hay Thương Xót này. Nếu mọi người, từ trái tim họ, xin Người cầu bầu, nhân loại sẽ sớm được cứu giúp. Cha không thể giấu nhân loại Thành Thánh nơi nương náu huyền nhiệm này nữa. Cha cho họ biết về Thành Thánh này, theo mức độ khả năng hạn hẹp của họ. Cha không muốn những điều con mô tả, tuyên xưng, về Cuộc Đời Đức Maria chỉ thuần tư kiến hoặc tư tưởng chiêm niệm, mà phải là sự thực chính xác. Những ai có tai để nghe, hãy nghe. Những ai khát hãy tới mạch nước hằng sống, hãy rời bỏ những thùng chứa khô cạn, những ai tìm kiếm ánh sáng hãy theo đuổi cho tới kết cuộc. Chúa, là Thiên Chúa Toàn Năng, phán truyền như thế!”