ĐỨC MA-RI-A ĐẤNG ĐỒNG CÔNG CỨU CHUỘC TRUNG GIAN MỌI ÂN SỦNG - TRẠNG SƯ CHO DÂN CHÚA


Ngọc Đính CMC Dịch từ nguyên bản Anh ngữ
MARY, COREDEMPTRIX, MEDIATRIX, ADVOCATE :

đó,”46 là “giá cứu chuộc các tội nhân,”47 vì Mẹ là Đấng “đã sinh ra ơn cứu độ cho nhân loại.”48
Như thế trong so sánh giữa E-và với Đức Ma-ri-a, E-và được coi là người đồng phạm (co-peccatrix) vì đã tự ý đưa “dụng cụ sa ngã” là “trái cấm” cho A-đam (x. St 3:6)là người chính phạm. Vì hai vị là nguyên tổ, nên việc sa ngã ấy đã đưa đến việc đánh mất ân sủng của toàn nhân loại.49 Như thế, qua công cụ môi giới của người đồng phạm, mà người chính phạm đã mang đến cái chết cho cả dòng giống nhân loại.50
Đức Ma-ri-a được xưng tụng là Đấng Đồng Công một cách xứng đáng. Bởi vì Đức Ma-ri-a đã tự nguyện dâng hiến “dụng cụ” là “một thân xác nhân loại” cho Chúa Giê-su Ki-tô. Đức Chúa Cha không màng các hi tế theo lề luật cũ, nhưng Người đã chuẩn bị cho Chúa Con một thân xác để làm dụng cụ cứu thế trong luật mới. “Khi Chúa Ki-tô đến trong thế gian, Người nói: ‘Lễ hi sinh và lễ đền tội Cha đã không muốn, nhưng Cha đã dọn sẵn cho Con một thân xác’” (Dt 10:5).
“Chúng ta sẽ được thánh hóa nhờ vào sự dâng hiến thân xác của Chúa Giê-su Ki-tô” (Dt 10:10). Thân xác này chính là dụng cụ cứu chuộc mà Thiên Chúa Cha đã tiền định, và chính Đức Ma-ri-a, Đấng Đồng Công đã tự nguyện hiến cho Đấng Cứu Thế khi Người nhập thể.
Như vậy thật chính xác khi nói rằng E-và là người đồng phạm, còn Đức Ma-ri-a là Đấng Đồng Công.

TÓM LƯỢC

Thiên Chúa Cha đã tuyển chọn Đức Ma-ri-a giữa mọi người nữ để làm Đấng Đồng Công với Chúa Cứu Thế. Sự cộng tác thể lý và tinh thần của Đức Ma-ri-a trong việc hiến dâng cho Đấng Cứu Thế một thân xác đã làm nên sự thông phần vào tận nội tại của công trình cứu chuộc mà không một thụ tạo nào trên trời dưới đất có thể đạt đến. Nguyên việc dâng hiến một thân xác cho Ngôi Lời Nhập Thể để cứu chuộc nhân loại, Đức Ma-ri-a, Người Tớ Nữ Thiên Chúa đã xứng đáng và duy nhất xứng đáng với tước hiệu và danh dự là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc.
Nhưng sự cộng tác của Đức Ma-ri-a trong biến cố Truyền Tin chỉ là khởi điểm của sứ mạng Đồng Công. “Sự liên kết giữa Mẹ và Con trong công cuộc cứu thế được tỏ rõ từ khi Đức Ma-ri-a thụ thai Chúa Ki-tô cách trinh khiết cho đến khi Chúa Ki-tô tử nạn.”51 “Đức Trinh Nữ diễm phúc đã tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến bên thập giá.”52 Chúa Con đã đến thế gian để cứu chuộc mọi dân nước, và đỉnh cao công cuộc cứu thế chính là thập giá núi Can-vê, vì thế đó cũng chính là biến cố mà Mẹ Đồng Công được tiền định để tham dự đồng hành bên Người Con cứu thế.

LUCA 2:35
  1. LỜI TIÊN TRI VỀ ĐẤNG ĐỒNG CÔNG

Đỉnh cao vai trò của Đức Ma-ri-a Đồng Công Cứu Chuộc phát xuất từ những lời Thánh Kinh Tân Ước được linh hứng phát xuất từ môi miệng cụ già Si-mê-on khi Chúa Hài Nhi được hiến dâng trong Đền Thánh (x. Lc 2:25-37).
Cũng chính nhờ quyền năng và sự nâng đỡ của Chúa Thánh Thần (x. Lc 2:26-27), Đức Ma-ri-a đã tiếp nhận sứ điệp Si-mê-on tiên báo về sự thông phần tột điểm trong công cuộc cứu nhân loại.
“Được Thánh Thần linh hứng” (Lc 2:22-27), cụ Si-mê-on đã tiến vào Đền Thánh và ẵm Hài Nhi Cứu Thế. Ông kêu lên: “Lạy Chúa, giờ đây xin hãy để tôi tớ Ngài ra đi trong bình an theo như lời Ngài, vì mắt tôi đã được nhìn xem ơn cứu độ mà Ngài đã dọn sẵn trước mặt muôn dân” (Lc 2:29-31). Những lời đầy ơn linh hứng của tiên tri Si-mê-on nói về Đấng Cứu Thế tương lai phù hợp với ý nghĩa của danh thánh Giê-su: “Thiên Chúa là ơn cứu độ”53 mà Sứ Thần đã nói trước. Sứ mạng cứu thế tương lai của Hài Nhi Giê-su còn được soi tỏ cho bà tiên tri An-na, người đã “tạ ơn Thiên Chúa và nói về Người với tất cả những ai đang ngóng chờ ơn cứu độ cho Giê-ru-sa-lem” (Lc 2:38)
Sau đó, vị tiên tri nói về Người Mẹ Đấng Cứu Thế. “Si-mê-on lại chúc lành cho họ và nói cùng Ma-ri-a Mẹ Người rằng: ‘Đây Con trẻ này là cớ vấp ngã và chỗi dậy của nhiều người trong Ít-ra-en và là mục tiêu cho người ta chống đối’ (Lc 2:34). Quay sang Đức Ma-ri-a, cụ Si-mê-on nói tiên tri rằng: ‘Và một mũi gươm sẽ xuyên thấu tâm hồn Bà’” (Lc 2:34).
Lời tiên báo thương đau cho Mẹ Chúa Cứu Thế nói lên việc Mẹ sẽ thông phần mật thiết vào công cuộc cứu thế bằng một giá đau khổ lớn lao và sẽ đưa Mẹ đồng hành trên con đường vâng phục đức tin kề bên Đấng Cứu Thế. Đức Gio-an Phao-lô II nói: “Lời cụ già Si-mê-on trở thành như một lời truyền tin thứ hai cho Đức Ma-ri-a vì ông chỉ cho Mẹ thấy được chiều kích lịch sử cụ thể nơi Con Mẹ hoàn thành sứ mạng: đó là trong tràn đầy khổ đau và hiểu lầm. Một mặt, lời loan báo này làm cho Mẹ vững tin hơn vào những lời Thiên Chúa hứa về ơn cứu độ, thì mặt khác, lời ấy cũng làm Mẹ biết sẽ phải sống đức tuân phục theo đức tin trong đau khổ sát kề bên Đấng Cứu Thế thống khổ và nhiệm vụ làm Mẹ của Người sẽ là một sứ mạng đầy mầu nhiệm và đau khổ.”54
Đức Ma-ri-a trước đã trông đợi Người Con gia nhập gia đình nhân loại cách vô tì vết qua sự vô nhiễm của Mẹ, thì Mẹ cũng đi trước Con trong đau khổ tiến lên đỉnh cao công trình cứu chuộc trên thập giá. Mẹ Đồng Công từ đời đời đã được Thiên Chúa Cha tiền định55 để hi sinh và đau khổ. Từ khi nhận được lời tiên báo đầy niềm vui nhưng cũng đầy đau khổ (x. Lc 1:28; Lc 2:35), Đức Ma-ri-a hằng trông đợi những đau thương cứu thế của Con trên đỉnh Can-vê ở ngay trong trái tim hiền mẫu của mình. “Chúa Giêsu sẽ đến ngay nơi nào có  Mẹ.” 56  Và vì Con Mẹ đã được tiền định để đau khổ, nên tất nhiên Mẹ cũng phải đi trước, Mẹ luôn luôn đi trước Con trong đau khổ.

GIO-AN 19:26

ĐỈNH CAO SỨ MẠNG ĐỒNG CÔNG CÔNG TRÌNH CỨU ĐỘ

Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa và cũng là Con Đức Ma-ri-a, là Đấng Cứu Độ mọi quốc gia và mọi dân tộc qua những đau khổ tử nạn trên thập giá và cuộc phục sinh của Người. Nhờ hi tế núi Can-vê, Chúa Giê-su đã giải hoà nhân loại với Chúa Cha và cứu thoát chúng ta khỏi ách tội lỗi. “Nơi Người, chúng ta nhờ Máu của Người mà được cứu rỗi và được thứ tha tội lỗi” (Ep 1:7). Chính nhờ hi tế núi Can-vê, “Chúa Ki-tô đã đưa chúng ta ra khỏi lời nguyền rủa của lề luật cũ” (Gl 3:13). “Con Người đến...hiến mạng sống mình làm giá cứu độ cho nhiều người” (Mt 20:28). Và chính trên thập giá “cái chết của Người chuộc lại những lỗi lầm dưới thời Cựu Ước” (Dt 9:15).
Theo ý nghĩa Cựu Ước, từ ngữ “Đấng Cứu Độ” (tiếng Do Thái là “Go'el”) thường bao gồm ý chỉ về một thành viên gia đình, một người thân có trách nhiệm phải chuộc một thành viên khác trong gia đình khỏi một ràng buộc nào đó (x. Lv 25:48; Dr 32:7).57  Việc cứu độ còn bao gồm ý chỉ một tương quan giao ước, ở đây Thiên Chúa là “Đấng Cứu Độ” giải thoát Ít-ra-en dân Người khỏi Ai Cập như lời Người đã hứa: “Ta là Chúa, Ta sẽ đưa các ngươi thoát khỏi ách nặng Ai Cập, và Ta sẽ giải thoát các ngươi khỏi những ràng buộc của họ, Ta sẽ ‘cứu độ’ các ngươi trong vòng tay rộng mở” (Xh 6:6).
Cựu Ước đã tiên báo Đấng Cứu Độ cho nhân loại. Người sẽ là một Đấng-Cứu-Độ-thuộc- gia-đình (family-Redeemer), là Con Đấng Gia-vê, Người sẽ thực hiện “một giao ước mới bằng Máu của Người” (x. Lc 22:19). “Nhờ cái chết (của Người) mà họ đã được cứu độ vì đã thất trung với giao ước đầu tiên” (St 9:15).
Ở đây, một lần nữa chúng ta lại thấy được sự khôn ngoan của Thiên Chúa khi Người tuyển chọn Đức Ma-ri-a Mẹ Đấng Cứu Thế, Nữ Tử Si-on để dự phần mật thiết vào gia đình và trong hành vi giao ước cứu độ.
Vì là Mẹ Đấng Cứu Thế và là “Mẹ của những kẻ sống,”58 bằng liên hệ mẫu tử, Đức Ma-ri-a đã xứng đáng thông phần mật thiết vào việc cứu độ gia đình nhân loại cùng với Con Mẹ là Đấng Cứu Thế. Đức Ma-ri-a, Nữ Tử Si-on, Nữ Tử Ít-ra-en trung thành và vâng phục, đã tham dự sâu xa vào giao ước mới vĩnh cửu giữa Thiên Chúa Cha và Dân Mới của Người. Xét về mặt gia đình cũng như giao ước cứu độ đã được nói đến trong Cựu Ước, Đức Ma-ri-a vừa là Mẹ Đấng Cứu Thế, vừa là Mẹ của những kẻ sống, là Nữ Tử Si-on trung tín xứng đáng tham dự vào trung tâm điểm của hành vi cứu độ Giao Ước Mới.

MẸ ĐỒNG CÔNG TRONG CÔNG TRÌNH  CỨU CHUỘC

“Đứng kề thập giá Chúa Giê-su có Đức Ma-ri-a, và chị Mẹ Ngài là bà Ma-ri-a vợ Cơ-lê-ô-pha, và Ma-ri-a Ma-đa-lê-na. Khi Chúa Giê-su nhìn thấy Mẹ Ngài và môn đệ yêu dấu kề bên, Ngài nói với Mẹ: ‘Hỡi Bà, đây là Con Bà.’ Rồi Ngài nói với môn đệ: ‘Hỡi con, đây là Mẹ Con.’ Và từ giờ đó môn đệ đưa Bà về nhà mình. Sau đó biết rằng mọi sự đã hoàn tất... Ngài kêu lên: ‘Đã hoàn tất,’ và gục đầu xuống trút hơi thở cuối cùng” (Ga 19:26-28, 30).
Danh từ “Bà” đồng hóa Mẹ Chúa Cứu Thế dưới chân thập giá với “Người Nữ” của Miêu Duệ cứu chuộc mà Sáng Thế Ký đã nói đến (x. St 15:3). Đó là Người Nữ sẽ cộng tác với Chúa Cứu Thế trong cuộc chiến thắng Sa-tan và miêu duệ tội lỗi chết chóc của nó. Đức Ma-ri-a, người Nữ Tì của Thiên Chúa trong biến cố Truyền Tin đã kinh qua đau thương tang tóc núi Can-vê. Đó là Người Nữ cùng với Người Nam trong công trình cứu thế. Đó là Người Mẹ, Bà Chúa bên cạnh Con là Đấng Cứu Độ, Chúa của mọi dân tộc.
“Như thế Đức Trinh Nữ đã tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung hiệp nhất với Con cho đến bên thập giá, là nơi mà, theo ý Thiên Chúa, Mẹ đã đứng ở đó” (x. Ga 19:25).Đức Ma-ri-a đã đau đớn chịu khổ cực với Con Một của mình và dự phần vào hi lễ của Con, với tấm lòng của một Người Mẹ hết tình ưng thuận hiến tế hi vật do lòng mình sinh ra. Và cuối cùng chính Chúa Giê-su Ki-tô khi hấp hối trên thập giá đã trối Mẹ làm Mẹ của môn đệ qua lời: ‘Thưa Bà, này là Con Bà’” (x. Ga 19:26-27).59 Bằng những lời thánh thiện này, các nghị phụ Công Đồng đã tổng kết những hoa quả phong phú từ những suy tư cầu nguyện của Giáo Hội gần hai nghìn năm qua về trình thuật Phúc Âm Gio-an 19:26 và mặc khải về sứ mạng Đồng Công mật thiết của Đức Ma-ri-a với Đấng Cứu Thế.

GIÁO HUẤN CÁC ĐỨC THÁNH CHA
VỀ MẸ ĐỒNG CÔNG NÚI CAN-VÊ

“Công việc giải thích xác thực Lời Chúa bằng văn bản hoặc khẩu truyền vẫn chỉ được ủy thác cho chức năng giảng dậy của Giáo Hội.”60 Với trình thuật Gio-an 19:26 sâu sắc ý nghĩa, quyền giáo huấn Giáo Hội đã cung cấp một kho tàng giải thích phong phú và đầy ơn soi sáng làm sáng tỏ mầu nhiệm Đồng Công của Đức Ma-ri-a.
Kiến thức khá sâu xa và đầy đủ về trình thuật Gio-an 19:26 liên quan đến sứ mạng Đồng Công của Đức Ma-ri-a mà Giáo Hội đã giáo huấn chính là kết qủa phong phú của việc đào sâu tìm hiểu những kiến thức mà các thánh giáo phụ đã truyền lại về vai trò của Đức Ma-ri-a trong tư cách E-và Mới, và những cống hiến của các giáo phụ, các tiến sĩ, các nhà thần bí và các thánh, đặc biệt là thánh Bê-na-đô,61 thánh Bô-na-ven-tu-ra,62 thánh An-be-tô Cả,63 và cha Gio-an Tô-lê.64 Các vị này cùng với nhiều văn gia khác của Giáo Hội trong suốt thời Trung Cổ và mãi đến giai đoạn hiện nay65 đã đóng góp rất nhiều cho những giáo huấn của Giáo Hội, theo “mệnh lệnh Chúa truyền và được sự giúp đỡ của Chúa Thánh Linh... luôn chú giải Lời Chúa một cách trung thành.”66 Tất cả những nguồn mạch ấy, chung cũng như riêng, đã đóng góp vào sự hiểu biết về sứ mạng vô song của Đức Ma-ri-a là “Đấng Đồng Công Cứu Chuộc” như Giáo Hội đã dạy.67
Việc giải thích của các Đức Thánh Cha gần đây về trình thuật Gio-an 19:26 liên quan đến việc Đức Ma-ri-a cộng tác mật thiết với Chúa Cứu Thế trong công trình cứu chuộc trên núi Can-vê đã cung cấp một kho tàng quí giá đầy uy tín và kiến thức thần học giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của đoạn Thánh Kinh này đến mức đầy đủ nhất. Việc hợp nhất kết quả giữa sự nhất quán của giáo huấn Giáo Hội và những đóng góp thần học của các cá nhân  trong việc phát triển làm cho những lời tuyên bố của các Đức Thánh Cha trở thành nguồn “giải thích Lời Chúa đích thực”68 liên quan đến sứ mạng Đồng Công của Đức Ma-ri-a dưới chân thập giá.
Trong lời giáo huấn của Đức Lê-ô XIII (1878-1903),69 chúng ta thấy rằng Đức Ma-ri-a trong tinh thần vâng phục đã tự nguyện hiến dâng Người Con hấp hối của mình cho đức công bình Thiên Chúa Cha, khởi điểm là đền thờ và đỉnh cao là thập giá, nơi Mẹ thông phần mật thiết với Chúa Cứu Thế “cùng chết với Chúa trong tâm hồn” một cách đau thương để chuộc tội nhân loại: “Khi Đức Ma-ri-a hiến thân hoàn toàn cho Thiên Chúa cùng với Con Mẹ trong Đền Thờ, Mẹ đã thông phần với Chúa Giê-su trong việc cứu chuộc nhân loại một cách đau đớn. Vì vậy, chắc chắn Mẹ đã đau đớn thẳm sâu trong tâm hồn hợp với những đau thương và những hành khổ cay đắng nhất mà Con Mẹ phải chịu. Sau cùng, Của Lễ thánh Mẹ đã cưu mang và nuôi dưỡng đã hoàn tất ngay trước mắt Mẹ... Chúng ta thấy Mẹ đứng bên cạnh thập giá Chúa Giê-su, Mẹ đã nhận chúng ta làm con trong một phép lạ của tình yêu sẵn lòng hiến dâng Con cho đức công bình của Thiên Chúa, cùng chết với Con trong lòng, tấm lòng đã bị xuyên qua bằng lưỡi gươm đau thương.”70
Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII còn dạy các tín hữu ki-tô rằng vì Đức Ma-ri-a là Đấng Đồng Công trong công trình cứu chuộc nhân loại nên Mẹ cũng chính là Đấng cộng tác mật thiết trong việc phân phát ân sủng: “... Đức Ma-ri-a đã là Đấng cộng tác trong mầu nhiệm cứu độ nhân loại, thành ra Mẹ cũng chính là người cộng tác trong việc phân phát ân sủng mà công trình cứu chuộc đã đem lại.”71 Ở đây, Đức Lê-ô XIII đã nói đến sứ mạng Đồng Công của Đức Ma-ri-a trong hành vi đem lại ơn cứu độ cũng như sứ mạng kế tiếp theo của Mẹ là cùng với Chúa Cứu Thế chuyển ban những ân sủng này cho nhân loại.
Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X (1903-1914) đã minh định giáo lý về sứ mạng Đồng Công của Đức Ma-ri-a đóng góp nhiều điểm cụ thể khác về công trạng của Mẹ Chúa Cứu Thế vì Mẹ đã cộng tác trong công trình cứu chuộc. “Vì đã hiệp nhất trong đau khổ và ý chí với Chúa Ki-tô, Mẹ đã trở thành Người xứng đáng nhất cộng tác để cứu độ thế giới đã hư mất, và vì vậy Mẹ cũng là Người ban phát mọi ân sủng mà Chúa Ki-tô đã mang lại cho chúng ta bằng cuộc tử nạn và Máu Người. Vì Mẹ đã trổi vượt trên tất cả mọi người trong sự thánh thiện và trong mối hiệp nhất với Chúa Ki-tô, và vì Mẹ đã được Chúa Ki-tô tuyển chọn để cộng tác trong công trình cứu chuộc, Mẹ đã đem lại cho chúng ta ân sủng cách tương hợp (de congruo) trong khi Chúa Ki-tô đã đem lại ân sủng cho chúng ta cách tương đáng (de condigno). Mẹ là Đấng ban phát chính yếu các ân sủng.”72
Ngoài những điều về nhiệm vụ phân phát mọi ân sủng của Đức Ma-ri-a (điều này sẽ được nói kỹ trong chương sau), Đức thánh Pi-ô X còn xác định Đức Ma-ri-a là người cộng tác đã được tuyển chọn với Chúa Ki-tô trong công trình cứu chuộc, và vì sự hiệp nhất trong đau khổ và ý chí với Chúa Cứu Thế, Mẹ đã trở thành Người Nữ tái tạo (reparatrix), là Người Nữ đã cùng Chúa Ki-tô tu sửa thế giới hư mất vì tội lỗi.
Thánh Pi-ô X còn xác định rằng vì sự hiệp nhất cá biệt với Chúa Ki-tô trong đau khổ và ý chí cứu độ, Mẹ đã đem lại ơn sủng cho nhân loại cách tương hợp (de congruo), trong khi Chúa Ki-tô đã đem lại cho chúng ta ân sủng cách tương đáng (de condigno).
Nhân loại “được công chính hóa nhờ ân sủng cứu chuộc của Chúa Giê-su Ki-tô” (Rm 3: 24). Chỉ có Thiên-Chúa-Làm-Người mới có thể đem lại những ân sủng cần thiết cứu độ thế giới theo đức công bình vì sự tương đáng giữa những hi sinh công trạng của Người trên thánh giá và phần phúc ân sủng cứu độ.73 Nhưng Chúa Cha quảng đại đã ân thưởng cách xứng đáng cho Người Mẹ ưu tuyển của Đấng Cứu Thế, Người đã cộng tác và đau khổ với Chúa Cứu Thế trong công trình cứu độ.74 “Vì Người sẽ trả công cho ai nấy tùy theo công việc của họ” (Rm 2:6). Thánh Pi-ô X75 đã dạy rằng sự nghiệp của Người Nữ cùng với Người Con Cứu Thế đã đem lại những ân sủng cho đoàn con lưu đầy, ít nhất là theo cách tương hợp76 theo lòng nhân từ” (Ep 2:4).
Đức Bê-nê-đíc-tô XV (1914-1922) không chỉ xác quyết giáo lý về sứ mạng Đồng Công của Đức Ma-ri-a mà các vị tiền nhiệm đã giáo huấn, mà còn minh họa chân lý Thánh Mẫu này một các rõ ràng hơn nữa. Ngài nói: “Đức Ma-ri-a đã cùng với Người Con tử giá vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha đến mức Mẹ đã đau khổ hầu như chết cùng với Người Con tử nạn, đến mức Mẹ đã từ bỏ hoàn toàn những quyền lợi của Người Mẹ trên Người Con cứu thế và dâng hiến Con như một của lễ để làm nguôi đức công bình Thiên Chúa Cha. Như thế, đương nhiên chúng ta có thể nói rằng Mẹ đã cùng với Chúa Ki-tô cứu chuộc nhân loại.”77
Đức Ma-ri-a đã góp phần vô cùng lớn lao vào giá chuộc nhân thế (x. Mt 20:28) cùng với Người Con Cứu Thế đến mức độ hầu như chết được. Đây là ơn gọi đặc tuyển của Mẹ Đồng Công với Chúa Cứu Thế theo quan hệ mẫu tử và mối hiệp nhất với “Hi Tế Thánh” đem lại ơn cứu độ cho nhân loại. Vì “... không phải là máu dê và máu chiên bò, nhưng chính là Máu Đức Ki-tô đã bảo đảm ơn cứu độ muôn đời” (Dt 9:13). Chúa Ki-tô chính là Hi Tế của Giao Ước Mới được dâng hiến vì phần rỗi chúng ta. Còn Đức Ma-ri-a, Mẹ của Hi Tế Thánh đã vâng phục hiến dâng Con lên Thiên Chúa Cha cùng với mọi quyền lợi mẫu tử thiêng liêng trên bình diện ân sủng và tự nhiên trong mối liên hệ mẫu tử để thực hiện sứ mạng cộng tác với Chúa Ki-tô hầu làm nguôi đức công bình vô cùng của Thiên Chúa Cha (x. 1Cr 1:30). Với tư cách Người Mẹ,78 Đức Ma-ri-a đã tình nguyện và vâng phục dâng hiến Chúa Ki-tô lên Thiên Chúa Cha trên trời để đem lại ơn cứu độ cho mọi con cái nam nữ của Mẹ (x. Ga 19:26).
Đức Giáo Hoàng Pi-ô XI (1922-1939) đã góp thêm những lời dạy phong phú vào Huấn Quyền Giáo Hội (Magisterium) về giáo lý Đức Ma-ri-a Đồng Công. Ngài nhiều lần xưng tụng Đức Ma-ri-a với tước hiệu “Coredemptrix,” Đấng Đồng Công Cứu Chuộc và kêu xin Mẹ Đồng Công, Đấng đã cùng đau khổ với Chúa Cứu Thế gìn giữ mọi người trong những hoa quả thiêng liêng mà đau khổ của Chúa và Mẹ đã đem lại. Ngài nói: “Ôi lạy Mẹ Tình Yêu nhân ái, khi Người Con dấu yêu nhất của Mẹ hoàn tất công trình cứu độ nhân loại trên bàn thờ thập giá, Mẹ đã đứng kề bên Chúa và Đồng Công đau khổ với Người... Xin Mẹ gìn giữ chúng con, chúng con van nài Mẹ hãy gia tăng từng ngày hoa quả qúi báu của công ơn Cứu Chuộc của Chúa và Đồng Công của Mẹ cho chúng con.”79
Đức Pi-ô XI còn tuyên bố: “Mẹ đã sinh ra Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế, đã nuôi dưỡng Người và đã hiến dâng Người như Hi Lễ trên thập giá, và do ơn đặc tuyển Chúa ban, Mẹ đã trở thành Đấng Đồng Công chuộc tội nhân loại ....”80 Những lời lặp đi lặp lại của Đức Thánh Cha Pi-ô XI đã làm sáng tỏ công trạng của việc Mẹ dâng hiến Chúa Giê-su là của lễ, là giá chuộc tội cho chúng ta (1Cr 6:20). Đức Pi-ô XI còn nhắc đến ân sủng Đức Ma-ri-a đã được tiếp nhận từ Chúa Cứu Thế, trở thành Người Nữ Đồng Công bên A-đam Mới. Mẹ đã tiếp nhận ân sủng cá biệt được cộng tác với Đấng Cứu Thế, Người mà Mẹ luôn luôn tùng phục và lệ thuộc.81
Đức Pi-ô XI còn xác nhận tính cách chính đáng của việc cầu khẩn cùng Đức Ma-ri-a dưới tước hiệu Đồng Công: “Vì bản chất của công trình cứu độ, Đấng Cứu Thế đã cho Mẹ được cùng cộng tác với Người. Vì thế, chúng ta hãy kêu cầu Mẹ với tước hiệu Đồng Công Cứu Chuộc. Mẹ đã ban cho chúng ta Đấng Cứu Độ; Mẹ đã đồng hành sát bên Chúa đến bên thập giá; chia sẻ với Chúa trong mọi nỗi thống khổ và cả cái chết mà Chúa đã chấp nhận để cứu chuộc nhân loại. Trên thập giá, trong những giây phút cuối đời, Chúa Cứu Thế đã tuyên bố Mẹ Người cũng là Mẹ chúng ta, Mẹ của toàn thể vũ trụ.”82
Đức Pi-ô XII (1939-1958) lại tiếp tục làm phong phú hơn nữa giáo huấn các Giáo Hoàng về vai trò Đồng Công của Đức Ma-ri-a trên đồi Can-vê. Ngài đã tổng hợp một cách sâu sắc những kiến thức về Đức Ma-ri-a của các giáo phụ về E-và Mới với tột đỉnh sứ mạng Đồng Công của Mẹ dưới chân thập giá: “Đức Ma-ri-a, Người luôn gắn bó mật thiết với Con mình như một E-và Mới. Trên đỉnh Gôn-gô-ta, Mẹ đã hiến dâng Con lên Chúa Cha hằng hữu, hợp nhất với hi sinh, những quyền lợi và tình yêu mẫu tử, nhân danh toàn thể con cháu A-đam đã ra nhơ bẩn vì sa ngã.”83
E-và Mới đã thông phần mật thiết vào đau khổ với A-đam Mới trong hi tế cứu độ núi Can-vê, đỉnh cao của công trình cứu chuộc cho con cháu A-đam. E-và Mới đã làm trọn vai trò Đồng Công trên đỉnh Can-vê, đã đau khổ với Chúa Cứu Thế bằng Trái Tim Hiền Mẫu, đã hiến dâng những đau thương cay đắng của Con làm một với đau thương của riêng mình để trở nên “nguyên nhân ơn cứu độ cho chính mình và toàn thể nhân loại.”84 “Cái chết đã đến qua E-và thế nào thì sự sống cũng đến qua Đức Ma-ri-a như vậy.”85
Nơi khác, Đức Pi-ô XII còn nói: “Chúa Ki-tô và Đức Ma-ri-a không phải là hai nguồn tình yêu thánh thiện của mọi ki-tô hữu hay sao? Chúa và Mẹ không phải là A-đam Mới và E-và Mới mà thập giá đã liên kết lại trong đau thương và tình yêu để đền bù tội lỗi của Nguyên Tổ chúng ta trong vườn Địa Đàng hay sao?”86 Đức Pi-ô XII đã cụ thể hóa sứ mạng của Đức Ma-ri-a, E-và Mới dưới chân “thập giá” (x. Ga 19:26) để đền tội nhân loại. Sự cộng tác thánh thiện giữa Đấng Cứu Thế và Đấng Đồng Công trong mầu nhiệm cứu độ đã được Đức Pi-ô XII xác quyết: “Vì đã cộng tác với Vua các đấng tử đạo trong công trình cứu độ nhân loại trong tư cách là Mẹ và là Đấng Đồng Công, Mẹ Ma-ri-a sẽ mãi mãi cộng tác với Chúa bằng một quyền hạn hầu như vô cùng trong việc phân phát những ân sủng mà công trình cứu độ đã đem lại.”87
Công Đồng Va-ti-ca-nô II dưới triều đại Đức Gio-an XXIII (1958-1962) và Đức Phao-lô VI (1963-1978) đã đưa ra những lời xác quyết và làm cho giáo huấn thường xuyên của các Đức Thánh Cha về sứ mạng Đồng Công của Đức Ma-ri-a thêm mạnh mẽ: “Đức Ma-ri-a đã tận hiến làm tôi tớ Chúa, phục vụ cho ngôi vị và sự nghiệp của Con Mẹ, và nhờ ân sủng của Thiên Chúa Toàn Năng, phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc dưới quyền và cùng với Con của Mẹ... Sự liên kết giữa Mẹ và Con trong công cuộc cứu rỗi được tỏ rõ từ khi Đức Ma-ri-a thụ thai Chúa Ki-tô cách trinh khiết cho đến khi Ngài tử nạn.”88
Trong lời xác nhận cách giải thích trình thuật Gio-an 19:26 của các Đức Giáo Hoàng,89 thánh Công Đồng Va-ti-ca-nô II cũng nói rõ về sứ mạng Đức Ma-ri-a Đồng Công cộng khổ và cùng tận hiến với Chúa Cứu Thế dưới chân thập giá trong số 58, hiến chế Tín Lý Giáo Hội: “Đức Ma-ri-a đã trung thành hiệp nhất với Con cho đến bên thập giá, là nơi mà theo ý Thiên Chúa, Mẹ đã đứng ở đó.”90 Sự Đồng Công cộng khổ của Đức Ma-ri-a trên đồi Can-vê là một sự vâng phục phù hợp với thánh ý Chúa, vì Chúa muốn có một E-và Mới bên cạnh A-đam Mới.
Cũng trong số 58 của hiến chế Tín Lý Giáo Hội, thánh Công Đồng còn dạy rằng: “Đức Ma-ri-a đã đau đớn chịu khổ cực với Con Một của mình, và dự phần vào hi lễ của Con.” Đấng Đồng Công đã đau khổ cùng với Chúa Cứu Thế đến mức độ hầu như chết91 để làm giá cứu độ nhân loại (x. Mt 10:45). Mẹ đã “dự phần vào hi tế của Con với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế Hi Vật do lòng mình sinh ra.” Lời dạy của thánh Công Đồng làm vang lại những lời giáo huấn của Đức Bê-nê-đíc-tô XV92 và Đức Pi-ô XII93 đã nói về Đức Ma-ri-a khi Mẹ thông phần sâu xa vào hi lễ cứu độ trên đồi Can-vê. Vì là một người mẹ, Đức Ma-ri-a đã dâng Con làm Tế Vật hầu khuây nguôi đức công bình Thiên Chúa Cha.
“Sau cùng, Chúa Giê-su trong giây phút tử nạn trên thập giá đã trối Mẹ lại cho người môn đệ: ‘Hỡi Bà, đây là con Bà’ (Ga 19:26-27). Những lời sau cùng của Chúa Giê-su lúc hấp hối nói với ‘Người Nữ’ đã công bố sự đau đớn Đồng Công của Mẹ trên núi Can-vê và hoa quả của cao điểm sự cộng tác với Ngài. Đấng Đồng Công ‘đã chia sẻ những đau khổ của Con mình khi Con chết trên thập giá....’ Bằng một cách thế hoàn toàn cá biệt, Mẹ ‘đã cộng tác trong công trình của Chúa Cứu Thế để lấy lại sự sống siêu nhiên cho các linh hồn bằng niềm vâng phục, đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt,’ Mẹ đã đáng được Chúa Cứu Thế thưởng công trước khi bỏ thập giá mà về với Cha, để trở thành Mẹ Ân Sủng.”94

 

ĐỨC GIO-AN  PHAO-LÔ II
VÀ TRÌNH THUẬT GIO-AN 19: 26 VỀ
“MẸ ĐỒNG CÔNG”

Một cách cương quyết và dũng cảm, Đức Gio-an Phao-lô II đã làm cho giáo huấn thường quyền về sứ mạng và giáo lý Mẹ Đồng Công95 trở thành thời sự.
“Nhiều đau khổ lớn lao đã dồn dập và liên tục đến với Mẹ. Đó không chỉ là một bằng chứng cho thấy đức tin không lay chuyển của Mẹ; mà còn là một cống hiến vào công trình cứu độ tất cả chúng ta... Trên đỉnh đồi Can-vê, cùng với đau khổ của Chúa Giê-su, những đau khổ của Đức Ma-ri-a đã lên đến cùng cực, đến nỗi đầu óc nhân loại hầu như không thể tưởng tượng được, nhưng đó lại là những đau khổ mầu nhiệm siêu nhiên và đem lại ơn cứu độ cho thế gian. Việc Mẹ cùng lên đồi Can-vê và đứng kề thánh giá với người môn đệ Chúa yêu là một sự thông phần đặc biệt vào cái chết cứu thế của Con Mẹ.”96
Đức Thánh Cha đã làm nổi bật những đau khổ của Mẹ Ma-ri-a trên đồi Can-vê: “Những đau khổ ấy đã tới mức độ cùng cực đến nỗi đầu óc loài người không thể tưởng tượng được.” Những đau khổ ấy thực sự vô cùng hiệu quả và đem lại ân sủng cứu độ chúng ta. Mẹ Đồng Công đã “thông phần” cái chết cứu thế của Chúa Giê-su.
Ở một nơi khác, Đức Gio-an Phao-lô II còn nói: “Là nhân chứng trước đau khổ của Con mình, Mẹ cũng là người thông phần vào đau khổ ấy. Đức Ma-ri-a đã hiến dâng phần cộng tác cá biệt vào Phúc Âm đau khổ bằng cách đồng hóa, theo cách diễn tả của thánh Phao-lô Tông Đồ, ... Mẹ có một tước hiệu đặc biệt vì có thể nói rằng: Mẹ ‘đã làm trọn vẹn trong thân xác - cũng như trong Trái Tim Mẹ - những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Ki-tô.’”97
Những lời của Đức Gioan II là một trình bày quan trọng về trình thuật Gio-an 19:26 và về sự thông phần sâu xa của Mẹ Đồng Công vào đau khổ núi Can-vê. Mẹ đã chứng kiến đau thương của Chúa Ki-tô và cùng thông phần đau khổ với Người. Mẹ không chỉ đau khổ trong Trái Tim Hiền Mẫu mà còn trong thân xác. Mẹ đã thực hiện trước - theo cách diễn tả của thánh Phao-lô Tông Đồ - Mẹ “thực sự có một tước hiệu đặc biệt, vì có thể nói rằng Mẹ đã ‘làm trọn trong thân xác mình, cũng như trong Trái Tim, những gì còn thiếu trong cuộc tử nạn của Đức Ki-tô’” (x. Cl 1:24).”
Bà Chúa (Domina) đã chia sẻ đau thương tinh thần và thể xác với Đức Chúa (Dominus) trên núi Can-vê để cứu chuộc nhân loại. Đức Thánh Cha còn nói rõ thêm về sự từ bỏ hoàn toàn mang tính chất Đồng Công của Đức Ma-ri-a trên núi Can-vê: “Trên cây gỗ thập giá, Con Mẹ bị treo lên trong đớn đau ê chề vì bị con người kết án....” Vĩ đại thay, anh hùng thay, đức tin vâng phục của Đức Ma-ri-a trước mặt Thiên Chúa vô cùng công bằng! Mẹ đã từ bỏ mình hoàn toàn, không trừu lại một chút gì, Mẹ đã dâng hiến trọn tâm trí lên Chúa là Đấng có những “đường lối không thể dò thấu” (Rm 11:33)! Mạnh mẽ thay tác động ân sủng trong tâm hồn Mẹ, toàn diện trong ánh sáng, sức mạnh và ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần!”98 
Đoạn văn trên được trích dẫn từ tông thư Mẹ Đấng Cứu Thế (Redemptoris Mater). Đức Gio-an Phao-lô II đã công nhận vai trò Chúa Thánh Linh, Thánh Quân của Đức Ma-ri-a, Đấng hằng ban ân sủng và sức mạnh để phù trợ Mẹ trong sứ mạng Đồng Công. Nhờ ân sủng và quyền năng Chúa Thánh Thần, Đức Ma-ri-a đã được thụ thai vô nhiễm (x. St 3:15; Lc 1:38) để rồi có thể ban tặng Chúa Cứu Thế một bản tính nhân loại trinh khiết. Khi cưu mang Chúa Cứu Thế do quyền năng Chúa Thánh Thần (x. Lc 1: 35), Mẹ đã được sung mãn tràn đầy. Và cao điểm của sứ mạng Đồng Công với mũi gươm xuyên thấu tâm hồn Mẹ cũng đã được tiên báo (x. Lc 2: 35) do quyền năng tiên tri của Thánh Thần Chân Lý (x. Lc 2:26-27).
Dưới chân thập giá, “ánh sáng và sức mạnh Chúa Thánh Linh” đã bao phủ tâm hồn, nâng đỡ và kiện toàn Đức Trinh Nữ sầu khổ bằng ân sủng để Người có thể vâng theo thánh ý Chúa và Đồng Công với Chúa Cứu Thế.
Đức Gio-an Phao-lô II đã áp dụng bài ca Tự Hủy (Kenosis) về việc Chúa Ki-tô hủy mình trong thư gửi giáo đoàn Phi-líp-phê 2:5-11 để diễn tả sự “hủy mình” trên đồi Can-vê của Mẹ là sự từ bỏ có tinh thần đức tin sâu xa nhất trong lịch sử nhân loại: “Với đức tin này, Đức Ma-ri-a đã được liên kết hoàn toàn với Đức Ki-tô trong sự tự hủy của Chúa.” Vì Chúa Ki-tô, “Người vốn là Thiên Chúa nhưng không đặt mình ngang hàng với Thiên Chúa nhưng đã hủy mình, mặc lấy thân phận một người tôi tớ để được sinh ra như người thường, Người đã hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, và chết trên thập giá” (x. Pl 2:5-8). Dưới chân thập giá, Đức Ma-ri-a đã được thông phần vào mầu nhiệm tự hủy choáng ngợp này bằng đức tin. Đây là sự từ bỏ tràn đầy tinh thần đức tin sâu xa nhất trong lịch sử nhân loại. Qua đức tin, Mẹ đã thông phần vào cái chết cứu độ của Con Mẹ.”99
Đức Gio-an Phao-lô II còn nói đến việc “tử nạn mầu nhiệm” của Đức Ma-ri-a trên đồi Can-vê: “Mẹ đã bị đóng đinh một cách mầu nhiệm cùng với Người Con tử nạn” (x. Gl 2:20). Mẹ đã chiêm ngưỡng cái chết của Con Chúa Trời bằng một tình yêu anh hùng, Mẹ bằng lòng dâng tế của lễ mà chính Mẹ đã sinh ra” (LG 58). Mẹ đã chu toàn thánh ý Thiên Chúa Cha và đón nhận tất cả chúng ta làm con Mẹ theo lời trối của Chúa Ki-tô: “Này Bà, đây là con Bà” (Ga 19: 26).100
Dưới chân thập giá, Người Nữ đã chịu “đóng đinh mầu nhiệm.” Vì thông phần đau khổ vô cùng mật thiết với Chúa Cứu Thế trên đồi Can-vê, Mẹ Đồng Công đã được ban thưởng một ân sủng trọn vẹn là làm Mẹ thiêng liêng của Dân Chúa, những người “Mẹ đã cùng Chúa Ki-tô cứu chuộc.”101
Tiếp nối sự kiện núi Can-vê, vai trò Đồng Công của Đức Ma-ri-a lại được thể hiện qua nhiệm vụ “Trung Gian”102 và “Trạng Sư103 cho Dân Chúa như Đức Gio-an Phao-lô II đề cập đến khi ngài tuyên bố: “Sứ mạng Đồng Công của Đức Ma-ri-a không hề chấm dứt khi Mẹ được vinh quang cùng với Chúa Giê-su Con Mẹ.”104

TÓM LƯỢC
Đức Ma-ri-a, Người Nữ khiêm hạ đã được Thiên Chúa Cha ưu tuyển, được Chúa Thánh Thần hằng nâng đỡ trong sứ mạng quan phòng để cộng tác trong tư cách là Đấng Đồng Công - Coredemptrix - với Chúa Cứu Thế (tiền tố "co” không mang ý nghĩa "ngang bằng” nhưng mang ý nghĩa "cùng với”).  Ngay trong Cựu Ước, Mẹ đã được tiên báo là Đấng Đồng Công (x. St 3:15; Is 7:14), và Mẹ đã thực sự thể hiện sứ mạng ấy trong tinh thần vâng phục tự tình trong biến cố Truyền Tin (x. Lc 1:28). Đỉnh cao sứ mạng Đồng Công của Mẹ đã được tiên báo qua lời cụ già Si-mê-on được Chúa Thánh Thần soi sáng tại đền thờ Giê-ru-sa-lem (x. Lc 2:35). Và Mẹ Ma-ri-a, người trinh nữ làng Na-da-rét, đã thực thi sứ mạng Đồng Công đến mức độ tột đỉnh qua việc mật thiết thông phần vào đau khổ lớn lao của Chúa Cứu Thế dưới chân thập giá (x. Ga 19:26).
Như để ban thưởng việc Mẹ đã Đồng Công với Chúa Cứu Thế trong công trình cứu độ nhân loại, Mẹ cũng được trở thành Đấng Trung Gian và Trạng Sư cầu bầu mọi ơn cho con cái Mẹ. Đức Gio-an Phao-lô II đã kết luận: “Nhiệm vụ của Đức Ma-ri-a không hề chấm dứt khi Mẹ được vinh quang cùng với Chúa Giê-su Con Mẹ.”105
Chúng tôi xin chấm dứt chương này bằng bài thánh ca hát về Đức Ma-ri-a Đồng Công Cứu Chuộc  đã có trong phụng vụ từ thế kỷ XIV:
Ôi Mẹ yêu thương dịu dàng, nhân ái,
Mẹ lẽ ra không phải chịu một khổ đau nào,
Nhưng Mẹ đã chọn đau thương,
Cùng đau khổ với Chúa Cứu Thế
Để cứu chúng con tội lỗi.
Thực Mẹ là Mẹ Đồng Công của chúng con.106

 

CHƯƠNG II
ĐỨC MA-RI-A TRUNG GIAN                  
CỦA CHÚA  KI-TÔ TRUNG GIAN
VÀ CỦA CHÚA THÁNH THẦN


Do sứ mạng Đồng Công dưới chân thập giá (x. Ga 19:26), Mẹ đã được Chúa Con ban tặng ân sủng quí trọng là làm Đấng Trung Gian107 cho Dân Chúa, họ là “những anh em của Chúa, những người vẫn đang lữ hành trong muôn vàn nguy hiểm khó khăn cho đến khi được dẫn về quê vinh phúc.”108 Công Đồng Va-ti-ca-nô II dạy rằng sau khi Người Nữ bên cây thập giá được đưa về trời, “Người vẫn không ngừng nhiệm vụ cộng tác của mình, nhưng bằng sự can thiệp vạn năng, Người vẫn tiếp tục đem đến cho chúng ta những ân sủng cứu độ muôn đời.”109

TRÌNH THUẬT 1 TI-MÔ-THÊ 2:5
VỀ SỰ THÔNG PHẦN VÀO CHỨC VỤ
TRUNG GIAN CỦA CHÚA KI-TÔ
Giáo Hội Chúa Ki-tô đã mượn lời thánh Phao-lô công bố rõ ràng rằng: “Chỉ có một Thiên Chúa và chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, đó là Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng đã hiến mình làm giá chuộc cho tất cả” (1Tm 2:5-6).110 Chúa Giê-su Ki-tô - là Thiên Chúa thật và là người thật - chính là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại.
Theo nghĩa Thánh Kinh, “người trung gian” (tiếng Hi Lạp là mesites) là người làm môi giới với mục đích hòa giải và hợp nhất giữa hai đối tượng.111 Trong Thánh Kinh, những người trung gian được chọn và được sai đi với mục đích liên kết và hòa giải con người với Thiên Chúa, vì không phải lúc nào con người cũng trung thành với giao ước tình yêu Thiên Chúa.
Cựu Ước đã cho thấy nhiều điển tích về những người được Thiên Chúa chọn làm trung gian, làm dụng cụ liên kết giữa Đấng Gia-vê và dân Ít-ra-en. Các tổ phụ, bắt đầu từ Áp-ra-ham, đã được Thiên Chúa kén chọn để khởi đầu quan hệ giữa Người và dân tộc kén chọn (x. St 12:2; St 15:18). Môi-sen có lẽ là vị trung gian vĩ đại nhất trong Cựu Ước, làm “trung gian” (Gl 3:19) để nối kết con dân Ít-ra-en với Đấng Gia-vê trong giao ước xuất hành vĩ đại (x. Xh 3-40; Xh 24:8). Thiên Chúa cũng đã kén chọn nhiều vị tiên tri. Thánh Thần Chân Lý ban cho họ những ơn soi sáng thiêng liêng để thực hiện vai trò trung gian liên kết giữa dân Ít-ra-en với Thiên Chúa, vì dân tộc này thường thất trung với giao ước của Người (x. Is 1; Dr 2; Ed 2). Các sứ thần trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước cũng đã thể hiện vai trò làm trung gian giữa Thiên Chúa và những người có lòng tin. Các ngài là những hữu thể thiêng liêng thực hiện vai trò sứ giả của Đấng Toàn Năng cho dân tộc Người (x. St 3:24; Lc 1:26; Gl 3:19).
“Bằng nhiều phương thế và thời gian khác nhau, Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta... nhưng trong những ngày sau hết này, Người đã nói với chúng ta qua Người Con, Đấng mà Người đã đặt làm thừa tự của tất cả” (Dt 1:1-2). Trong Tân Ước, Chúa Giê-su Ki-tô là Trung Gian giao ước mới, “những ai được Người mời gọi đều có thể lãnh nhận phần phúc đời đời Người đã hứa ban, vì Người đã chết để cứu chuộc họ khỏi những lầm lỗi dưới thời giao ước cũ” (Dt 9:15). Chúa Giê-su Ki-tô là Trung Gian giữa Thiên Chúa và nhân loại trong giao ước bằng Máu của Người, một giao ước mới mẻ và vĩnh cửu (x. Lc 22:20).
Sứ mạng Trung Gian duy nhất của Chúa Giê-su Ki-tô trong Thần Tính và Nhân Tính hoàn hảo của Người cũng cho phép những người khác được thông phần và chia sẻ vào nguồn mạch Trung Gian duy nhất này.112 Công Đồng Va-ti-ca-nô II dạy rằng: “Không bao giờ có thể đặt một thụ tạo nào ngang hàng với Ngôi Lời Nhập Thể và Cứu Chuộc, nhưng cũng như chức linh mục của Chúa Ki-tô được thông ban dưới nhiều hình thức cho các thừa tác viên và giáo dân và cũng như sự tốt lành duy nhất của Thiên Chúa được ban phát nhiều cách cho các thụ tạo, thì sự Trung Gian duy nhất của Chúa Cứu Thế không những không loại bỏ mà còn khuyến khích các thụ tạo cộng tác trong sự tùy thuộc vào nguồn mạch duy nhất.”113
Như vậy, theo thánh Công Đồng, sự Trung Gian duy nhất của Chúa Ki-tô là một sự Trung Gian có thể chia sẻ, chẳng hạn như chức linh mục của Người (bằng nhiều cách thế khác nhau cho các thừa tác viên có chức thánh, hoặc cho các tín hữu). Điều này không hề làm suy giảm sứ mạng Trung Gian duy nhất của Chúa Ki-tô, “Vị Thượng Tế” Tối Cao (x. Dt 3:11; 4:14; 5:10) nhưng càng tỏ ra quyền năng và vinh quang của vị Thượng Tế duy nhất. Vì mọi lời ca tụng và công trạng mà chức linh-mục-tùy-thuộc (secondary priesthood) với các hình thức khác nhau đều hoàn toàn lệ thuộc và qui về Nguồn Mạch Thượng Tế duy nhất.114 Sự tốt lành của Thiên Chúa không hề bị giảm sút nhưng càng được tán dương vì được biểu hiện phong phú nơi các thụ tạo và càng thêm lý do để mọi thụ tạo ca tụng Đấng Tạo Hóa, nguồn mạch thánh thiện của mọi sự tốt lành.115
Một ví dụ khác nữa về cách thế Thiên Chúa kêu gọi mỗi người thông phần vào sứ mạng Trung Gian duy nhất của Chúa Ki-tô chính là đời sống ân sủng “được làm con Chúa” (1Ga 3:1) trong Người Con duy nhất. “Ai ở trong Chúa Ki-tô, người ấy là một thụ tạo mới” (2Cr 5:17). Vì được chia sẻ địa vị làm con như Chúa Ki-tô, chúng ta cũng trở thành những người được thông phần vào đời sống ân sủng như những người con Thiên Chúa. “Hãy xem tình yêu Thiên Chúa Cha đã ban cho chúng ta, đến nỗi chúng ta được gọi là con Thiên Chúa” (1Ga 3:1), và chúng ta được trở thành con Thiên Chúa trong đức tin nhờ quyền năng của Người Con duy nhất. “Những ai tiếp nhận Người, tin vào danh Người, Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa” (Ga 1:12).
Đời sống ân sủng ki-tô hữu là sự thông phần thật sự vào Chúa Ki-tô và vào Thần Tính của Người. “Không phải là tôi sống, nhưng là Chúa Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2:20).Sự thông phần vào đời sống vị Trung Gian duy nhất là trở thành “những người thông phần vào Thần Tính của Chúa” (2Pt 1:4).116 Việc thông phần khiêm tốn của chúng ta vào đời sống Chúa Ki-tô, Đấng Trung Gian duy nhất, chắc chắn không hề làm giảm bớt Thiên Tính cũng như địa vị làm Con của Người, nhưng càng tỏ rõ hơn nữa quyền năng và vinh quang của Người qua các thụ tạo, bởi vì chúng ta trở thành những nhân chứng sống động “cho Chúa Ki-tô là tất cả và trong tất cả” (Cl 3:11).

SỰ THÔNG PHẦN CÁ BIỆT CỦA
   ĐỨC MA-RI-A VÀO SỨ MẠNG TRUNG GIAN
DUY NHẤT CỦA CHÚA KI-TÔ  
Theo cách hiểu về việc được thông phần đặc biệt vào sứ vụ Trung Gian mà Chúa Cha đã ban cho Chúa Ki-tô (x. 1Ga 3:1) vừa được đề cập trên đây, Giáo Hội Công Giáo có thể trình bày về Đức Ma-ri-a, Đấng Đồng Công, Mẹ Đấng Trung Gian duy nhất, và về sự thông phần cá biệt vô song của Mẹ vào sứ mạng Trung Gian duy nhất của Chúa Giê-su Ki-tô.117
Đức Gio-an Phao-lô II đã dẫn lời Công Đồng Va-ti-ca-nô II khi nói về sự thông phần đặc biệt ngoại thường của Đức Ma-ri-a vào chức năng Trung Gian duy nhất của Chúa Ki-tô: “Giáo huấn của Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã trình bày chân lý về vai trò Trung Gian của Đức Ma-ri-a là một sự chia sẻ vào nguồn mạch Trung Gian duy nhất của Chúa Giê-su Ki-tô. Chúng ta đọc: ‘Giáo Hội đã không hề lưỡng lự tuyên xưng sứ mạng cộng tác này của Đức Ma-ri-a. Mẹ hằng liên lỉ thực hiện sứ mạng này trong tâm hồn các tín hữu để trợ lực cho họ bằng tình yêu mẫu tử, để họ có thể gắn bó hơn nữa với Đấng Trung Gian, Đấng Cứu thế của họ.’ Sứ mạng này vừa đặc biệt, vừa ngoại thường.”118
Công Đồng cũng nói rõ về sự thông phần hiền mẫu cá biệt của Đức Ma-ri-a trong sứ mạng Trung Gian duy nhất của Chúa Ki-tô, một sự thông phần hoàn toàn lệ thuộc vào Con Mẹ, làm sáng tỏ quyền năng Chúa Ki-tô và hướng dẫn các tín hữu đến sự hiệp nhất với Chúa: “Chúng ta chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất như lời thánh Tông Đồ dạy: ‘Chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất...’ nhưng nhiệm vụ làm Mẹ của Đức Ma-ri-a đối với loài người không làm lu mờ hay giảm bớt vai trò Trung Gian duy nhất của Chúa Ki-tô chút nào, trái lại còn làm sáng tỏ mãnh lực của sự Trung Gian ấy... Ảnh hưởng ấy nương tựa và hoàn toàn tùy thuộc vào sự Trung Gian của Chúa Ki-tô, nguồn mạch mọi quyền lực của ảnh hưởng đó. Nhưng ảnh hưởng này không làm cản trở gì, trái lại còn giúp đỡ các tín hữu kết hiệp trực tiếp với Chúa Ki-tô.”119
Sự thông phần của Mẹ vào nhiệm vụ Trung Gian duy nhất của Chúa Ki-tô khác với sự trung gian mà những thụ tạo khác được thông phần, vì Đức Ma-ri-a được chia sẻ một cách cá biệt vào sứ mạng Trung Gian của Chúa Ki-tô trong tư cách làm mẹ. Đức Gio-an Phao-lô II giải thích: “Thực sự, sự Trung Gian của Đức Ma-ri-a gắn liền với chức làm Mẹ của Người. Sự Trung Gian ấy gồm chứa một đặc tính mẫu tử đặc biệt, khác biệt với sự trung gian của những thụ tạo khác cũng được chia sẻ vào sứ mạng Trung Gian duy nhất của Chúa Ki-tô, mặc dù sự Trung Gian của Mẹ cũng là một sự Trung Gian được thông phần.”120 Mẹ đã thông phần vào công trình cứu chuộc của Con Mẹ không như những thụ tạo khác, vì Mẹ là “Mẹ.” “Mẹ đã đi vào nhiệm vụ Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại của Chúa Ki-tô”121 một cách đặc biệt.
Chỉ có Chúa Ki-tô là Trung Gian hoàn hảo giữa Thiên Chúa và nhân loại... nhưng không có gì trở ngại khi những người khác cũng được trở thành những người trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại theo khả năng của họ, bằng việc chuẩn bị, hay giúp liên kết con người với Thiên Chúa.”122
Những lời của thánh Tô-ma A-qui-nô đã làm sáng tỏ khả năng “người khác cũng được gọi là trung gian theo một cách thế nào đó” qua sự cộng tác với sứ mạng Trung Gian hoàn hảo của Chúa Giê-su Ki-tô. Chính vì lý do này mà Giáo Hội đã xưng tụng Đức Ma-ri-a với tước hiệu Đấng Trung Gian, điển hình như trong giáo huấn của Công Đồng Va-ti-ca-nô II.123 Đức Ma-ri-a là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc. Người đã thông phần vào nhiệm vụ Trung Gian của Chúa Ki-tô một cách cá biệt trong việc hoàn thành công trình cứu độ thế giới. Và vì thế, Đức Ma-ri-a cũng thông phần vào sứ mạng Trung Gian duy nhất của Chúa Ki-tô một cách cá biệt trong việc phân phát những ân sủng cứu độ muôn đời mà cuộc tử nạn thập giá đã đem lại (x. Ga 19:26) cho Dân Chúa.124 Vì Đức Ma-ri-a đã Đồng Công với Chúa Cứu Thế, nên cũng là Trung Gian ân sủng với Đấng Trung Gian duy nhất.

TÂN ƯỚC NÓI VỀ MẸ TRUNG GIAN
(Lc 1:38; Lc 1:41; Ga 2:1)
Sứ mạng Trung Gian phân phát những ân sủng cứu độ vô giá125 mà thập giá đã đem lại là ơn Thiên Chúa đã ban cho “Người Nữ” đã đứng trên núi Can-vê (x. Ga 19:26). Thực vậy, nhiệm vụ Trung Gian ân sủng cứu độ của Mẹ đã được phác họa và từng bước được làm sáng tỏ hơn ngay từ những đoạn đầu Thánh Kinh, trong đó, Mẹ Chúa Giê-su đã hành động với tư cách người Mẹ và người Trung Gian trong sứ mạng Phúc Âm của Con Mẹ, Đấng Trung Gian mọi ân sủng cứu độ.

ĐẤNG TRUNG GIAN
CỦA CHÚA KI-TÔ: NGUỒN MỌI  ÂN SỦNG
(Lc 1:38)
Sứ điệp thiên sứ Gáp-ri-en thỉnh mời Đức Ma-ri-a chấp nhận làm Mẹ Thiên Chúa đã đem đến cho thế giới Đấng Trung Gian là Chúa Ki-tô. Và lời Đức Ma-ri-a đáp lại: “Này tôi là tôi tớ Chúa, xin nên trọn nơi tôi lời ngài truyền” (Lc 1: 38) đã được Đức Gio-an Phao-lô II cắt nghĩa như sau: “Sự suy phục đầu tiên trước sứ mạng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, tức là sự Trung Gian của Chúa Giê-su Ki-tô chính là sự chấp nhận chức làm Mẹ của Trinh Nữ làng Na-da-rét... Thiên chức làm Mẹ của Đức Ma-ri-a, hoàn toàn được thấm nhập bởi thái độ cộng tác làm tớ nữ của Thiên Chúa, đã tạo nên chiều kích đầu tiên và căn bản cho sứ vụ trung gian mà Giáo Hội đã tuyên xưng và công bố về chính mình và hằng giáo huấn tâm hồn mọi tín hữu khác.”126
Chúng ta thấy Đức Ma-ri-a bắt đầu thông phần vào vai trò sứ mạng Trung Gian của Đức Ki-tô một cách cá biệt trong ngày Truyền Tin. Đức Trinh Nữ đã tự tình chấp nhận làm Theotokos, “Người-Mang-Thiên-Chúa,”127 làm Trung Gian giữa Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng Cứu Độ, tác giả mọi ơn thánh với thế giới.
Do lời Xin Vâng của Đức Ma-ri-a  mà Chúa Giê-su, nguồn gốc và Trung Gian mọi ân sủng cứu độ đã gia nhập gia đình nhân loại. “Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể và cư ngụ giữa chúng ta, tràn đầy ân sủng và chân lý: và nhờ sự viên mãn của Người mà chúng ta đã lãnh nhận tất cả, hết ơn này tới ơn khác” (Ga 1:14-16).
Sự Trung Gian luân lý và thể lý của Đức Ma-ri-a  trong tư cách làm Mẹ đã đem đến cho thế giới nguồn ân sủng tự hữu là Chúa Ki-tô. Từ đó, mọi ân sủng khác đã tuôn tràn ra từ Thân Thể Chúa tạo nên Giáo Hội. Giáo Hội xác tín rằng: “Từ Chúa Ki-tô  đã tràn vào thân thể Giáo Hội mọi nguồn ánh sáng, qua đó các tín hữu nhận được nguồn soi sáng siêu nhiên và mọi ân sủng để có thể nên thánh như chính Người là Đấng Thánh.128
Nhiệm vụ Trung Gian hiền mẫu của Đức Ma-ri-a129 đem Đấng Cứu thế đến cho thế gian hư mất đã được tiên báo từ xa xưa (x. St 3:15). Người Nữ trong tư cách làm Mẹ sẽ đem đến cho thế gian Người Miêu Duệ toàn thắng Sa-tan là chính Đức Ma-ri-a, E-và Mới, người đã tự nguyện và đã cộng tác cách thể lý với A-đam Mới, nguồn ơn cứu độ cho chúng ta như lời thánh I-rê-nê đã nói: “Mẹ đã trở nên nguyên nhân ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại chúng ta.”130

MẸ TRUNG GIAN
TRONG CUỘC VIẾNG THĂM ÂN PHÚC
(Lc 1:41)
Sách Thánh cho chúng ta biết rằng sau biến cố Truyền Tin, “Đức Ma-ri-a  đã chỗi dậy, ra đi vội vã đến miền sơn cước, tới một thành phố thuộc Giu-đa. Bà vào nhà ông Gia-ca-ri-a và chào bà Ê-li-sa-bét” (Lc 1:39-40). Trong khi đang cưu mang Nguồn Ơn Thánh trong lòng (x. Lc 1:35-38), người Nữ Tì khiêm hạ của Thiên Chúa đã đến phục vụ bà chị họ là Ê-li-sa-bét đang cưu mang hài nhi Gio-an Tẩy Giả đến tháng thứ sáu (x. Lc 1:36; 3:2).
Ngay khi Đức Ma-ri-a, Người-Mang-Thiên Chúa vừa hiện diện, thì hài nhi trong lòng bà Ê-li-sa-bét liền nhảy mừng, và chính bà cũng được tràn đầy Chúa Thánh Thần (x. Lc 1:40). Chúng ta thấy sự hiện diện thể lý của Đức Ma-ri-a, Nhà-Tạm-Sống-Động cưu mang Chúa Cứu Thế là nguyên nhân Trung Gian cho những biến cố ân sủng đặc biệt để bào thai Gio-an Tẩy Giả “nhảy lên vui mừng” (Lc 1:44) và để bà Ê-li-sa-bét được “tràn đầy Thánh Thần” (Lc 1:41).
Sự “nhảy mừng” diễm phúc của Gio-an Tẩy Giả trong lòng bà Ê-li-sa-bét còn nói lên niềm vui mừng vì sự hiện diện thánh hóa của Mẹ Trung Gian và Hài Nhi Trung Gian. Giáo Hội đã khám phá trong trình thuật Tin Mừng này ý nghĩa sâu sắc của sự nhảy mừng một mặc khải sâu xa về “tác động thánh hóa” qua sự hiện diện của Đức Ma-ri-a, Trung Gian cho sự hiện diện của Bào Thai Ki-tô cách thể lý. Giáo Hội tuyên xưng rằng: “Gio-an Tẩy Giả là thánh, là đấng công chính tràn đầy Chúa Thánh Thần ngay trong lòng mẹ.”131 Quyền năng Chúa Thánh Thần qua sự hiện diện của Tì Nữ Thiên Chúa đã thánh hóa Gio-an Tẩy Giả ngay trong lòng mẹ.
Đối với Ê-li-sa-bét và hài nhi con bà, “Người sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Tối Cao” (Lc 1:76) thì sự hiện diện thể lý của Mẹ Trung Gian và Hài Nhi Trung Gian trong cuộc thăm viếng là một biến cố ơn thánh lớn lao mở đường cho tác động thánh hóa của Chúa Thánh Thần (x. Lc 1:41). Cũng chính bởi ơn Chúa Thánh Thần linh hứng mà Mẹ Trung Gian và Hài Nhi Trung Gian đã được ca tụng một cách xứng đáng: “Bà được chúc phúc giữa mọi người nữ, và Hoa Trái lòng Bà cũng được chúc phúc” (Lc 1:42).

MẸ TRUNG GIAN TRONG PHÉP LẠ ĐẦU TIÊN
VÀ SỨ VỤ CÔNG KHAI CỦA CHÚA KI-TÔ
(Ga 2:1)
Trong tiệc cưới Ca-na (x. Lc 2:1-11), Chúa Giê-su Ki-tô  đã thực hiện “phép lạ đầu tiên tỏ ra vinh quang Ngài” (Ga 2:11). Và qua đó, Ngài đã khởi đầu sứ mạng công khai Trung Gian duy nhất. Nhưng việc tỏ bày vinh quang lần đầu tiên trong sứ mạng cứu chuộc của Đấng Trung Gian lại được chính Mẹ Người làm Trung Gian.
Phúc Âm thánh Gio-an viết rằng: “Khi ấy có một đám cưới ở Ca-na xứ Ga-li-lê, và Mẹ Chúa Giê-su có mặt ở đó, Chúa Giê-su cùng các môn đệ của Ngài cũng được mời” (Ga 2,1-2). Trình thuật dường như gợi ý rằng Chúa Giê-su và các môn đệ cũng được mời vì có quan hệ với Đức Ma-ri-a  và vì Mẹ cũng hiện diện ở tiệc cưới. Đức Gio-an Phao-lô II nói rằng: “Con dường như được mời là vì Mẹ.”132 Dường như chính sự hiện diện của Đức Ma-ri-a là yếu tố Trung Gian cho sự hiện diện của Đấng Cứu Thế tại tiệc cưới, là dịp để Ngài thực hiện phép lạ đầu tiên.
Chúng ta lại thấy “khi rượu hết, Mẹ Chúa Giê-su nói với Người: ‘Họ hết rượu rồi.’ Và Chúa Giê-su nói với Mẹ: ‘Này Bà, Tôi với Bà có liên can chi?133 Giờ Tôi chưa đến.’ Mẹ Người nói với các gia nhân: ‘Các anh hãy làm bất cứ điều gì Ngài bảo’” (Ga 2:3-5). Chúa Giê-su
đã đáp ứng nỗ lực can thiệp của Mẹ Người bằng phép lạ biến nước thành rượu hảo hạng (x. Ga 2:10).
Khi gọi Mẹ mình với danh xưng “,” Chúa Giê-su đã xác định Đức Ma-ri-a là Người Nữ đã được tiên báo làm Trung Gian cho thế giới và Người Miêu Duệ toàn thắng Sa-tan (x. St 3:15) và đồng thời cũng chỉ định Mẹ làm Đấng Trung Gian, tức là Người Nữ sẽ đứng bên thập giá (x. Ga 19:26). Đức Ma-ri-a  còn được hưởng đặc ân lên trời hồn xác134 và vinh quang thiên đàng trong tư cách “Người Nữ mặc mặt trời, chân đạp mặt trăng và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh  12:1). “Trên trời, Mẹ không hề ngừng nhiệm vụ cứu độ này, nhưng vẫn tiếp tục ban xuống cho chúng ta những ân sủng cứu độ muôn đời trong tư cách Đấng Trung Gian.”135
Đức Gio-an Phao-lô II đã ban cho chúng ta những giáo huấn phong phú ý nghĩa về sứ vụ Đức Ma-ri-a  trong tư cách Trung Gian hiền mẫu tại Ca-na.136 Ngài nói: “Qua việc mô tả sự kiện Ca-na, bản văn của thánh Gio-an phác họa nên điều được bày tỏ cụ thể như nhiệm vụ làm Mẹ mới mẻ theo tinh thần chứ không theo huyết nhục. Đó là việc Đức Ma-ri-a ân cần quan tâm tới loài người, đó là việc Mẹ đoán trước mọi nhu cầu và thiếu thốn của họ. Ở Ca-na, miền Ga-li-lê, chỉ một khía cạnh cụ thể trong sự nghèo túng của loài người được bày tỏ xem ra như nhỏ nhoi và ít quan trọng (“Họ hết rượu rồi”). Nhưng điều đó có một giá trị biểu trưng: hiểu trước những nhu cầu con người có nghĩa là đồng thời đưa chúng vào ánh sáng của sứ mạng thiên sai và của sứ mạng cứu độ nơi Đức Ki-tô.”137
Tại Ca-na, chúng ta thấy sự biểu lộ công khai đầu tiên quyền năng cứu thế của Chúa Ki-tô, Đấng Trung Gian duy nhất và đồng thời thấy được chức làm Mẹ phổ quát theo tinh thần của Đức Ma-ri-a và sự môi giới đầy tình mẫu ái của Mẹ dành cho con cái. Thiên chức làm Mẹ tinh thần mới mẻ của Đức Ma-ri-a  vươn rộng và đầy  năng lực trên toàn thể gia đình nhân loại.138 Mục tiêu của sự can thiệp mẫu tử cho gia đình nhân loại của Đức Ma-ri-a là đem những nhu cầu hoặc lớn hoặc nhỏ của họ hiệp nhất với sứ mạng và quyền năng cứu độ của Chúa Ki-tô, Đấng Trung Gian duy nhất.
Vì lý do này, Đức Gio-an Phao-lô II đã tuyên xưng Đức Ma-ri-a  là Đấng “Trung Gian” trong tư cách làm Mẹ có quyền làm môi giới cho nhân loại: “Sự Trung Gian ấy như thế này: Đức Ma-ri-a đứng giữa Người Con của Mẹ và một nhân loại với những thiếu thốn, những nhu cầu và đau khổ. Mẹ đứng giữa tức là Mẹ hành động như một người Trung Gian trong tư cách làm Mẹ chứ không phải người ngoài cuộc. Mẹ biết rằng như vậy Mẹ có thể cho Chúa Con thấy được những nhu cầu của nhân loại, và thực sự, Mẹ có quyền làm như vậy. Nhiệm vụ Trung Gian của Mẹ có tính cách can thiệp: sự can thiệp của Đức Ma-ri-a là vì nhân loại.”139
Nhưng vai trò Trung Gian của Đức Ma-ri-a  tại Ca-na trực tiếp hướng đến Chúa Con, Đấng Trung Gian duy nhất và sứ mạng cứu độ của Người “như một người Mẹ, Đức Ma-ri-a vẫn ước ao cho quyền năng Con mình được biểu lộ, tức là quyền năng cứu thế của Chúa, nhằm giúp đỡ con người trong những khốn cùng để giải thoát họ khỏi sự dữ muôn hình nghìn trạng đang đè nặng trên đời sống họ.140 Tất cả các hành động của Mẹ Trung Gian trước hết và trên hết là hướng về Chúa Ki-tô. Vì Mẹ biết rằng Mẹ chỉ có thể hoàn thành sứ mạng mà Thiên Chúa đã ưu tuyển Mẹ làm Trung Gian hiền mẫu cho nhân loại bằng cách làm Trung Gian giữa Chúa Ki-tô, Đấng Cứu Độ, với gia đình nhân loại. Lời Mẹ nói: “Các ông hãy làm những gì Người bảo” (Ga 2:5) cho thấy rằng “Mẹ là Người phát ngôn cho ý muốn của Chúa Con là Người đưa ra những đòi hỏi cần thiết được thực hiện thỏa đáng để quyền năng cứu thế của Đấng Thiên Sai được tỏ rạng... Tại Ca-na, nhờ lời Đức Ma-ri-a... Chúa Giê-su đã khởi đầu “giờ của Ngài.”141
Khi làm Trung Gian cho phép lạ đầu tiên và sứ mạng công khai của Chúa Con (x. Ga 2:11), Người Nữ Ca-na cũng bắt đầu xuất hiện công khai trong sứ mạng Trung Gian. Sự can thiệp của Mẹ Chúa Giê-su tại Ca-na đã làm nên “một lời loan báo đầu tiên về nhiệm vụ Trung Gian của Đức Ma-ri-a, một nhiệm vụ hoàn toàn qui hướng về Chúa Ki-tô và về sự mặc khải quyền năng cứu thế của Ngài.”142
Sứ mạng làm Trung Gian cùng với Đấng Trung Gian duy nhất của Đức Ma-ri-a đã được mặc khải từng bước trong những trang Tân Ước, đi từ vai trò Trung Gian âm thầm cho Nguồn Ơn Thánh trong biến cố Truyền Tin (x. Lc 1:38), đến sự Trung Gian thể lý đem Bào Thai cứu thế đến thăm bà Ê-li-sa-bét và bào thai Gio-an Tẩy Giả nơi miền đồi núi xa xăm (x. Lc 1:41), đến việc Trung Gian công khai cho Đấng Thiên Sai tại tiệc cưới Ca-na (x. Ga 2:1). Thần học gia vĩ đại người Đức M.J. Scheeben nói: “Địa vị đầy đủ của Đức Ma-ri-a không chỉ là Đấng Trung Gian, mà những nhiệm vụ Trung Gian trước đó của Mẹ cũng đã được hoàn toàn an bài nhắm đến một sứ vụ Trung Gian phổ quát ban ơn thánh và tạo điều kiện cho việc thông chuyển mọi ơn thánh, không trừ ơn nào. Vì tất cả mọi nhiệm vụ làm Trung Gian của Đức Ma-ri-a tạo thành một tổng thể hữu cơ duy nhất tương hỗ nhau, trong đó những yếu tố sau dựa vào yếu tố trước, và tạo nên ảnh hưởng...”143
Nếu như nhiệm vụ Trung Gian của Đức Ma-ri-a  đã được phác họa trong những đoạn đầu của Thánh Kinh thì “sứ mạng ấy được tuyên bố rõ ràng và thành sự”144 dưới chân cây thập giá.

VIỆC THIẾT LẬP
CHỨC TRUNG GIAN ƠN THÁNH
(Ga 19:26)
“Hỡi Bà, đây là con Bà... Hỡi con, đây là Mẹ con” (Ga 19:26-27) là những lời Chúa Cứu Thế lúc hấp hối đã nói với Người Nữ bên thập giá và đã đặt Bà làm Trung Gian hiền mẫu ơn thánh trên toàn nhân loại.
Đức Lê-ô XIII nói rằng: “Theo cách Giáo Hội hằng suy tư, Chúa Cứu Thế đã coi Gio-an là đại diện cho toàn thể nhân loại, đặc biệt là những người được liên kết với Chúa trong đức tin.”145 Trên núi Can-vê, nhân loại chúng ta đã tiếp nhận Người Nữ, người đã được Đấng Trung Gian duy nhất chỉ định làm “Mẹ tinh thần của chúng ta trong trật tự ơn thánh”146 khi Mẹ trở thành “Đấng Trung Gian ơn thánh”147 tuyệt đối cho chúng ta.
Ngay chính giây phút hi tế cứu độ toàn nhân loại đi đến hoàn tất (x. Ga 19:26-28), Chúa Giê-su đã nói với Người Nữ, Đức Ma-ri-a thành Na-da-rét: “Này Bà, đây là con Bà” (Ga 19:26). Và rồi nói với môn đệ yêu dấu, người đại diện cho tất cả những ai theo đuổi lý tưởng muốn làm môn đệ yêu dấu của Chúa:148 “Hỡi con, đây là Mẹ con” (Ga 19:27).
Khi Chúa Giê-su trối Gio-an cho Đức Mẹ và trối Đức Mẹ cho Gio-an thì Mẹ đã được phong làm Trung Gian phổ quát và thiêng liêng trong trật tự ơn thánh. Tặng ân được làm Trung Gian ơn thánh mà Chúa Ki-tô đã ban cho Mẹ Đồng Công là một món quà có giá trị thiêng liêng ("Hỡi Bà, đây là con Bà”), đồng thời cũng là quà tặng có sức ban ơn thánh hóa cho gia đình nhân loại đã sa ngã ("Hỡi con, đây là Mẹ con”). Đức Gio-an Phao-lô II xác quyết: “Qua cái chết cứu độ của Con Mẹ, sự Trung Gian do vai trò làm Mẹ của “Nữ Tì Thiên Chúa” đã đạt đến một chiều kích phổ quát bởi vì công trình cứu độ bao trùm hết mọi người. Như thế, biểu lộ một cách đặc biệt hiệu năng của  vai trò Trung Gian duy nhất và phổ quát của Đức Ki-tô “giữa Thiên Chúa và loài người.”149
Chúa Cứu Thế trong giây phút hấp hối đã tuyên bố công khai Đức Ma-ri-a là Người Nữ, là Hiền Mẫu, là Trung Gian ơn thánh cứu độ. Đấng Trung Gian duy nhất đã ban cho Mẹ Người tặng ân làm Trung Gian mọi ơn thánh. Đó là kết quả từ hi tế tử nạn của Người và từ hi sinh cộng tác Đồng Công của Mẹ vì nhân loại. Như thế, Mẹ là Đấng Trung Gian ơn thánh vì trước tiên Mẹ đã là Đấng Đồng Công.150

CÁC GIÁO PHỤ151
VÀ ĐẤNG TRUNG GIAN MỌI ÂN SỦNG
Các giáo phụ đã hiểu ý nghĩa tiềm tàng về Đức Ma-ri-a, E-và Mới, như nguyên nhân ơn thánh cứu độ cho chính Mẹ và cho toàn thể nhân loại,152 các ngài còn đào sâu vào vai trò Trung Gian ân sủng cứu độ của Đức Ma-ri-a.153 Tại Công Đồng Ê-phê-sô, năm 431, thánh Xi-ri-lô thành A-lê-xan-ri-a đã trình bày một giáo thuyết sâu xa về nhiệm vụ của Đức Ma-ri-a, Đấng Trung Gian, “qua Mẹ các công trình cứu độ đã được hoàn thành.” Trong một bài giảng lừng danh về Đức Ma-ri-a, thánh nhân nói: “Kính mừng Mẹ Ma-ri-a, Đấng-Mang-Thiên-Chúa, Theotokos, Mẹ là kho tàng quí báu của toàn thế giới... Chính nhờ Mẹ mà Chúa Ba Ngôi đã được vinh danh và yêu mến... Vì Mẹ, mà Sa-tan, tên cám dỗ đã bị sa thải khỏi thiên đàng. Nhờ Mẹ, mà thụ tạo sa ngã đã được đưa lên nơi vinh phúc. Nhờ Mẹ, mọi thụ tạo xưa kia đã bị đầu độc bởi những tà thần nay đã đến được nguồn chân ly. Qua Mẹ, bí tích Thánh Tẩy đã đến với những người có niềm tin... Nhờ Mẹ, muôn dân nước đã biết sám hối ...”154 Một giáo phụ khác trong Công Đồng Ê-phê-sô là nghị phụ An-ti-pa-tơ Bốt-tra (Antipater of Bostra) đã nói về Đức Ma-ri-a  trong nhiệm vụ Trung Gian cho nhân loại như sau: “Kính mừng Mẹ, Mẹ đã vui lòng làm Trung Gian cho nhân loại.”155 Các kinh nguyện cổ xưa về Đức Mẹ cũng nói lên một niềm tin tưởng vào quyền năng Trung Gian hiền mẫu của Đức Ma-ri-a  trong những lúc khó khăn về đức tin của con cái thiêng liêng của Mẹ.156
Các giáo phụ Đông Phương có một kiến thức rất sáng tỏ về sứ mạng Trung Gian của Đức Ma-ri-a. Thánh An-rê đảo Cơ-rê-ta nói về Đức Ma-ri-a là “Đấng Trung Gian của lề luật và ân sủng.” Ngài còn tuyên bố: “Mẹ là Trung Gian giữa sự linh thánh của Thiên Chúa và sự cùng túng của nhân loại.”157 Thánh Gio-an Đa-ma-xê-nô đã nói về việc Đức Ma-ri-a hoàn thành sứ mạng Trung Gian của Mẹ.158 Thánh Giê-ma-nô thành Công-tan-ti-nô đã trình bày về sứ mạng Đức Ma-ri-a làm Trung Gian phổ quát cho ơn cứu độ và lòng nhân lành một cách rất sâu xa. Thánh nhân nói: “Ôi lạy Đấng-Mang-Thiên-Chúa, không ai được cứu độ mà không nhờ Mẹ, không ai đáng được Chúa thương, đáng được cứu độ mà không nhờ Mẹ... Trong Mẹ, mọi dân tộc trên địa cầu đã được chúc phúc....”159 Các giáo phụ Đông Phương ngay từ thời sơ khai đã hiểu rằng Mẹ Chúa Giê-su là “Đấng Trung Gian tốt lành cho mọi tội nhân,”160 và là “Đấng Trung Gian cho tất cả những ai còn đang sống nơi dương thế.”161
Ở Phương Tây, thánh Phê-rô Đa-mi-a-nô đã đưa ra nguyên lý về sự Trung Gian của Đức Ma-ri-a là một hành động Trung Gian mà Chúa Ki-tô đã khởi dẫn và đáng được nhân loại noi gương: “Vì Con Thiên Chúa đã được tiền định xuống với chúng ta qua Mẹ Ma-ri-a, nên chúng ta cũng phải đến với Chúa qua Mẹ.”162 Thánh nhân còn nói: “Trong tay Mẹ là kho tàng lòng nhân lành Thiên Chúa.”163
Thánh Bê-na-đô, vị giáo phụ vĩ đại về Thánh Mẫu học trong Giáo Hội đã cho chúng ta một kiến thức phong phú rõ ràng về vai trò Trung Gian ân sủng cứu độ của Đức Ma-ri-a. Thánh nhân nói: “Thánh ý Thiên Chúa muốn không có gì chúng ta nhận được mà không qua tay Đức Mẹ.”164 Thánh nhân còn nói: “Thánh ý Thiên Chúa muốn chúng ta có được mọi sự qua Đức Ma-ri-a.”165 Các cách diễn giải truyền thống về nhiệm vụ Trung Gian phổ quát mọi ân sủng mà thánh Bê-na-đô đã nói về Đức Ma-ri-a đã được nhiều vị Giáo Hoàng trong thế kỷ XX sử dụng trong giáo huấn chính thức của các ngài về Đức Ma-ri-a.166
Thánh Bê-na-đô còn giải thích thêm rằng bất cứ ân sủng nào, hoặc ơn cậy trông, hoặc ơn cứu độ của nhân loại đều qua tay Đức Ma-ri-a, người mà Thiên Chúa đã trao phó mọi sự tốt lành: “Thiên Chúa đã đặt nơi Đức Ma-ri-a mọi nguồn sung mãn tốt lành để chúng ta hiểu rằng bất cứ một niềm cậy trông nào nơi chúng ta, bất cứ một ân sủng nào, bất cứ một ơn cứu rỗi nào đều qua tay Đức Mẹ.”167 Các lời giáo huấn của thánh Bê-na-đô có thể được tóm lại trong câu: “Thánh ý Thiên Chúa muốn chúng ta nhận được mọi ơn qua Đức Ma-ri-a.”168
Thánh Bê-na-đi-nô thành Si-ê-na đã tóm kết giáo thuyết của các giáo phụ về chức năng ban phát mọi ơn sủng và sứ mạng Trung Gian như sau: “Đây là trình tự của ơn thánh: từ Thiên Chúa đến Đức Ki-tô, từ Đức Ki-tô đến Mẹ Người, và từ Mẹ Người đến Giáo Hội... Tôi không ngần ngại khi nói rằng Đức Mẹ đã lãnh nhận một quyền hạn trên mọi ân sủng... Các ân sủng được ban cho chúng ta đều qua tay Mẹ....”169
Sứ mạng Trung Gian phổ quát mọi ân sủng cứu độ của Đức Ma-ri-a  vẫn được tiếp tục bàn giải bằng nhiều cách thế phong phú của vô số tiến sĩ, thần học gia, thánh nhân và văn gia suốt thời Trung Cổ cho đến hiện nay.170 Chúng ta phải đặc biệt đề cập đến sự đóng góp đặc sắc của thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho qua tác phẩm cổ điển “Thành Thực Sùng Kính Đức Ma-ri-a.” Quyển sách này đã nhận được rất nhiều tán thưởng và ưu ái của các vị Giáo Hoàng trong thế kỷ XX.171 Thánh Lu-i Ma-ri-a đã làm vọng lại những giáo huấn mà thánh Bê-na-đô đã nói về sứ mạng làm máng chuyên ân sủng cứu độ bằng một ngôn ngữ rất sáng sủa: “Thiên-Chúa-Làm-Người đã trao phó cho Đức Mẹ tất cả những gì mà Người đã lập được qua cuộc sống và cái chết của Người, những công trạng vô cùng và những nhân đức tuyệt vời; Người đã làm cho Mẹ trở thành kho tàng cất giữ mọi sự mà Thiên Chúa Cha đã ban cho Người và cho những kẻ thừa kế Người. Nhờ Mẹ, Chúa Con áp dụng những công trạng của Người cho các chi thể, thông chuyển các nhân đức, và phân phát các ân sủng của Người. Đức Ma-ri-a là kênh, là máng mầu nhiệm Thiên Chúa dùng để tuôn xuống tràn đầy và êm ái lòng nhân từ của Người.172 Theo thánh Lu-i Ma-ri-a, nhiệm vụ Trung Gian mọi ân sủng của Đức Ma-ri-a  chính là nền tảng thần học để mỗi người thực hiện hành vi tận hiến cho Chúa Giê-su qua Đức Ma-ri-a. Người ki-tô hữu giao phó trọn quyền cho Mẹ Trung Gian giúp họ sống xứng đáng với những lời hứa phép Rửa Tội.173
Chúng ta cũng phải lưu tâm đặc biệt đến cống hiến sau đó của thánh An-phong-sô Li-gô-ri, vị tiến sĩ Ma-ri-a học thuyết của Giáo Hội. Thánh An-phong-sô đã tóm tắt đặc tính phổ quát ban phát mọi ơn của Đức Ma-ri-a bằng những lời sau đây: “Thiên Chúa, Đấng đã ban Chúa Giê-su Ki-tô cho chúng ta muốn rằng mọi ân sủng đã, đang, và sẽ được ban cho nhân loại cho đến tận thế nhờ công nghiệp của Chúa Giê-su Kitô phải được ban qua bàn tay và sự môi giới của Đức Ma-ri-a.”174

GIÁO HUẤN CÁC ĐỨC THÁNH CHA
VỀ TRÌNH THUẬT GIO-AN 19:26
VÀ MẸ TRUNG GIAN ÂN SỦNG
Các Đức Thánh Cha gần đây đã dùng thẩm quyền tiếp tục xác nhận một cách mạnh mẽ và nhất quán giáo thuyết phong phú và đầy đủ về sứ mạng của Mẹ Chúa Giê-su, Đấng Trung Gian phổ quát các ân sủng cứu độ. Các ngài dùng quyền giáo huấn thông thường để xác nhận chân lý mặc khải về Đức Ma-ri-a, Đấng Trung Gian các ân sủng. Các ngài nhấn mạnh đặc biệt đến đặc tính phổ quát của việc Đức Ma-ri-a  thông phần Trung Gian với Đấng Trung Gian duy nhất trong việc ban mọi ân sủng cứu độ.175
Các Đức Thánh Cha lặp đi lặp lại nhiều lần rằng: vì Đức Ma-ri-a  đã hiệp công cá biệt với Đấng Cứu Thế trong tư cách Đồng Công Cứu Chuộc đem lại ân sủng cứu độ, vì thế, Đức Ma-ri-a  xứng đáng được Thiên Chúa cho tham dự cách cá biệt làm Trung Gian cùng với Đấng Trung Gian duy nhất phân phát ân sủng công trình cứu độ đã mang lại.176
Mọi ân sủng đều phát xuất từ thập giá (x. Rm 3:24; Cl 1:20). Và việc Đức Ma-ri-a  tham gia cá biệt vào việc phân phát ân sủng cứu độ cho con cái thiêng liêng của Mẹ (x. Ga 19:26) không hề ngăn cản, nhưng bồi dưỡng ý thức và sức tiếp nhận của nhân loại trước nguồn ơn sủng rộng rãi của Chúa Cứu Thế, Đấng Trung Gian duy nhất.177 Những lời giáo huấn rõ ràng về Đức Ma-ri-a Trung Gian mọi ân sủng của các Đức Thánh Cha là tiêu biểu cho việc giải thích Lời Chúa, cả văn bản lẫn khẩu truyền,178 đã được làm sáng tỏ qua giáo huấn của các vị Giáo Hoàng suốt ba thế kỷ qua, đã được lặp đi lặp lại một cách nhất quán và ngày một sáng tỏ hơn.
Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XIV đã nói về Đức Ma-ri-a như sau: “Mẹ như một dòng suối từ trời đem mọi ân sủng và phúc lành đến cho tâm hồn tội lụy.”179 Đức Thánh Cha Pi-ô VII, vị Giáo Hoàng đầu tiên trong thế kỷ XIX, đã tóm kết vai trò Trung Gian phổ quát mọi ân sủng của Mẹ qua tước hiệu Đấng Ban Phát mọi ân sủng.”180
Đức Pi-ô IX đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển giáo lý Mẹ Trung Gian mọi ân sủng. Ngài cho rằng Thiên Chúa đã trao phó cho Đức Ma-ri-a kho tàng mọi ân thánh để phân phát cho nhân loại, gồm mọi ân sủng và ơn cứu rỗi, để nhân loại biết rằng mọi ân sủng đều qua Đức Ma-ri-a: “Vì Thiên Chúa đã trao phó cho Đức Ma-ri-a kho tàng tất cả thiện hảo để mọi người biết rằng qua Mẹ họ có thể đạt được mọi niềm hy vọng, mọi ân sủng và ơn cứu rỗi.”181 Ngài còn nói: “Trước tòa Người Con duy nhất của Mẹ, Mẹ là Trung Gian hòa giải quyền thế nhất cho thế giới....”182
Đức Lê-ô XIII đã cho chúng ta những lời dạy phong phú183 qua những văn kiện giáo huấn trang trọng về học thuyết Đức Ma-ri-a, Đấng Trung Gian mọi ân sủng. Chẳng hạn, ngài nói: “Đức Ma-ri-a  là người giữ kho tàng bình an của chúng ta với Thiên Chúa và là Đấng ban phát mọi ân sủng từ trời cao.”184 Ngài còn nói: “Chúa đã chọn Mẹ làm người ban phát mọi ơn trời.”185
Trong tông thư Octobri Mense, Đức Lê-ô XIII đã xác quyết: “Đức Ma-ri-a  là Trung Gian ban phát mọi ân sủng mà Chúa Giê-su đã sắm cho nhân loại qua mầu nhiệm thập giá, vì đó là chương trình của Thiên Chúa Tối Cao đã mặc khải: ‘Ân sủng và chân lý thì được ban qua Chúa Giê-su’ (Ga 1:17), nhưng chúng ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng không một ơn nào trong kho tàng ân sủng Chúa Giê-su đã sắm được ban cho chúng ta mà không qua Đức Ma-ri-a... Vĩ đại thay lòng nhân lành và thương xót của Thiên Chúa đã được tỏ bày qua chương trình này... Đức Ma-ri-a là Đấng Trung Gian quang vinh của chúng ta, Mẹ là Mẹ quyền năng của Thiên Chúa toàn năng.”186
Đức Lê-ô XIII còn trân trọng dẫn lại lời thánh Bê-na-đi-nô thành Si-ê-na nói về sự chuyển ban ân sủng và vai trò trung gian của Đức Ma-ri-a: “Luật về sự trung gian nhân lành mà chúng ta đã nói đến đã được xác quyết qua lời của thánh Bê-na-đi-nô thành Si-ê-na, ‘vì mọi ân sủng Thiên Chúa ban cho nhân loại phải qua ba giai đoạn trình tự: từ Thiên Chúa đến Đức Ki-tô, từ Đức Ki-tô đến Đức Nữ Đồng Trinh, và từ Đức Nữ Đồng Trinh, ân sủng được ban cho chúng ta.’”187
Đức thánh Pi-ô X đã cung cấp cho Giáo Hội một giáo huấn sâu xa về trình thuật Gio-an 19:26 và về vai trò Trung Gian phổ quát ân sủng của Đức Ma-ri-a trong tông thư quan trọng Ad diem illum. Đức thánh Giáo Hoàng đã nói về “đời sống và những công việc hợp nhất giữa Con và Mẹ”trong công trình cứu độ; Mẹ là người “thông phần trọn vẹn vào cuộc khổ nạn của Con.” Cho nên Mẹ trở thành “người ban phát mọi ân sủng” mà cái chết của Con đã đem lại.188 Thánh Pi-ô X còn nói: “Khi giờ quan trọng của Con đã đến, Mẹ đã đứng đó, bên thập giá... Từ sự hiệp nhất ý chí và đau khổ với Chúa Ki-tô, Mẹ đã trở thành Đấng Đồng Công cho thế giới đã hư hỏng “và là người phân phát nguồn ân sủng Chúa Cứu Thế đã sắm cho chúng ta bằng cái chết và bằng Máu của Người.”189
Thánh Pi-ô X còn cắt nghĩa thêm rằng quyền phát ân sủng theo nghĩa chặt chỉ thuộc về một mình Chúa Giê-su Ki-tô, nhưng vì đã hiệp nhất mật thiết trong đau khổ với Đấng Cứu Thế, nên chức năng ban phát mọi ân sủng đã được trao lại cho Đức Ma-ri-a, vì Mẹ là Trung Gian: “Dĩ nhiên, không thể chối cãi rằng việc ban phát mọi ân sủng là quyền của Chúa Ki-tô, nói theo nghĩa chặt, vì đó là kết quả từ cái chết của Ngài và do bản tính Ngài là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người. Tuy nhiên do sự hiệp nhất trong đau khổ giữa Mẹ và Con như trên đã nói nên Đức Trinh Nữ chính là Đấng Trung Gian quyền thế nhất và là người Trạng Sư cho toàn thế giới với Con Chí Thánh của Mẹ. Như vậy, cội nguồn chính là Chúa Giê-su Ki-tô, nhưng như lời thánh Bê-na-đô đã nhận xét rất đúng rằng: Đức Ma-ri-a là “Kênh Chuyển” hoặc nếu bạn muốn thì Mẹ là Cổ nối Đầu với Thân Thể và qua Cổ, truyền sức mạnh và ý chí ra khắp Thân Thể: “Vì Mẹ là Cổ, qua đó Chúa Giê-su là Đầu liên kết với Thân Thể mầu nhiệm của Người.”190
Thánh Pi-ô X còn làm sáng tỏ rằng chỉ có một mình Thiên Chúa là nguồn mọi ân sủng. Và vai trò của Đức Ma-ri-a là “thừa tác viên chính” ban phát mọi ân sủng cứu độ. “Như vậy, rõ ràng chúng ta không thể nói rằng Mẹ Thiên Chúa là tác giả của ân sủng siêu nhiên vì ân sủng phát xuất từ Thiên Chúa. Nhưng vì Mẹ vượt trên tất cả mọi thần thánh về sự thánh thiện và về sự hiệp nhất với Chúa Ki-tô,  và Mẹ đã cộng tác với Chúa Ki-tô trong công trình cứu độ nên Mẹ chính là thừa tác viên chính trong việc ban phát ân sủng.”191
Đức Bê-nê-đíc-tô XV xác định lý do Đức Ma-ri-a làm Đấng Trung Gian mọi ân sủng phân phát nguồn phúc lộc cứu độ là vì trước hết Mẹ đã là Đấng Đồng Công đem lại những ân sủng trời cao trên đồi Can-vê. “Vì Mẹ đã cùng chịu khổ và hầu như chết đi cùng với Người Con đau khổ và tử nạn... Người ta có thể xác quyết rằng Mẹ đã cùng với Chúa Ki-tô  cứu chuộc nhân loại... Vì lý do này, mọi ân sủng mà chúng ta lãnh nhận được từ kho tàng cứu độ đã được ban phát qua chính bàn tay của Đức Trinh Nữ Đau Thương....”192
Đức Bê-nê-đíc-tô XV còn ban phép cho các giáo sĩ khắp thế giới - hễ vị nào xin - đều được cùng với nước Bỉ cử hành giờ kinh phụng vụ và thánh lễ kính Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Trung Gian mọi ân sủng.”193 Một kinh nguyện viết rằng: “Chúng ta hãy đến và thờ lạy Chúa Cứu Thế, Người đã muốn chúng ta có được mọi sự tốt lành qua Đức Ma-ri-a.” Trước khi có lễ kính Mẹ Trung Gian mọi ân sủng trong nghi lễ Tây Phương thì Đông Phương đã cử hành nhiều nghi thức phụng vụ dâng kính Mẹ Ma-ri-a Trung Gian phổ quát mọi ân sủng. Đức Ma-ri-a  là “suối nhân lành.”194 Mẹ là “nguồn cứu giúp cho các tín hữu.”195 Mẹ là “Đấng Trung Gian lề luật và ơn thánh.196 Mẹ là Đấng ban phát kho tàng Thiên Chúa và là Nữ Vương vũ trụ.”197 Ở đây, chúng ta nên nhớ rằng phụng vụ đã thiết lập một giáo lý tiềm ẩn trong kinh nguyện của Giáo Hội. Điều này nói lên sự hiện diện của một giáo lý đã hiện hữu trước khi được đưa vào kinh nguyện phụng vụ. Bởi vì “chúng ta tin thế nào, chúng ta cũng cầu nguyện như vậy.”198
Đức Pi-ô XI đã đóng góp thêm vào truyền thống Giáo Hoàng phong phú giáo huấn về Mẹ Trung Gian với chức năng phổ quát Trung Gian cùng với Đấng Trung Gian duy nhất: “Chúng Tôi thực tâm không muốn gì hơn là đề cao hơn nữa lòng sùng kính của các tín hữu đối với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, kho tàng mọi ân sủng của  Thiên Chúa....”199 Ngoài ra, Đức Pi-ô XI còn nói đến việc “... tín thác vào sự môi giới của Đức Ma-ri-a  với Chúa Ki-tô, Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại. Chúa đã muốn cho Mẹ được cùng với Người trở thành Trạng Sư cho các tội nhân, trong tư cách là người ban phát và làm Trung Gian mọi ân sủng....”200 Tóm lại, Đức Pi-ô XI đã dạy rằng tất cả mọi sự Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta thì Người đều qua Đức Ma-ri-a: “... Chúng ta biết rằng mọi sự Chúa ban cho chúng ta, những gì lớn lao nhất, tốt đẹp nhất đều qua tay Mẹ Thiên Chúa.”201
Đức Pi-ô XII đã lặp lại lời thánh Bê-na-đô Tiến Sĩ sau khi đã biến thành như của mình và của chung Giáo Hội: “Và bởi vì, như thánh Bê-na-đô nói, thánh ý Thiên Chúa muốn chúng ta có được mọi ơn nhờ Mẹ Ma-ri-a. Vậy mọi người hay mau đến nương nhờ Mẹ Ma-ri-a.”202
Trong một tông thư khác, ngài tái khẳng định: “Mẹ đã dạy chúng ta mọi nhân đức, Mẹ đã ban cho chúng ta Người Con của Mẹ cùng với tất cả những sự nâng đỡ mà chúng ta cần, bởi vì ‘Chúa muốn chúng ta có được mọi sự nhờ Đức Ma-ri-a.’203
Từ thời Đức Pi-ô XII chúng ta còn thấy một biểu hiện khác nói lên tính nhất quán trong giáo huấn Giáo Hoàng về trình thuật Can-vê, Gio-an 19:26 đối với sứ mạng Trung Gian phổ quát mọi ân sủng là do sứ mạng Đồng Công của Mẹ với Chúa Cứu Thế: “Vì đã cộng tác với Vua các đấng tử đạo trong công trình vĩ đại cứu độ nhân loại với tư cách làm Mẹ và là người thừa tác, Mẹ sẽ luôn luôn cộng tác với Chúa bằng một quyền năng hầu như vô cùng trong việc phân phát nguồn ân sủng từ công cuộc cứu độ.”204
Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã đóng góp rất nhiều cho Giáo Hội về việc giải thích sứ mạng Trung Gian của Đức Ma-ri-a: một sự hiệp thông hiền mẫu cá biệt vào sứ mạng cứu độ của Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng Trung Gian duy nhất (x. 1Tm 2:5) trong việc ban phát cho chúng ta những ân sủng cứu độ đời đời.”205 “Nhiệm vụ làm Mẹ của Đức Ma-ri-a đối với loài người không làm lu mờ hay giảm bớt nhiệm vụ Trung Gian duy nhất của Chúa Ki-tô chút nào, trái lại còn làm sáng tỏ mãnh lực của sự Trung Gian ấy. Vì mọi ảnh hưởng có sức cứu rỗi của Đức Nữ Trinh không phát sinh từ một sự cần thiết khách thể nào, nhưng từ ý định nhân lành của Thiên Chúa, và bắt nguồn từ công nghiệp dư tràn của Chúa Ki-tô. Ảnh hưởng ấy nương tựa và hoàn toàn tùy thuộc vào sự Trung Gian của Chúa Ki-tô, nguồn mạch mọi quyền lực của ảnh hưởng đó. Nhưng ảnh hưởng này không làm cản trở, trái lại còn giúp đỡ các tín hữu kết hiệp trực tiếp với Chúa Ki-tô.”206
Vì lý do này, Công Đồng đã nói: “Giáo Hội không ngần ngại tuyên xưng, mà luôn nghiệm thấy, và nhắn nhủ các tín hữu ghi nhớ trong lòng, để nhờ sự nâng đỡ và phù trợ từ mẫu của Ngài, họ gắn bó mật thiết hơn với Đấng Trung Gian và Cứu Thế.”207
Công Đồng Va-ti-ca-nô II tuyên bố rằng Mẹ Chúa Giê-su là Mẹ chúng ta trong trật tự ân sủng bởi vì Mẹ đã cộng tác cách cá biệt vào công trình cứu độ của Chúa Cứu Thế: “... Cùng đau khổ với Con chết trên thập giá, Đức Ma-ri-a đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy, trên bình diện ân sủng, Ngài thật là Mẹ chúng ta.”208 Mẹ Trung Gian là chính Mẹ Đồng Công vẫn tiếp nối công trình cứu độ qua việc phân phát các ân sủng của sự sống đời đời mà hi tế núi Can-vê đã sắm được. 209
Công Đồng còn trình bày về sứ mạng Trung Gian hiền mẫu của Đức Ma-ri-a như sau: “Trong nhiệm cục ân sủng, Đức Ma-ri-a  tiếp tục thiên chức làm Mẹ, từ khi Mẹ tin tưởng ưng thuận trong ngày Truyền Tin, sự ưng thuận mà Mẹ đã kiên vững trung thành bên cây thập giá cho tới lúc vĩnh viễn hoàn tất việc cứu rỗi mọi người được tuyển chọn. Thực vậy, sau khi về trời nhiệm vụ của Mẹ trong việc cứu độ không chấm dứt nhưng Mẹ vẫn tiếp tục liên lỉ cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời. Với tình từ mẫu, Mẹ chăm sóc những anh em của Con Mẹ đang lữ hành trên dương thế và đang gặp bao nguy hiểm thử thách cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc quê trời.”210
Ân sủng cứu độ đời đời chỉ phát xuất từ hi tế núi Can-vê, từ công trình cứu độ của Đấng Cứu Thế và Trung Gian (x. Ga 19:36). Thiên Chúa toàn năng đã giao phó cho Đức Ma-ri-a  nhiệm vụ “ban mọi ân sủng cứu độ cho chúng ta” và vì thế Mẹ đã xứng đáng “được Giáo Hội kêu cầu” là “Mẹ Trung Gian.”211 Phần chú thích về từ ngữ “Mẹ Trung Gian” trong hiến chế Lumen Gentium của Công Đồng Va-ti-ca-nô II có nhắc lại nhiều giáo huấn chính thức về vai trò Trung Gian và ân sủng của Đức Ma-ri-a  mà các vị Giáo Hoàng như Lê-ô XIII,212 Pi-ô X,213 Pi-ô XI,214 và Pi-ô XII215 đã giảng dạy.  Công Đồng không hề giản lược nhưng còn tiếp nhận và xác quyết truyền thống phong phú mà các Đức Thánh Cha vẫn lập đi lập lại trong giáo huấn thông thường về Đấng Trung Gian mọi ân sủng.

ĐỨC GIO-AN PHAO-LÔ II
VÀ MẸ TRUNG GIAN MỌI  ÂN SỦNG
(Ga 19:26)
Với tài hùng biện đặc biệt, Đức Gio-an Phao-lô II đóng góp đáng kể vào giáo lý về thiên chức làm Mẹ phổ quát trong bình diện ân sủng của Đức Ma-ri-a,216 “Đấng Trung Gian ân sủng.”217
Đức Gio-an Phao-lô II đã miêu tả thiên thức làm Mẹ phổ quát mới mẻ của Đức Ma-ri-a  trong tư cách là Đấng Trung Gian trong bình diện ân sủng như một ân huệ cuối cùng mà Chúa Cứu Thế đã ban cho toàn thể nhân loại trên đỉnh Can-vê: “Đức Ma-ri-a là ân sủng cuối cùng Chúa ban cho nhân loại như kết quả hi tế của Chúa. Đây là cử chỉ Chúa tôn vinh công cuộc cứu độ của Người. Trối môn đệ yêu dấu lại để Mẹ nhận làm con, Chúa Giê-su đã mời Mẹ đón nhận hi tế tử nạn của Chúa, và như một cái giá phải trả cho sự chấp nhận này, Chúa đã mời Mẹ chấp nhận thiên chức làm Mẹ mới mẻ. Vì Chúa Cứu Thế là của tất cả nhân loại, nên Chúa cũng muốn làm cho thiên chức làm Mẹ của Đức Ma-ri-a có một chiều kích vĩ đại nhất. Vì vậy, Chúa đã chọn Gio-an làm đại diện cho tất cả các môn đệ Chúa yêu dấu và Chúa muốn họ hiểu rằng tặng ân Đức Ma-ri-a là một dấu hiệu của tình yêu mến ân cần đặc biệt. Với tình yêu này, Chúa ôm trọn mọi người muốn làm môn đệ Chúa, mọi ki-tô hữu và toàn thể nhân loại. Thiên chức làm Mẹ phổ quát trong bình diện thiêng liêng là kết quả của việc Đức Ma-ri-a đã cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa Con, một sự cộng tác được khởi đầu trong niềm vui ngày Truyền Tin và được thực hiện xuyên suốt đến đau thương vô cùng trên núi Can-vê.”218
Lần khác, Đức Gio-an Phao-lô II còn nói đến ân sủng làm Mẹ thiêng liêng phổ quát của Đức Ma-ri-a mà Chúa Cứu Thế trong giây phút hấp hối trên đỉnh Can-vê đã ban cho Mẹ như một phương tiện tiếp nhận “Sức Sống Mới” từ sức mạnh thập giá. Đồng thời, Đức Thánh Cha cũng nói lên ý muốn của Chúa Cứu Thế muốn đi sâu vào tâm hồn đau khổ của các tín hữu thông qua Trái Tim Mẹ: “Chúa Cứu Thế chí thánh muốn đi sâu vào từng tâm hồn đau khổ nhờ Trái Tim Mẹ Rất Thánh là người đã được cứu chuộc trước tiên và cũng là người cao cả nhất. Như thế đã mở rộng chức làm Mẹ mà Chúa Thánh Thần đã sử dụng để ban cho Mẹ cuộc sống trước kia, Chúa Cứu Thế trong giây phút tử nạn đã ban cho Đức Ma-ri-a Trọn Đời Đồng Trinh một thiên chức làm Mẹ mới mẻ trên bình diện thiêng liêng phổ quát đối với toàn thể nhân loại, để mỗi người trong suốt cuộc hành trình đức tin được cùng Mẹ giữ mãi tình khắng khít với Đấng tử nạn trên thập giá, và để mọi đau khổ nhờ sức mạnh của thập giá mà có được một sức sống mới, để không còn là sự yếu đuối của con người nữa, nhưng là quyền năng  của Thiên Chúa.”219
Địa vị Trung Gian hiền mẫu của Mẹ Ma-ri-a  mang tính phổ quát vì đó là sự tham dự vào công trình cứu chuộc phổ quát của Đấng Trung Gian duy nhất. Cho nên sự phân phát các ân sủng núi Can-vê cũng mang tính phổ quát. Đức Gio-an Phao-lô II cho rằng thiên chức Trung Gian hiền mẫu của Mẹ Ma-ri-a là kết quả của việc hoàn thành mầu nhiệm Vượt Qua của Đấng Cứu Chuộc. Mẹ Chúa Ki-tô có một vị trí trung tâm trong mầu nhiệm này, một mầu nhiệm bao trọn từng cá nhân cũng như toàn thể nhân loại, cho nên từng người cũng như toàn thể nhân loại đều được Chúa trao phó cho Mẹ: “... Thiên chức làm Mẹ mới mẻ của Đức Ma-ri-a phát xuất từ đức tin, là hoa quả của tình yêu mới mẻ nhưng đã đạt đến mức độ viên mãn dưới chân thập giá vì Mẹ hiệp thông trong tình yêu cứu độ của Chúa Con.”220 Chức vụ Trung Gian hiền mẫu của Đức Ma-ri-a đặt nền tảng trên sự kính trọng sâu xa của Mẹ đối với phẩm giá mỗi con người vì họ được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa. Người mẹ nào cũng quan tâm và yêu từng đứa con. Cũng vậy, Mẹ Trung Gian cũng lưu tâm và yêu thương mỗi người con nhân loại hằng cần đến dòng sữa thiêng liêng ơn thánh hóa.
Địa vị Trung Gian của Mẹ Ma-ri-a cũng mang tính phổ quát như những ân sủng cứu độ mà Chúa Cứu Thế đã đem lại, vì Chúa đã chết cho toàn thể nhân loại. Đức Gio-an Phao-lô II nhắc nhở rằng ơn được nhận Đức Ma-ri-a làm Mẹ trong bình diện ân sủng là một ơn sủng mà Chúa Ki-tô đã ban cho từng người: “Đấng Cứu Thế đã trao phó Mẹ Người cho môn đệ, và đồng thời trao Mẹ làm Mẹ của môn đệ. Vai trò làm Mẹ của Đức Ma-ri-a vì thế trở thành một gia sản chung của loài người, là một ân ban, một quà tặng mà chính Đức Ki-tô đích thân trao ban cho từng người.”221
Đức Gio-an Phao-lô II đã không ngần ngại vâng theo thánh ý của Đấng Trung Gian duy nhất khi dùng quyền giáo huấn để rao giảng về Mẹ Chúa Giê-su, ngài “đặt Mẹ vào vị trí trung tâm,” có nghĩa là Mẹ hành động trong tư cách người Trung Gian chứ không phải như một người ngoài cuộc vì địa vị của Mẹ là một người Mẹ đích thực.222 Mẹ còn được trao một chức vụ riêng nữa là Trung Gian hiền mẫu trong ngày Chúa tái lâm.”223 Và vì thế, Đức Ma-ri-a xứng đáng được kêu cầu trong tước hiệu “Đấng Trung Gian mọi ân sủng.”224
Tóm lại, chúng ta thấy những lời giáo huấn của các Đức Thánh Cha về trình thuật Gio-an 19:26 nói về Mẹ Chúa Giê-su như một lời xác quyết được lặp đi lặp lại về việc Mẹ được Thiên Chúa Toàn Năng ưu tuyển làm người Trung Gian cùng với Đấng Trung Gian duy nhất để phân phát mọi ân sủng mà Đấng Cứu Thế đã đem lại một cách vinh thắng trên đỉnh Can-vê.
Trong chương trình Thiên Chúa áp dụng mầu nhiệm ân sủng cứu độ cho toàn thể nhân loại vào các thời đại khác nhau225 có bao gồm vai trò Trung Gian trung tâm của Đức Ma-ri-a là Mẹ Chúa Cứu Thế và là E-và Mới.226 Mọi ân sủng cứu độ, bất kể được ban vào thời điểm nào, đều phát xuất từ vinh thắng của Chúa Ki-tô trên thập giá, mà Đức Ma-ri-a  là người đã cộng tác một cách cá biệt vào cuộc vinh thắng cứu độ chống lại cựu xà và tội lỗi,227 nên với tư cách là Trung Gian hiền mẫu, Mẹ ban phát những ân sủng sự sống đời đời cho nhân loại, đem lại sự sống siêu nhiên cho các linh hồn.228 Sứ mạng phổ quát của Đức Ma-ri-a trong việc phân phát các ân sủng mầu nhiệm của Chúa không hề làm suy giảm vị trí tối thượng của Chúa Giê-su Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất. Nhưng đúng hơn, sự Trung Gian của Mẹ còn làm sáng tỏ quyền năng và phẩm giá của Đấng Trung Gian duy nhất, Tác Giả mọi ơn thánh, vì sự Trung Gian phổ quát của Mẹ hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa.229
Nhờ vinh thắng thập giá, Chúa Giê-su trở thành Ông Chúa (Dominus), Vua mọi quốc gia, mọi dân tộc. Chúa Giê-su cũng đặt Mẹ Người, Đấng Đồng Công, Đấng Trung Gian, làm Bà Chúa (Domina), làm Nữ Vương mọi dân nước,230 vì Mẹ đã cộng tác vào vinh thắng của Người. Vì vinh quang của Vua Giê-su bao trọn toàn nhân loại231 và cao vượt mọi vinh quang thiên đàng, nên Đức Ma-ri-a  là Nữ Vương và là Mẫu Hoàng thực sự.

TÔNG ĐỒ CÔNG VỤ I:4
 CHÚA THÁNH THẦN VÀ MẸ
TRUNG GIAN MỌI ÂN SỦNG
Từ khi nhân loại tiếp nhận Mẹ Trung Gian phổ quát dưới chân thập giá, thì Mẹ Ma-ri-a hằng thực hiện sứ mạng hiền mẫu đối với những môn đệ đầu tiên của Chúa Phục Sinh. Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II giải thích: “Chúa đã để Mẹ lại giữa lòng Giáo Hội mới khai sinh với tư cách làm Mẹ, ‘đây là Mẹ con.’ Như vậy bắt đầu hình thành một mối giây đặc biệt giữa người Mẹ đó với Giáo Hội. Thực vậy, Giáo Hội vừa khai sinh là hoa quả của thập giá và phục sinh của Con Mẹ. Ngay từ đầu, Đức Ma-ri-a  đã tự hiến tất cả cho thân thể và sự nghiệp của Con mình, thì Mẹ cũng không thể không dành cho Giáo Hội, ngay từ những ngày đầu, sự hiến mình của người Mẹ. Sau khi Chúa Con về trời, nhiệm vụ làm Mẹ của Đức Ma-ri-a trong Giáo Hội chính là làm Trung Gian hiền mẫu cầu bầu cho tất cả con cái của mình. Mẹ cộng tác vào hoạt động cứu độ của Đấng Cứu Thế Con Mẹ.”232 Mẹ Trung Gian hiền mẫu đã hiện diện với Giáo Hội non trẻ trong phòng Tiệc Ly để tiếp nhận tặng ân Chúa Cứu Thế đã hứa ban là Chúa Thánh Thần, Đấng Hướng Dẫn và Thánh Hóa (x. Ga 14:26; 16:12; 1Pt 1:2). Sự hiện diện và kinh nguyện của Đức Ma-ri-a Trung Gian giữa các Tông Đồ có một vị thế đặc biệt hiệu quả trong việc can thiệp xin Chúa Thánh Linh hiện xuống trong ngày lễ Ngũ Tuần. Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã dạy rằng: “Chúng ta thấy các Tông Đồ trước ngày lễ Hiện Xuống đã kiên tâm hiệp ý cầu nguyện cùng với các phụ nữ và với Đức Ma-ri-a, Mẹ Chúa Giê-su, cùng với anh em Người (x. Cv 1:14), và chúng ta cũng thấy Đức Ma-ri-a đã tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần là Đấng đã bao phủ Mẹ trong ngày Truyền Tin.”233
Đó là những lời thánh Công Đồng nói về sự hiệp nhất sâu xa giữa Ngôi Ba Thánh Thần và Mẹ Chúa Giê-su, Hai Đấng mà ngay từ đầu công cuộc của Chúa Cứu Thế Trung Gian duy nhất đã có một mối hiệp nhất mật thiết và một quan hệ vô cùng sâu xa. Thánh Công Đồng còn nói: “Đức Thánh Trinh Nữ Ma-ri-a dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh đã hiến toàn thân cho mầu nhiệm cứu độ.”234
Từ giây phút được đầu thai vô nhiễm hội nhập vào gia đình nhân loại, Đức Ma-ri-a đã đi sâu vào mối hiệp nhất với quyền năng thánh hóa của Chúa Thánh Thần, căn nguyên làm cho Mẹ được tràn đầy ơn phúc.235 Chính Chúa Thánh Thần, Đấng đã phủ bóng mầu nhiệm lên Đức Trinh Nữ vâng phục trong sứ mạng quan phòng ngày Truyền Tin đã đem Ngôi Lời biến thành nhục thể đến để cứu độ chúng ta (x. Lc 1:35, 38; Mt 1:18; Gl 4:4-5). “Đức Trinh Nữ đã mang thai do phép Chúa Thánh Thần... Người mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần” (Mt 1:18, 20).
Với việc thăm viếng bà Ê-li-sa-bét của Mẹ Ma-ri-a, sự hiện diện của Chúa Thánh Thần đã tác động đến ơn thánh hóa của bào thai Gio-an Tẩy Giả và biểu lộ trực tiếp qua việc “... bà Ê-li-sa-bét được đầy ơn Chúa Thánh Thần, bà kêu lớn tiếng: ‘Phúc cho em và phúc cho Hoa Quả lòng em’” (Lc 1:41-42) .Chính Chúa Thánh Thần đã soi sáng cho bà Ê-li-sa-bét nhận ra được Mẹ Trung Gian và Hoa Trái của lòng Mẹ.
Mối liên kết mật thiết giữa Chúa Thánh Linh và Hiền Thê của Người (x. Kh 22:17) một lần nữa lại được thể hiện trong biến cố dâng Hài Nhi trong Đền Thánh. Chúa Thánh Thần thúc đẩy ông Si-mê-on vào Đền Thờ và thông báo cho Trinh Nữ Đồng Công biết rằng: “Một mũi gươm sẽ xuyên thấu lòng bà” (Lc 2:25, 27, 35). Sự hiệp nhất giữa Chúa Thánh Thần và vị Hiền Thê sau cùng đã nên đến cao điểm là thập giá, vì mối hiệp nhất ấy được cung hiến vô điều kiện cho sứ mạng cứu độ của Chúa Cứu Thế, Trung Gian duy nhất. Đức Gio-an Phao-lô II cho rằng sự hủy mình của Mẹ Ma-ri-a  trên đỉnh Can-vê tràn đầy sự hiện diện và quyền năng của Chúa Thánh Thần: “Mẹ đã phó thác toàn thân cho Thiên Chúa, không trừ sự gì trong sự qui phục hoàn toàn ý chí và lý trí đối với “Đấng có đường lối khôn thấu” (x. Rm 11:33). Dũng mãnh biết bao tác động của ân sủng trong tâm hồn Mẹ! Toàn diện biết bao ảnh hưởng, ánh sáng, và quyền năng của Chúa Thánh Thần ở nơi Mẹ!”236
Sau khi giá cứu chuộc đã được trả xong và kết quả của công cuộc ấy sẽ được ban phát thì tác động thánh hóa của Chúa Thánh Thần và sứ mạng Trung Gian hiền mẫu của Đức Ma-ri-a  cũng vẫn tiếp tục hiệp nhất khăng khít: công việc chung của Chúa Thánh Thần và Mẹ Trung Gian trong việc phân phát ân sủng cứu độ chắc chắn sẽ tiếp tục “cho tới lúc hoàn tất việc cứu rỗi mọi người được tuyển chọn.”237 Chính Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa và Đức Ma-ri-a là Đấng Trung Gian đã khởi đầu công trình cứu độ giao ước mới khi đem đến cho thế gian Đấng Cứu Độ trong ngày Truyền Tin; và cũng chính Chúa Thánh Thần và Mẹ Trung Gian sẽ hợp tác để hoàn thành viên mãn công cuộc cứu độ bằng việc phân phát các ân sủng sự sống đời đời cho Dân Chúa. Đó là công trình ân sủng nhân từ của Thiên Chúa, công trình ấy sẽ chỉ hoàn thành khi  Chúa Ki-tô, “Vua mọi dân nước” (Kh 15:3)238 tái lâm trong vinh thắng.

CHÚA THÁNH THẦN VÀ MẸ TRUNG GIAN
TRONG CÔNG CUỘC BAN PHÁT ÂN SỦNG
Ở Giáo Hội Đông phương, Tê-ô-phan Ni-xê-a (Theophanes of Nicaea) đã nhận ra mối hiệp nhất thánh thiêng giữa Chúa Thánh Thần và Mẹ Chúa Giê-su trong việc phân phát các ân sủng cứu độ. Ngài nói: “Mẹ đã tiếp nhận toàn vẹn các ân sủng tiềm tàng của Chúa Thánh Thần và rộng tay ban phát chia sẻ cho mọi người làm rạng sáng ân sủng của Chúa... Mẹ Ma-ri-a là Đấng ban phát, phân phối tất cả  những ân sủng kỳ diệu của Chúa Thánh Thần, làm cho chúng ta trở thành những người anh em và được thông phần gia nghiệp với Chúa Ki-tô. Không những Mẹ hằng ban phát những ân sủng của Người Con yêu dấu của Mẹ cho các anh em Người, mà Mẹ còn coi họ như những người con riêng thật sự không phải theo quan hệ tự nhiên nhưng theo quan hệ ân sủng.”239
Về sau, trong Giáo Hội Tây Phương, thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho cũng đã trình bày một cách tài tình về sự hợp tác giữa Chúa Thánh Thần và Mẹ Trung Gian trong việc phân phát mọi ân sủng. Chúa Thánh Thần đã trao phó cho Đức Ma-ri-a, Hiền Thê của Người toàn bộ kho tàng ân sủng trời cao dành cho nhân loại; và Chúa Thánh Thần chỉ muốn phân phát các ân sủng cứu độ qua bày tay thanh khiết Đức Ma-ri-a. Thánh nhân nói: “Chúa Thánh Thần đã thông ban cho Đức Ma-ri-a, Hiền Thê trung thành của Người những ơn cao cả nhiệm mầu và để mặc ý Mẹ muốn ban phát cho ai, khi nào, cách nào và bao nhiêu cũng được. Theo nguyên tắc, tất cả các ơn Thiên Chúa ban xuống cho nhân loại, đều phải qua Đức Mẹ hết.”240
Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa đã nhận từ Thiên Chúa Cha một sứ mạng cụ thể là “thánh hóa Giáo Hội cho đến muôn đời” (x. Ga 20:22; Rm 15:16; 1Pt 1:2),241 nhưng Chúa Thánh Thần đã muốn thể hiện tác động xuất phát từ thập giá Chúa Ki-tô242 bằng con đường Trung Gian nhân loại nhưng vinh quang là Hiền Thê Ma-ri-a của Người. Vì qua Mẹ, Tác Giả mọi ơn thánh là Chúa Giê-su đã đến trần gian nhờ quyền năng của chính Chúa Thánh Thần (x. Lc 1:35; Mt 1:18-20). Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa và Đức Ma-ri-a cao cả đã được Thiên Chúa Cha trao phó một sứ mạng chung từ sau biến cố Can-vê: cả Hai Đấng được sai đến để tiếp nhận những ân sủng vô cùng từ hi tế của Chúa Cứu Thế để thánh hoá và biến đổi bộ mặt trái đất bằng việc phân phát rộng rãi những ân sủng sự sống đời đời cho nhân loại.
Một thần học gia danh tiếng thế kỷ XIX là M.J. Scheeben đã có những đóng góp giá trị vào việc giải thích sự hợp tác rất mật thiết giữa Chúa Thánh Thần và Mẹ Trung Gian trong công trình thánh hóa con người. M.J. Scheeben  so sánh công việc hợp tác của Mẹ Ma-ri-a với Chúa Thánh Thần tương tự như Nhân Tính là công cụ cho Thần Tính Chúa Ki-tô: “Điểm đặc trưng của Đức Ma-ri-a trong tư cách là Hiền Thê của Chúa Ki-tô gồm chứa trọn vẹn trong khả năng Mẹ tiếp nhận và làm đền thờ cho Chúa Thánh Thần. Cũng thế, căn bản cho khả năng đặc biệt và phẩm cách hoạt động của Mẹ phải được qui tới khả năng này... Đức Ma-ri-a là cơ thể (organ) của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần làm việc trong Mẹ cũng giống như Thần Tính Chúa Ki-tô là Ngôi Lời ở trong Nhân Tính của Ngài. Và điều này có một ý nghĩa đầy đủ và rõ ràng hơn mọi trường hợp của các thụ tạo khác.”243 M.J. Scheeben còn gọi Mẹ Chúa Giê-su là một “cơ thể mạnh mẽ và đáng tin cậy của Chúa Thánh Thần.”244 Tác động thánh hóa của Mẹ Trung Gian phải được qui về sứ mạng của Mẹ là “công cụ nhân loại của Chúa Thánh Thần trong cùng một sứ mạng thánh hóa mà Thiên Chúa Cha đã giao phó chung cho Hai Đấng. Giáo thuyết hiểu và phác họa Đức Ma-ri-a như dụng cụ nhân loại được Chúa Thánh Thần sử dụng khi phân phát các ân sủng tương tự như Nhân Tính Chúa Ki-tô là dụng cụ nhân loại cho Ngôi Lời là một kiến thức có tính đột phá đặc biệt giúp hiểu sâu hơn về mầu nhiệm phân phát các ân sủng của Chúa Thánh Thần và Mẹ Trung Gian.
Gầy đây, những cống hiến của thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê đã đem lại cho Giáo Hội một tri thức giá trị đầy đủ về Thánh Linh học và Thánh Mẫu học cần thiết hiểu biết về sự hiệp nhất thánh thiện và nhiệm vụ của Chúa Thánh Thần và Đức Ma-ri-a trong mầu nhiệm ban phát các ân sủng cứu độ.245
Thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê cũng dùng ví dụ về sự hiệp nhất không thể tách lìa giữa Thần Tính và Nhân Tính trong cùng một ngôi duy nhất của Chúa Giê-su Ki-tô để diễn tả sự hiệp nhất kỳ diệu giữa Chúa Thánh Thần và Đức Ma-ri-a. Sự hiệp nhất này là căn bản thần học trình bày lý do Chúa Thánh Thần đã chọn để chỉ hoạt động qua Trung Gian của Đức Ma-ri-a. Thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê nói: “Người ta có thể nói được rằng Chúa Thánh Thần ở trong Đức Ma-ri-a giống như Ngôi Hai Thiên Chúa ở trong Nhân Tính của Chúa Giê-su. Dĩ nhiên cũng có sự khác biệt, vì nơi Chúa Giê-su có hai bản tính là Thần Tính và Nhân Tính cùng ở trong một ngôi duy nhất là Ngôi Hai Thiên Chúa. Bản tính và ngôi vị của Đức Ma-ri-a thì hoàn toàn khác biệt với bản tính và ngôi vị Chúa Thánh Thần. Tuy vậy, sự hiệp nhất của Hai Đấng thì hoàn toàn khôn tả đến nỗi Chúa Thánh Thần chỉ hoạt động qua Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm, Hiền Thê của Người....”246
Về việc khác biệt giữa bản tính và ngôi vị của Chúa Thánh Thần và Đức Ma-ri-a, thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê không ngần ngại nói rằng Đức Ma-ri-a - theo một ý nghĩa nào đó - chính là “Hiện-Thân-Nhập-Thể” (Incarnation) của Chúa Thánh Thần. Đây là một nỗ lực để trình bày ý nghĩa thần học của sự hiệp nhất rất thánh giữa Chúa Thánh Thần và Mẹ Trung Gian. Thánh nhân nói: “Ngôi Ba Thiên Chúa đã không hề nhập thể, mà từ ngữ “hiền thê” của nhân loại thì quá mờ nhạt không nói lên được tính cách hiện thực của mối liên kết giữa Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm và Chúa Thánh Thần, nên theo một ý nghĩa nào đó, chúng ta có thể xác quyết rằng Đức Trinh Nữ là “Hiện-Thân-Nhập-Thể” của Chúa Thánh Thần.247 Giống như Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã gọi Đức Ma-ri-a  là “Cung Thánh của Chúa Thánh Thần,”248 một bình chứa nhân loại cụ thể làm nơi cư ngụ riêng biệt và thẳm sâu cho Đức Thánh Hóa cư ngụ, thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê đã mô tả Đức Ma-ri-a  là “Hiện-Thân-Nhập-Thể” của Chúa Thánh Thần theo một ý nghĩa nào đó để nói về nơi cư ngụ trọn vẹn, về mặt thiêng liêng cũng như về mặt thể lý, của Chúa Thánh Thần, Đấng thực sự không hề nhập thể nhưng đã bảo vệ và đầy tràn trong Đức Trinh Nữ ngay từ giây phút Mẹ được đầu thai vô nhiễm.249
Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa và là Đấng ban phát các ân sủng cứu độ. Thánh Mác-xi-mi-li-an giải thích: “Với quyền năng cứu chuộc mà Chúa Ki-tô đã thực hiện, Chúa Thánh Thần làm cho các tâm hồn trở thành những đền thờ Thiên Chúa; Người làm cho chúng ta trở nên những người con và những người thừa tự của vương quốc thiên đàng như lời thánh Phao-lô tuyên bố: “Vì anh em đã được thánh hóa, anh em cũng được công chính hóa nhờ danh Chúa Giê-su Ki-tô và Chúa Thánh Thần” (1Cr 6:11). Tương tự như trong thư thứ nhất thánh Tông Đồ gởi cho các tín hữu thành Cô-rin-tô, chúng ta thấy rằng việc phân phát ân sủng đều tùy thuộc vào ý muốn của Chúa Thánh Thần... (1Cr 12:7-11).250
Đấng Thánh Hóa, nhờ giá cứu chuộc của Chúa Con, đã được Chúa Cha ban xuống và đã hoàn tất sứ mạng thánh hóa mặt đất chỉ qua sự Trung Gian của vị Hiền Thê là Đức Ma-ri-a, Trung Gian mọi ân sủng. Đây là hoạt động siêu nhiên có nền tảng là mối hiệp nhất khôn tả mà Thiên Chúa đã  quan phòng. Thánh Mác-xi-mi-li-an nói: “Mối hiệp nhất giữa Mẹ Vô Nhiễm và Chúa Thánh Thần vô cùng khôn tả và hoàn hảo đến độ  Chúa Thánh Thần chỉ hoạt động qua Đức Trinh Nữ Rất Thánh Hiền Thê của Người. Đây là lý do giải thích vì sao Mẹ đã trở thành Trung Gian mọi ân sủng Chúa Thánh Thần ban xuống. Vì mọi ân sủng đều là tặng ân Chúa Cha ban qua Chúa Con và bởi Chúa Thánh Thần, cho nên tất nhiên không có ân sủng nào mà Mẹ Ma-ri-a  không thể ban phát tùy ý Mẹ, vì các ân sủng đều trao cho Mẹ theo mục đích này.”251
Vì có công đề xướng một giáo thuyết rất nền tảng về mầu nhiệm Mẹ Chúa Giê-su, thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê đã được chính Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II phong tặng danh hiệu ‘Tông Đồ thời đại mới’ của Đức Ma-ri-a: “Thánh nhân đã xuất hiện trong thời đại mới của chúng ta như một tiên tri, một tông đồ trong kỷ nguyên mới của Đức Ma-ri-a... Như lời Đức Phao-lô VI đã tuyên bố trong lễ tôn ngài lên hàng chân phước, sứ mạng này đã làm rạng danh thánh nhân giữa muôn thần thánh vĩ đại và mọi tâm trí thiên phú, những người đã hiểu biết, tôn kính và ngợi khen mầu nhiệm Ma-ri-a.”252
Chúa Thánh Thần đã liên kết nên một và mật thiết khôn sánh với Đức Ma-ri-a, Hiền Thê và là dụng cụ của Người trong cùng một sứ mạng chung là thánh hóa các linh hồn. Vì mọi ân sủng cứu độ đều được ban qua Chúa Thánh Thần, và Chúa Thánh Thần chỉ hoạt động qua Mẹ Trung Gian, cho nên Đức Ma-ri-a chính thật là người Trung Gian của mọi ân sủng cứu độ được ban cho gia đình nhân loại.

TÓM LƯỢC
Mẹ Chúa Giê-su đã trở nên Trung Gian giữa Tác Giả nguồn ơn thánh và nhân loại qua lời Xin Vâng trước thông điệp của Sứ Thần (x. Lc 1:26-38). Sứ mạng của Đức Ma-ri-a trong tư cách là Trung Gian hiền mẫu mọi ân sủng cứu độ được phác họa trình tự từ biến cố thăm viếng bà Ê-li-sa-bét và thánh hóa hài nhi Gio-an Tẩy Giả (x. Lc 1:39-45), tiếp đến là tiệc cưới Ca-na, nơi Mẹ Trung Gian đã can thiệp để Đấng Trung Gian duy nhất thực hiện phép lạ đầu tiên trong sứ mạng công khai của Ngài (x. Ga 2:1-11).
Sứ mạng làm Mẹ và làm Trung Gian mọi ân sủng cho nhân loại đã được thiết lập đầy đủ bên thập giá qua những lời của Chúa Cứu Thế trong giây phút hấp hối. Chúa đã ban cho nhân loại Người Mẹ yêu dấu riêng của mình làm tặng ân sau cùng từ cuộc hi sinh cứu độ (x. Ga 9:25-27). Cũng tại đó, Đức Ma-ri-a còn được ban tặng sứ mạng làm Trung Gian phân phát mọi ân sủng cứu độ, một sứ mạng sẽ thực sự bắt đầu sau khi Mẹ được lên trời vinh quang.253
Sứ vụ ban phát mọi ân sủng cứu độ của Mẹ Trung Gian được thực hiện trong sự liên kết hiệp nhất với Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa (x. Lc 1:35; Lc 2:25,27; Cv 1:4; Kh 22:17). Mẹ Ma-ri-a là dụng cụ nhân loại của Chúa Thánh Thần trong sứ mạng thánh hóa, và Chúa Thánh Thần muốn phân phát mọi ân sủng trời cao mà Chúa Cứu Thế đã sắm được trên thập giá chỉ qua Mẹ Trung Gian, Hiền Thê cao quí của Người.
Chúng ta thấy rằng giáo lý Đức Ma-ri-a  Trung Gian mọi ân sủng đã được trình bày trong Thánh Kinh, được ghi chép và truyền lại, và được quyền giáo huấn của Giáo Hội luôn giảng dạy, được thể hiện trong các kinh nguyện và nếp sống phụng vụ của Giáo Hội. Giáo Hội đã công nhận đời sống tràn đầy tính Giáo Hội phong phú của Mẹ Chúa Giê-su, Đấng Trung Gian mọi ơn thánh. Vì thế Giáo Hội đã rất chính đáng khi dạy rằng: “Thánh ý Chúa muốn ta được mọi ơn qua Đức Ma-ri-a.”254

CHƯƠNG III
ĐỨC MA-RI-A, VỊ TRẠNG SƯ
CHO DÂN CHÚA

“Chúng con chạy đến nhờ Mẹ che chở,
Xin đừng chê chối lời chúng con cầu xin
trong những khi khẩn thiết.
Xin giải cứu chúng con
Khỏi mọi nguy hiểm,
Ôi Mẹ Rất Thánh Chúa Trời,
Trinh Nữ diễm phúc,
Muôn đời vinh quang!”


Trong kinh nguyện dâng kính Mẹ Thiên Chúa rất xa xưa có từ khoảng thế kỷ thứ ba này,255 Giáo Hội sơ khai của Chúa Ki-tô đã biểu lộ một niềm tin sâu xa vào thế lực cầu bầu của Mẹ Ma-ri-a, người mà Giáo Hội hằng cầu xin nâng đỡ bảo vệ mình trong những cơn nguy nan thử thách. Công Đồng Va-ti-ca-nô II cho chúng ta thấy rằng Giáo Hội đã tôn vinh Đức Ma-ri-a ngay từ thưở đầu: “Các giáo hữu cùng nhau nương ẩn dưới sự che chở của Đức Ma-ri-a bằng những lời cầu nguyện trong mọi cơn gian nan và thiếu thốn.”256 Công Đồng còn cho thấy về thói quen cổ xưa của Giáo Hội trong việc kêu cầu danh thánh Đức Ma-ri-a dưới tước hiệu là Đấng Trợ Giúp cầu bầu cho Dân Chúa trong những lúc nguy nan: “Đức Trinh Nữ Rất Thánh đã được kêu cầu dưới tước hiệu Đấng Trạng Sư....”257
Mẹ Đồng Công, Đấng đã thông phần cá biệt với Chúa Cứu Thế trong việc đem lại các ân sủng cứu độ vẫn luôn tiếp tục sứ mạng cùng với Đấng Trung Gian duy nhất và Đấng Thánh Hóa ban phát các ân sủng. Sứ mạng Trung Gian của Đức Ma-ri-a trong chương trình cứu độ nhân loại của Thiên Chúa còn bao hàm nhiệm vụ được tiền định làm Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa. Cùng với việc làm Trung Gian ban phát các ân sủng cho nhân loại, Đức Ma-ri-a còn hoạt động như một vị Trạng Sư cầu bầu môi giới cho quan hệ giữa họ với Thiên Chúa. Đức Ma-ri-a không những làm Trung Gian ban các ơn sủng của Thiên Chúa cho nhân loại, Mẹ còn làm Trung Gian chuyển cầu những lời cầu xin của nhân loại lên Thiên Chúa với tư cách phục vụ khiêm tốn. Qua Chúa Con và bởi Chúa Thánh Thần, Đức Ma-ri-a đã nhân danh nhân loại cầu xin Thiên Chúa trong tư cách là Trạng Sư, đặc biệt trong những giờ phút khó khăn nguy hiểm của họ.

SỨ MẠNG VỊ MẪU HOÀNG CỰU ƯỚC
(1V 2,8,15; 2V 11,24; Cn 31:8,9)
Chúng ta có thể thấy được hình ảnh xác thực về sứ mạng Mẹ Chúa Giê-su, Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa qua sứ mạng của các vị mẫu hoàng trong Cựu Ước258 dưới triều đại nhà Đa-vít nước Ít-ra-en.
Trong vương quốc Ít-ra-en, mẹ vua được gọi là mẫu hoàng (tiếng Do Thái là gebirah, có nghĩa là bà lớn).259 Vì các vua chúa Ít-ra-en thường rất có nhiều vợ, cho nên mẹ của đức vua được chọn làm mẫu hoàng của vương quốc vì bà có mối quan hệ máu mủ với đức vua. Với chức vụ cao quí ấy, mẫu hoàng giúp đỡ đức vua trong việc cai trị vương quốc (x. 2V 11:3; 1V 2:19; 1V 15:9-13; Dr 13:18-20).
Chức vụ và uy quyền mẫu hoàng nhờ có quan hệ huyết thống mật thiết với đức vua đã làm cho bà trở nên trạng sư mạnh thế nhất giúp đỡ thần dân trước mặt đức vua. Theo Cựu Ước, trạng sư là người được mời đến can thiệp giúp đỡ người khác trong lúc cần thiết, nhất là trước tòa án.260 Không ai có quyền thế trước mặt vua hơn mẫu hoàng là người thường ngồi bên hữu đức vua (x. 1V 2:19-20). Mẫu hoàng cũng còn là người cố vấn cho đức vua trong những vấn đề của đất nước (x. Cn 31:8-9; Ks 22:2-4).261
Vai trò được công nhận của mẫu hoàng đối với đức vua để giúp đỡ người khác được thể hiện rõ nét qua trường hợp của bà Bát-sê-ba, mẹ vua Sa-lô-môn. Bà đã yêu cầu đức vua thương giúp một thần dân: “Đức vua chỗi dậy đến gặp mẹ, ngài cúi phục trước mặt mẹ, sau đó lên ngai và mời mẹ ngồi, bà đã ngồi bên hữu đức vua. Mẫu hoàng tâu: ‘Mẹ có một yêu cầu nhỏ, con đừng từ chối Mẹ.’ Đức vua đáp: ‘Thưa mẹ, xin mẹ cứ nói, con sẽ không từ chối mẹ đâu’” (1V 2:19-20). 262
Hình ảnh và sứ mạng của người mẫu hoàng trong Cựu Ước trong tư cách trạng sư cho muôn dân trước mặt đức vua là một hình ảnh tiên báo về sứ mạng của vị Mẫu Hoàng vĩ đại trong Tân Ước. Đức Ma-ri-a, Trinh Nữ thành Na-da-rét chính là Mẫu Hoàng trong vương quốc Thiên Chúa vì người là Mẹ Chúa Ki-tô, Vua mọi dân nước.263 Người Nữ dưới chân thập giá (x. Ga 19:26) đã trở thành Mẫu Hoàng cùng cai trị với Đức Ki-tô, Vua muôn dân nước, và bởi thế, Mẹ là Trạng Sư, là Mẫu Hoàng cho Dân Chúa trên thiên quốc, nơi Mẹ chính là Người Nữ mặc mặt trời... trên đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao (Kh 12:1).

TRẠNG SƯ VÀ MẪU HOÀNG CHO DÂN CHÚA
(Kh 12:1)
Nhiệm vụ của Mẹ Chúa Giê-su, Người Nữ vĩ đại, Mẹ của Chúa các chúa (Kh 19:16) đã được Thánh Kinh đề cập đến suốt từ Sáng Thế Ký đến sách Khải Huyền. Theo lời Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, Thánh Kinh đã nói về mối liên hệ hết sức mật thiết giữa Mẹ với Chúa Ki-tô và với Giáo Hội: “... Như vậy Thánh Mẫu Thiên Chúa cũng hiện diện trong mầu nhiệm Chúa Ki-tô nhờ Giáo Hội như là Người Nữ đã được Sáng Thế Ký nói đến (3:15) ngay từ lúc đầu, và trong sách Khải Huyền (12:1) vào giai đoạn kết cuộc của lịch sử cứu độ.”264 Qua nhiều trang Tân Ước, chúng ta nhìn ra được chức vụ mà Thiên Chúa đã quan phòng cho Đức Ma-ri-a trong tư cách Mẫu Hoàng, là Trạng Sư trong Giáo Hội, vương quốc của Đức Ki-tô.

MẪU HOÀNG TRẠNG SƯ
TRONG VƯƠNG QUỐC MỚI CỦA ĐỨC KI-TÔ
(Lc 1:32; 1:44; Ga 2:3; 19:26; Kh 12:1)
Trong tông thư giáo huấn về quyền Nữ Vương vũ trụ265 của Đức Ma-ri-a, Đức Pi-ô XII đã nói: “... Người đầu tiên công bố chức vụ vương giả đó của Đức Ma-ri-a là tổng thần Gáp-ri-en, tiếng nói từ trời cao.”266
Trong sứ điệp của Sứ Thần, thiên chức Nữ Vương và Trạng Sư của Đức Ma-ri-a, một trinh nữ thuộc dòng tộc Đa-vít đã được nói đến lần đầu tiên. Trinh Nữ sẽ thụ thai Con Trai và Người Con ấy sẽ nhận lãnh ngai vàng Đa-vít, vương quốc của Người sẽ tồn tại muôn đời: “Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao; Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai báu Đa-vít tổ phụ Người, Người sẽ cai trị nhà Gia-cóp đến muôn đời. Và triều đại của Người sẽ vô tận” (Lc 1:32-33).
Vị Mẫu Hoàng Trạng Sư trong vương quốc mới của Đức Ki-tô một lần nữa lại được công nhận qua những lời bà Ê-li-sa-bét: “Bởi đâu tôi được ơn trọng này là Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi?” (Lc 1:44). Tước hiệu “Mẹ Chúa” trong ngôn ngữ triều đình Ít-ra-en cổ xưa ám chỉ đến người mẹ của hoàng đế đương triều, người được gọi là “chúa.267 Bà Ê-li-sa-bét thuộc dòng dõi Áp-ra-ham là một người Ít-ra-en công chính, dưới ơn soi động và quyền năng của Chúa Thánh Thần, bà đã nói đến thiên chức mới là Nữ Vương và Trạng Sư của Đức Ma-ri-a (x. Lc 1:41-42). Như thế, quyền năng Chúa Thánh Linh đã xác nhận Đức Ma-ri-a là Nữ Vương của Tân Vương Giê-su.
Mẫu Hoàng Thiên Chúa đã thể hiện nhiệm vụ Trạng Sư cho dân trong tiệc cưới Ca-na (x. Ga 2:1-11). Trước nhu cầu cấp thiết của gia chủ và những người dự tiệc, Đức Ma-ri-a đã can thiệp với Chúa  (bằng một sự tin tưởng còn mạnh mẽ hơn của bà Bát-sê-ba khi yêu cầu con là vua Sa-lô-môn). Phúc âm ghi lại: “Bấy giờ, rượu hết, Mẹ Chúa Giê-su nói với Ngài: ‘Họ hết rượu rồi.’ Và Chúa Giê-su nói với Mẹ: ‘Này Bà, chuyện đó có can gì đến Tôi và Bà, giờ Tôi chưa đến.’ Mẹ Người nói với gia nhân: ‘Ngài bảo gì các anh cứ làm như vậy.’” (Ga 2:3-5). Một lần nữa, Đức Ma-ri-a lại được so sánh với Người Nữ trong sứ mạng cứu thế của Con, và vị Trạng Sư đã thành công trong việc can thiệp với Con mình trước những nhu cầu của dân chúng (Ga 8:11). Đức Ma-ri-a là phát ngôn nhân cho ý muốn Con Mẹ,”268 “Mẹ biết... Mẹ có thể nói với Con mình những nhu cầu của nhân loại, và quả thật Mẹ có quyền làm như vậy”269 trong tư cách Trạng Sư.
Mặc khải về thiên chức Nữ Vương và Trạng Sư cho Dân Chúa được tìm thấy trong sách Khải Huyền, quyển cuối cùng của Thánh Kinh. “Một dấu lạ vĩ đại xuất hiện trên trời, một Người Nữ mặc mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12:1).
Đức Ma-ri-a là Người Nữ sinh ra Chúa Ki-tô, “Đấng sẽ đến cai trị muôn dân bằng roi sắt” (Kh 12:5). Mẹ là Người Nữ được Sáng Thế Ký tiên báo sẽ chiến đấu bên cạnh Đấng Cứu Thế, Con mình chống lại con rắn (x. St 3:15; Kh 12:5). Vì Hài Nhi chính là Chúa Giê-su nên Người Nữ sinh con (x. Kh 12:5) tất nhiên chính là Đức Ma-ri-a.270 Đức Gio-an Phao-lô II đã nói trong phần đầu bức tông thư mang tựa đề Một Điềm Lạ Vĩ Đại của ngài như sau: “Điềm lạ vĩ đại mà thánh Gio-an Tông Đồ đã nhìn thấy trên trời, ‘một Người Nữ mặc mặt trời,’ theo chú giải của phụng vụ thánh chính là Đức Trinh Nữ Rất Thánh Ma-ri-a, Mẹ của mọi người do ân sủng Chúa Ki-tô là Đấng Cứu Thế.”271
Đức Ma-ri-a, Nữ Vương, Trạng Sư đã được đội triều thiên mười hai ngôi sao (x. Kh 12:1) tượng trưng cho mười hai chi tộc Ít-ra-en và mười hai Tông Đồ trong vương quốc mới. Người Nữ trong sách Khải Huyền chính là Đức Ma-ri-a vừa chính là Giáo Hội,272 điều này nói lên mối liên hệ mật thiết hữu cơ giữa hình ảnh Thiếu Nữ Si-on và dân tộc Ít-ra-en mới. Nhà thần học M.J. Scheeben đã phát biểu: “Vinh quang thiên đàng của Người Nữ được diễn tả trong điềm lạ vĩ đại này trước hết phải qui về Đức Ma-ri-a, Đấng đã được tiên tri I-sa-i-a tiên báo  như một điềm lạ thánh thiêng (x. Is 7:14)... Những đặc điểm của thị kiến ấy đã được mượn từ Đức Ma-ri-a; Đức Ma-ri-a không những được coi như một mô hình hay một mẫu mực của Giáo Hội mà còn được coi như một nguyên mẫu (prototype) hiệp nhất hữu cơ với Giáo Hội, ân cần đến Giáo Hội, đại diện cho Giáo Hội, hoạt động trong Giáo Hội và qua Giáo Hội.”273
Sau cuộc đời dương thế và tiếp theo là lên trời vinh quang, người Thiếu Nữ Si-on đã được đội triều thiên phong làm Nữ Vương trong vương quốc Thiên Chúa, bởi vì Mẹ đã cộng tác trong cuộc chinh phục vương quốc cùng với Đấng Cứu Thế bên cây thập giá (x. Ga 19:26). Công Đồng Va-ti-ca-nô II nói rằng: “Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm được gìn giữ khỏi mọi vết tội nguyên tổ, đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế. Mẹ đã được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ để nên giống Con Mẹ trọn vẹn hơn là Chúa các chúa (x. Kh 19:26), Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết.”274 Vì Chúa Ki-tô xứng đáng là Vua, là Chúa muôn nước (x. Kh 5:9-10; Kh 15:4; 19:6).Nên Đức Ma-ri-a, Mẹ của Vua và Đấng Đồng Công trong cuộc chinh phục của Chúa Cứu Thế xứng đáng trở thành Nữ Vương, Gebirah, Người Mẹ vĩ đại của mọi dân nước.
Nhưng sứ mạng Trung Gian phổ quát cho Dân Chúa của Đức Ma-ri-a không hề chấm dứt sau cuộc lên trời vinh quang và được tôn phong làm Nữ Vương của Đức Ma-ri-a, nhưng đúng hơn, đó là một cuộc khởi đầu. Thánh Công Đồng đã nói: “Với tình từ mẫu, Mẹ chăm sóc những anh em của Con Mẹ đang lữ hành trên dương thế và đang gặp bao nguy hiểm thử thách, cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc quê trời.”275

CÁC GIÁO PHỤ VÀ TRẠNG SƯ MA-RI-A
Giáo Hội sơ khai đã sớm xác nhận và nương nhờ sứ mạng Trạng Sư trong chương trình cứu độ nhân loại mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Ma-ri-a. Khoảng thế kỷ II, thánh I-rê-nê đã so sánh nhiệm vụ làm Trạng Sư trước tòa Chúa của Đức Ma-ri-a khi ngài nói về bà E-và, người mẹ đầu tiên vì đã bất phục tùng nên cần phải được một người khác can thiệp giúp đỡ: “Trong khi E-và bất phục tùng Thiên Chúa thì Đức Ma-ri-a đã trọn niềm xin vâng, cho nên Trinh Nữ Ma-ri-a đã trở thành Trạng Sư (Advocata) cho trinh nữ E-và.”276 Thánh Ép-rem đã gọi Đức Ma-ri-a là “vị Trạng Sư thân thiện của các tội nhân.”277
Thánh Giê-ma-nô thành Công-tan-ti-nô đã mô tả sứ mạng của Trạng Sư Ma-ri-a như một người bảo vệ và bào chữa cho tội nhân rất vĩ đại, chỉ sau Chúa Ki-tô: “Sau Chúa Ki-tô, ai là người ân cần tìm kiếm những ích lợi cho chúng con hơn Mẹ? Ai bảo vệ cho chúng con trong những cơn cám dỗ làm chúng con đau khổ cho bằng Mẹ? Ai sẵn sàng bảo vệ những tội nhân và đấu tranh giùm họ như Mẹ?”278
Thánh Rô-ma-nô thế kỷ VI đã hình dung ra Mẹ Chúa Giê-su đang nói chuyện với Nguyên Tổ trong tư cách là người Trạng Sư cho hai vị với Chúa Ki-tô: “Thôi đừng khóc than nữa, Con sẽ là Trạng Sư cho ông bà với Con của con.”279
Thánh Bê-na-đô đã trình bày sáng tỏ chức vụ Trạng Sư cho nhân loại trước tòa Chúa Ki-tô của Đức Ma-ri-a, ngài nói: “Nếu bạn muốn có một vị Trung Gian bên tòa Chúa Ki-tô, hãy chạy đến cậy nhờ Đức Ma-ri-a.” Ngài còn nói: “Ôi Mẹ, Mẹ là Trung Gian của chúng con, xin hãy giải hòa chúng con với Con Mẹ, xin hãy giới thiệu chúng con với Con Mẹ, xin hãy đại diện cho chúng con trước Con Mẹ.”280 Mẹ Trạng Sư sẽ đại diện cho chúng ta trước tòa Chúa Con, can thiệp cho gia đình nhân loại và đem lại cho chúng ta những ân sủng cứu độ như bài thánh ca phụng vụ tuyệt vời Salve Regina có từ thế kỷ XII của Giáo Hội: “... Chúng con kêu khóc cùng Mẹ, chúng con là con cái lưu đầy đáng thương của E-và nhìn lên Mẹ, chúng con thở than và kêu khóc giữa thung lũng nước mắt này. Ôi Đấng Trạng Sư rất khả ái, xin hãy đưa mắt thương nhìn chúng con, và sau cuộc lưu đầy này, xin cho chúng con được thấy Chúa Giê-su, quả phúc của lòng Mẹ, ôi êm thay, dịu thay, đáng mến thay Trinh Nữ Ma-ri-a!”281

GIÁO HUẤN CỦA CÁC ĐỨC THÁNH CHA
VỀ ĐỨC MA-RI-A, ĐẤNG TRẠNG SƯ CHO DÂN CHÚA
Giáo huấn của các Đức Giáo Hoàng vốn công nhận và ngày càng làm sáng tỏ thêm sứ mạng có tính cách giáo lý về thiên chức Trạng Sư của Đức Ma-ri-a. Từ thế kỷ XVI đến nay, các Đức Thánh Cha vẫn nhiều lần nhắc đến thiên chức làm “Trạng Sư”282 cùng với Chúa Ki-tô cho các tín hữu của Đức Ma-ri-a.
Giáo huấn của các Đức Thánh Cha trong hai thế kỷ gần đây đã nói lên một sự công nhận đầy đủ, có tính cách chính thức về thiên chức Trạng Sư cho Dân Chúa của Mẹ Chúa Giê-su, thiên chức đã được Thánh Kinh và các giáo phụ nói đến.
Đức Pi-ô VII, trong giai đoạn chuyển tiếp sang thế kỷ XIX đã nói về thiên chức hiền mẫu cá biệt của Đức Ma-ri-a, Trạng Sư can thiệp cho nhân loại trước tòa Chúa Con như sau: “Trong khi những lời cầu của các đấng thánh trên thiên đàng thực sự có một giá trị nào đó trước mặt Thiên Chúa, thì lời cầu của Đức Ma-ri-a lại có một sức đảm bảo chắc chắn với quyền làm mẹ. Vì lý do đó, khi Mẹ đến trước ngai tòa của Chúa Con Chí Thánh, với tư cách Trạng Sư, Mẹ cầu khẩn, với tư cách Nữ Tì, Mẹ cầu xin, nhưng với tư cách làm mẹ, Nẹ truyền lệnh.”283 Cương vị Trạng Sư của Đức Nữ Vương trước tòa Chúa Giê-su Con Mẹ thực sự vượt quá cương vị mọi thần thánh khác.
Đức thánh Pi-ô X đã mạnh mẽ xác quyết nhiệm vụ Trạng Sư trước tòa Chúa và thiên chức Nữ Vương của Đức Ma-ri-a trong một kinh nguyện ngài soạn nhân dịp kỷ niệm lần thứ năm mươi ngày tuyên bố tín điều Đức Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội: “Ôi Mẹ diễm phúc, Nữ Vương, Trạng Sư của chúng con... Xin nhận lấy những lời cầu nguyện của chúng con. Chúng con van nài Mẹ, (và chúng con hợp một lòng một ý với Mẹ) dâng những lời cầu nguyện của chúng con lên trước tòa Chúa... để chúng con có thể đến được cửa cứu độ....” 284
Đức Pi-ô XI cho rằng thiên chức Trung Gian ân sủng và Trạng Sư cho tội nhân là những sứ vụ Chúa Con đã giao phó thêm cho Mẹ: “... Tin tưởng vào sự cầu bầu của Mẹ trước tòa Chúa Ki-tô, Chúa chúng ta, vị Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, Chúa đã muốn  Mẹ trở thành Trạng Sư cho các tội nhân và ban phát mọi ân sủng..."285 Thiên chức Trung Gian ân sủng và Trạng Sư cho các tín hữu có liên hệ mật thiết với nhau như lời Đức Pi-ô XI đã nói, cả hai thiên chức này có liên hệ chủ yếu đến thiên chức làm Mẹ của người đối với chúng ta: “Duy mình Thiên Chúa là Đấng ban ân sủng tùy theo mức độ mà sự khôn ngoan vô cùng của Người đã tiền định. Dù rằng ân sủng phát xuất từ Thiên Chúa, nhưng lại được ban qua Mẹ Ma-ri-a, Trạng Sư và Trung Gian, vì tình yêu mẫu tử của Mẹ đáng chúng ta đáp trả hiếu thảo. Cùng với một nhà thơ danh tiếng, chúng ta có thể ca tụng Đức Ma-ri-a như sau: ‘Ai muốn được ơn mà không nhờ đến Mẹ thì giống như kẻ muốn bay mà không có cánh.’ Thiên Chúa ban ân sủng, Đức Ma-ri-a nhận lãnh và ban phát lại.”286
Đức Pi-ô XI còn khuyến khích các bạn trẻ, những người còn đang bị vây bọc giữa muôn hiểm nguy và ngãng trở trên con đường đến với Chúa hãy nhận Đức Ma-ri-a làm Trạng Sư thực sự cho mình trước tòa Chúa bây giờ, và đặc biệt trong giờ chết. Ngài nói: “Cha muốn các bạn trẻ ngày hôm nay giữa muôn vàn nguy hiểm nên có một lòng sùng kính đối với Đức Ma-ri-a, hãy tưởng nghĩ về Mẹ suốt cuộc đời các con. Bằng những kinh nguyện trung thành, chúng ta hãy làm cho Đức Ma-ri-a thành nên vị Trung Gian, Trạng Sư mỗi ngày cho chúng ta hơn. Như vậy chúng ta có thể hy vọng rằng Mẹ, trong vinh quang thiên đàng, sẽ là Trạng Sư cho chúng ta trước tòa Chúa nhân lành trong giờ sau hết.”287
Đức Pi-ô XII đã trình giải sáng tỏ công việc của Đức Ma-ri-a, Trạng Sư trước tòa Chúa Con, trong sứ mạng can thiệp và hòa giải cho các tội nhân: “Mẹ Trạng Sư của chúng ta là Trung Gian giữa Thiên Chúa và tội nhân, Mẹ kêu nài lòng trắc ẩn để làm dịu đức công thẳng của vị Quan Tòa, Mẹ đánh động tội nhân và chiến thắng sự cứng lòng của họ.”288 Đối với Đức Pi-ô XII, Đức Ma-ri-a thực sự là “Nữ Vương, là Trạng Sư rất yêu dấu, là Trung Gian mọi ân sủng, là người phân phát tất cả kho tàng Thiên Chúa.”289
Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã khẳng định truyền thống phong phú ấy của Giáo Hội bằng việc tuyên xưng và kêu cầu Đức Ma-ri-a với tước hiệu “Trạng Sư.”290 Trong phần cuối của hiến chế Tín Lý về Giáo Hội, thánh Công Đồng còn kêu xin quyền năng can thiệp mạnh mẽ của Đức Ma-ri-a với Con Mẹ vì mục đích cần thiết và quan trọng của công cuộc đại kết và hiệp nhất thực sự giữa mọi dân tộc để trở thành dân Thiên Chúa. Tất cả mọi ki-tô hữu hãy thiết tha khẩn nguyện Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ loài người, để như Mẹ đã trợ giúp Giáo Hội sơ khai bằng lời cầu nguyện của mình, thì ngày nay được tôn kính vượt trên các thần thánh trên trời, Mẹ cũng cầu bầu cùng Con Mẹ trong sự hiệp thông toàn thể các thánh cho tới khi mọi gia đình dân tộc đã mang danh hiệu ki-tô hữu hoặc chưa biết Đấng Cứu Chuộc mình, đều hân hoan đoàn tụ trong an bình và hòa thuận, hợp thành một dân Thiên Chúa duy nhất, hầu vinh danh Ba Ngôi Thiên Chúa rất thánh và không phân chia.”291
Đức Gio-an Phao-lô II, ngoài việc xác nhận tước hiệu và vai trò Trạng Sư của Đức Ma-ri-a,292 đã dựa theo Công Đồng tôn nhận quyền năng can thiệp đặc biệt của Đức Ma-ri-a trước tòa Chúa cho những nhu cầu thời đại khẩn thiết và sự hiệp nhất mọi ki-tô hữu cũng như mọi dân tộc để tất cả trở nên một dân tộc cho Thiên Chúa. Quyền năng đặc biệt của Đức Ma-ri-a trong việc can thiệp hầu đưa đến sự đại kết Ki-tô giáo xuất phát từ vai trò Đồng Công đau khổ cho Giáo Hội của Mẹ trên đỉnh Can-vê, và từ ước muốn sâu xa của một người Mẹ muốn đoàn tụ mọi con cái của mình. Đức Thánh Cha nói: “Vì đã chịu đau khổ cho Giáo Hội nên Đức Ma-ri-a xứng đáng trở thành người Mẹ của sự hiệp nhất, Mẹ của tất cả các môn đệ của Con Mẹ, ... Giáo Hội công nhận Mẹ là người Mẹ hằng quan tâm đến sự phát triển của Giáo Hội và không ngừng can thiệp với Con Mẹ để xin cho các ki-tô hữu đức tin, đức cậy và đức mến ngày càng sâu xa. Đức Ma-ri-a mưu tìm đề cao sự hiệp nhất khả dĩ lớn lao nhất cho các ki-tô hữu, vì một người mẹ lúc nào cũng luôn tìm cách đảm bảo sự hòa thuận giữa các con cái. Không hề có một con tim nào ôm ấp ước mơ đại kết lớn lao hay nồng cháy hơn con tim của Đức Ma-ri-a. Mẹ chính là Người Mẹ hoàn hảo mà Giáo Hội luôn cậy nhờ trong mọi khó khăn của mình.”293
Thực sự, qua sự cầu bầu thần thế của Đức Ma-ri-a, Đấng mà Đức Gio-an Phao-lô II muốn mọi ki-tô hữu nhận làm “Người Mẹ chung,” chúng ta có thể hy vọng về một sự hiệp nhất thực sự giữa các con cái Thiên Chúa trong một Giáo Hội duy nhất của Chúa Ki-tô: “Như vậy tại sao chúng ta không coi Đức Ma-ri-a như người Mẹ chung của chúng ta, người Mẹ luôn đi trước chúng ta dẫn đầu đoàn chứng nhân đông đảo của niềm tin vào một Chúa duy nhất, Con Thiên Chúa, Đấng đã được thụ thai trong cung lòng vẹn sạch Mẹ nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần.”294 Chính nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, Đấng mà Mẹ Trạng Sư khẩn xin, sự hiệp nhất giữa các ki-tô hữu sẽ được thiết lập một khi mọi con cái Thiên Chúa đồng thanh cất tiếng gọi Đức Ma-ri-a là Mẹ.

KHẢI HUYỀN 22:17
CHÚA THÁNH THẦN VÀ MẸ TRẠNG SƯ
CHO DÂN CHÚA HÔM NAY  
“Chúa Thánh Thần và vị Tân Nương cùng cất tiếng ‘Hãy đến’” (Kh 22:17). Những lời sau cùng ấy của Thánh Kinh có lẽ đã đốt lên một niềm tin tưởng hy vọng nơi Dân Chúa vào công trình cứu độ hiện thời của Chúa Thánh Thần và Đức Ma-ri-a, Hiền Thê Vô Nhiễm của Người trong sứ mạng cầu bầu cho Giáo Hội hôm nay.
Điều đáng chú ý là danh từ “Đấng Cầu Bầu” (tiếng Hy Lạp parakletos có nghĩa là “được mời đến để giúp đỡ”)295 đã được Chúa Giê-su sử dụng trong bữa Tiệc Ly khi Người nói về sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần cho Giáo Hội tương lai (x. Ga 15:26). Việc các giáo phụ sử dụng lại danh từ ấy để chỉ về sự can thiệp cầu bầu cho nhân loại trước tòa Chúa của Đức Ma-ri-a296 đã làm sáng tỏ thêm sự cộng tác mật thiết giữa Chúa Thánh Thần và Trạng Sư Ma-ri-a trong sứ mạng can thiệp cho Giáo Hội từ trời cao mà các vị giáo phụ thời Giáo Hội sơ khai đã nói đến. Nhà thần học M.J. Scheeben  đã nhận định về tước hiệu Đấng Trạng Sư như sau: “Tước vị này đã được sử dụng hầu như riêng cho Đức Ma-ri-a, mà không cho một vị thánh nào khác. Vì nội dung rất phong phú của tước vị này và vì đây là tước hiệu mà Sách Thánh đã dùng để chỉ riêng về Chúa Thánh Thần nên tước hiệu này cũng gồm chứa một sự thánh hiến đặc biệt. Ở khía cạnh này, tước hiệu ấy phù hợp với Đức Ma-ri-a một cách đặc biệt, và càng đặc biệt hơn nữa do mối quan hệ đặc biệt giữa Mẹ và Chúa Thánh Thần, Đấng đã nhận làm của mình lời nguyện xin của Đức Ma-ri-a bằng những tiếng thở than khôn tả.”297
Sự hiệp nhất thắm thiết giữa Chúa Thánh Thần và Đức Ma-ri-a được biểu hiện qua những thuật ngữ chỉ về sứ mạng làm Trạng Sư can thiệp và sứ mạng làm Trung Gian giữa Thiên Chúa và nhân loại của Đức Ma-ri-a.298 Thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê đã góp phần làm nên nền tảng thần học cho giáo thuyết sứ mạng Trạng Sư trước tòa Chúa nhân danh nhân loại và sứ mạng cộng tác mật thiết với Chúa Thánh Thần của Đức Ma-ri-a.
Thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê đã giải thích sứ mạng Đức Ma-ri-a trong hoạt động của Thiên Chúa và trong đáp ứng của nhân loại như sau: “Mọi hành động  đều có một phản ứng dự kiện. Phản ứng là hiệu quả của hành động. Thiên Chúa Cha là nguyên lý tối thượng và là cùng đích. Còn Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm, Mẹ đầy ơn phúc. Về mặt ân sủng, Mẹ không thiếu gì. Con đường ân sủng luôn luôn như nhau: hành động thì từ Chúa Cha đến Chúa Con, và bởi Chúa Thánh Thần rồi qua Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm; còn phản ứng thì ngược lại: từ các thụ tạo qua Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm, bởi Chúa Thánh Thần, đến Chúa Ki-tô rồi trở về Chúa Cha.”299
Vì thế, vị trí của Đức Ma-ri-a hiện diện ở cả hai phía, đầu này của tác động của Thiên Chúa thánh hóa (vì Mẹ là Trung Gian), và đầu kia là đáp ứng của nhân loại (vì Mẹ là Trạng Sư môi giới của họ). Đức Ma-ri-a không phải là đích điểm cũng không phải là khởi điểm của hành động Thiên Chúa đối với nhân loại, nhưng Mẹ hiện-diện-dụng-cụ (instrumental  presence) ở cả hai nơi ấy, vì Mẹ đã hiệp nhất mật thiết với Chúa Thánh Thần.300
Chúng ta có thể thấy sứ mạng Trung Gian của Chúa Thánh Thần và Hiền Thê của Người trong biến cố ngày lễ Ngũ Tuần mà Thánh Kinh  đã ghi lại. Nhiệm vụ ở đây của Đức Ma-ri-a, Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa, là khẩn nài Thánh Thần Yên Ủi ngự xuống Giáo Hội trong những khi cần thiết đặc biệt. Mẹ đã cầu xin Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các thánh Tông Đồ và vẫn cầu xin cho Giáo Hội như Đức Gio-an Phao-lô II đã nói khi trích dẫn lời thánh Công Đồng: “Chúng ta thấy Đức Ma-ri-a (Cv 1:4) đã tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần là Đấng đã bao trùm Mẹ trong ngày Truyền Tin. Vậy trong kế hoạch của ân sủng được thực hiện dưới tác động của Chúa Thánh Thần có một mối tương quan rất đặc biệt giữa thời điểm Ngôi Lời nhập thể và thời điểm Giáo Hội khai sinh. Người đã nối kết hai thời điểm này là Đức Ma-ri-a: Đức Ma-ri-a ở Na-da-rét và tình yêu trong nhà Tiệc Ly ở Giê-ru-sa-lem. Trong cả hai trường hợp, sự hiện diện âm thầm nhưng thiết yếu của Mẹ đã trình bày con đường của việc ‘sinh ra từ Thánh Thần.’ Vậy Mẹ đã hiện diện trong mầu nhiệm Đức Ki-tô với tư cách làm Mẹ cũng hiện diện trong mầu nhiệm Giáo Hội nhờ thánh ý của Chúa Con và nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Và cũng trong Giáo Hội, Mẹ tiếp tục sự hiện diện hiền mẫu như lời Chúa Giê-su đã nói trên thập giá: ‘Này Bà, đây là Con Bà’, ‘Đây là Mẹ con.’”301
Vì là Trạng Sư, Đức Ma-ri-a nài xin Chúa Thánh Thần đến trợ giúp Giáo Hội trong những thời điểm cần thiết và Mẹ vẫn tiếp tục sứ vụ này cho đến ngày Chúa Ki-tô đến lần thứ hai, thời điểm mà “chỉ mình Chúa Cha biết” (x. Mc 13:32). Thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho đã được Đức Gio-an Phao-lô II coi như một chứng nhân và thầy dạy vì thánh nhân đã có những cống hiến đặc biệt cho “một linh đạo Ma-ri-a chân xác.”302 Thánh nhân đã hùng biện tuyên bố kết quả đang diễn ra từ sự cộng tác giữa Chúa Thánh Thần và Đức Ma-ri-a nơi các chi thể Chúa Ki-tô. Hoạt động thánh hóa và can thiệp ấy sẽ chỉ kết thúc vào ngày tận cùng của thế giới. Thánh nhân viết: “Trong Ba Ngôi Thiên Chúa, thì Ngôi Ba son sẻ không sinh ra một ngôi nào khác. Tuy nhiên cùng với, nhờ có, và trong Đức Ma-ri-a, Bạn Khiết Trinh, mà Chúa Thánh Thần có nguồn sinh lực dồi dào để tác tạo Ngôi Hai Nhập Thể, một kỳ công kiệt tác, cũng như tác tạo những linh hồn được cứu rỗi và những phần tử trong Nhiệm Thể mà Chúa Giê-su là Đầu. Chúa đã thực hiện công trình vĩ đại ấy với sự cộng tác của Mẹ và do Mẹ. Bởi đó, khi thấy Đức Ma-ri-a, Bạn Chí Thánh của mình ngự trị và hoạt động trong linh hồn nào thì lập tức Chúa Thánh Thần thi ân cách dư dật để tái sinh Chúa Giê-su trong linh hồn ấy và tái sinh linh hồn ấy trong Chúa Giê-su.” Chỗ khác, thánh nhân viết: “Đức Ma-ri-a đã cộng tác với Chúa Thánh Thần trong việc chịu thai và sinh ra Đấng Thiên-Chúa-Làm-Người, đó là một kỳ công kiệt tác vô song. Sau đó Mẹ tiếp tục sinh ra nhiều vị thánh vĩ đại khác. Vì công việc huấn luyện và đào tạo các vị thánh vĩ đại trước ngày tận thế là công việc Chúa đã dành riêng cho Mẹ.”303
Đức Gio-an Phao-lô II đã khẳng định tầm mức tối quan trọng trong việc sửa soạn Dân Chúa chờ đón Chúa Ki-tô đến lần thứ hai qua sự Trung Gian đặc biệt của Mẹ với tư cách “Trạng Sư nhân từ.” Đức Thánh Cha nói: “Bởi vì với tư cách người Mẹ Đồng Trinh, Mẹ đã kết hợp với Đức Ki-tô một cách rất đặc biệt khi Chúa đến lần thứ nhất, thì nhờ sự cộng tác không ngừng với Chúa Ki-tô, Mẹ sẽ vẫn kết hợp với Chúa trong khi chờ  đợi  Người đến lần thứ hai... Mẹ còn có nhiệm vụ dành riêng đặc biệt đầy tình mẫu ái là làm Trạng Sư cho lòng nhân từ trong ngày Chúa đến lần cuối khi tất cả những người thuộc về Chúa Ki-tô sẽ được sống lại” (1Cr 15:26).304
Vì nhiệm vụ Trạng Sư của Đức Ma-ri-a không thể tách rời khỏi hoạt động thần linh của Chúa Thánh Thần, nên chính Chúa Thánh Thần và Đức Ma-ri-a, Hiền Thê của Người sẽ cộng tác để sửa dọn thế giới đón mừng ngày quang lâm của Vua Ki-tô (x. Mt 16:27; Mc 13:26; 1Tx 4:15-17). Vì thế, cả Hai Đấng sẽ cùng nói: “Xin hãy đến” (Kh 22:17).
Nhưng thực sự không chỉ trong công cuộc chờ đón Chúa Ki-tô quang lâm mà thôi, nhưng bất cứ lúc nào gặp  khó khăn, Giáo Hội cũng đều kêu xin sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần và Mẹ Trạng Sư. Rõ ràng trong thời đại chúng ta, Giáo Hội và thế giới đang  phải đương đầu với những nguy hiểm và thử thách đặc biệt. Đức Gio-an Phao-lô II đã lập đi lập lại nhiều lần với Giáo Hội và thế giới về những thời điểm tăm tối và những mối đe dọa mới cho nhân loại hiện nay.305
Đức Thánh Cha đã nói đến những ưu  tư sâu sắc của ngài về thế giới hiện nay trong bức tông thư Dives in Misericordia: “Chúng ta hãy kêu xin tình yêu Mẹ Ma-ri-a, một tình yêu mang những đặc điểm từ mẫu, tình yêu của một người mẹ hằng quan tâm đến từng đứa con, từng con chiên lạc mất, cho dù con số lạc mất lên đến hằng triệu, cho dù giữa thế giới hôm nay, sự dữ như đang thắng thế, cho dù nhân loại hôm nay đáng chịu một cuộc Đại Hồng Thủy thứ hai vì tội lỗi... Với những người đang sống hôm nay, nhưng không cùng chia sẻ một niềm tin và niềm cậy trông đang hướng dẫn Ta, người đầy tớ Chúa Ki-tô, người quản lý các mầu nhiệm Thiên Chúa, Ta khẩn nài lòng nhân từ yêu thương nhân loại của Thiên Chúa, trong giờ phút lịch sử này, ít là hãy ban cho họ hiểu được lý do ưu tư của Ta. Bức thư này viết là vì lòng thương nhân loại, thương tất cả những ai là con người, vì theo trực giác của rất nhiều người, một nguy hiểm vô cùng thảm khốc đang đe dọa nhân loại hiện nay.”306
Vì thế, thời đại của chúng ta chắc chắn không thể bỏ qua một việc hết sức khẩn thiết là phải công nhận và kêu cầu Đức Ma-ri-a, Trạng Sư của chúng ta, để Mẹ một lần nữa khẩn nài Chúa Thánh Thần lại đến và làm sống lại tinh thần Dân Chúa trong thế giới hôm nay.

TÓM LƯỢC
Đức Ma-ri-a, trong nhiệm vụ làm Trạng Sư cho Dân Chúa hằng dâng lên Thiên Chúa những nhu cầu khẩn xin của gia đình nhân loại, nhất là trong những lúc gian nan thử thách. Nhiệm vụ trợ giúp Dân Chúa của Đức Ma-ri-a đã được Thánh Kinh nói đến như nhiệm vụ một vị mẫu hoàng trạng sư quyền thế cho những nhu cầu của con dân Ít-ra-en trước tòa đức vua (x. 1V 2:19).
Nhiệm vụ nữ vương và trạng sư trong Cựu Ước đã được thể hiện qua Đức Ma-ri-a trong Tân Ước, Mẹ Đức Ki-tô, Nữ Hoàng và Trạng Sư đúng nghĩa trong vương quốc Ít-ra-en mới  của Thiên Chúa (x. Lc 1:32; 1:44; Ga 2:1-11). Đức Nữ Vương trong Tân Ước đã cộng tác mật thiết trong công cuộc tái lập vương quốc Thiên Chúa qua hi sinh thập giá (x. Ga 19:26), và vì vậy Mẹ được tuyên phong làm Nữ Vương trời đất sau cuộc lên trời quang vinh (x. Kh 12,1). Chúa Ki-tô là Vua vinh quang trên mọi dân nước (x. Kh 15:3; 19:6; 1Tm 1:17; Kh 12:5), nên Đức Ma-ri-a, Mẹ Người cũng là Nữ Vương trên mọi dân nước (x. Is 66:7-14; 1V 2:19; Tv 87:1-5; Lc 1:32; Kh 12:1).
Sau cuộc mông triệu khải hoàn, Đức Ma-ri-a không những không ngừng thực thi chức vụ Nữ Vương và Trạng Sư cho Dân Chúa, mà còn thực sự khởi đầu chức vụ Trạng Sư thiên đàng trước ngai tòa Con Mẹ để can thiệp cầu xin cho những nhu cầu và thiếu thốn của nhân loại. Chức vụ Trạng Sư của Đức Ma-ri-a gắn liền không thể tách rời  Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi mà Chúa Cứu Thế đã hứa (x. Ga 19:26) và Mẹ đã khẩn nài đến trên các môn đệ đầu tiên của Chúa trong ngày lễ Ngũ Tuần (x. Cv 1:4).
Chúa Thánh Thần và Mẹ Trạng Sư (x. Kh 22:17) vẫn tiếp tục thực thi chức vụ khẩn nguyện cho Giáo Hội cho đến khi Chúa Ki-tô đến lần thứ hai (Mc 13:7), và nhất là giữa những giờ phút lịch sử quan trọng hiện nay, như lời Đức Gio-an Phao-lô II, là thời điểm tràn ngập khó khăn và thử thách. Chúng ta cùng hợp với Đức Thánh Cha kêu xin sự trợ giúp can thiệp của Đức Ma-ri-a, Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa với lời kinh mà chúng ta gọi là Sub Tuum mới (kinh Trông Cậy)để nài xin Chúa Thánh Thần canh tân mọi tín hữu và thế giới hôm nay:
Ôi Trinh Nữ Rất Thánh Ma-ri-a,
Mẹ Chúa Ki-tô, Mẹ của Giáo Hội...
Xin hãy mở rộng tâm hồn chúng con
Để đón chờ Nước Chúa đến,
Và rao giảng Phúc Âm cho mọi thụ tạo.
Trái Tim Từ Mẫu của Mẹ
Hằng canh phòng mọi hiểm nguy
Và sự dữ đang đe dọa đè bẹp
Nhân loại hôm nay...
Ôi Trinh Nữ kiên cường,
Chớ gì sức mạnh tinh thần
Và niềm tin vào Thiên Chúa của Mẹ
Thúc đẩy chúng con,
Cho chúng con biết thắng vượt
Tất cả mọi trở ngại mà chúng con gặp
Để hoàn thành sứ mạng đối với thế giới
Của chúng con
Bằng một ý thức trách nhiệm
Của một ki-tô hữu,
Và một niềm cậy trông hân hoan
Chờ đón Nước Chúa, trời mới đất mới.
Mẹ đã ở bên các Tông Đồ
Trong nhà Tiệc Ly để cầu nguyện
Và chờ đón Chúa Thánh Thần
Trong ngày lễ Ngũ Tuần,
Xin Mẹ khẩn nài Chúa Thánh Thần
Ban ơn đổi mới tràn đầy trên tất cả
Mọi tín hữu nam nữ,
Để họ sống trọn vẹn hơn nữa
Ơn gọi và sứ mạng của mình...
Ôi Mẹ Đồng Trinh!
Xin hướng dẫn và nâng đỡ chúng con
Để chúng con biết luôn sống
Như những người con thực sự
Của Giáo Hội Con Mẹ.
Xin Mẹ làm cho chúng con biết
Góp phần xây dựng một nền văn minh
Có chân lý và tình thương
Như Chúa muốn trên trái đất này,
Vì vinh quang Chúa.307 A-men.
KẾT LUẬN

ĐỨC MA-RI-A ĐỒNG CÔNG
MÔ PHẠM THỜI ĐẠI CỦA GIÁO HỘI
Mọi chân lý mặc khải về Đức Ma-ri-a, Mẹ Chúa Giê-su, đều mang một ý nghĩa sâu xa liên quan đến cuộc hành trình tiến về ơn cứu rỗi của Giáo Hội lữ hành. Công Đồng Va-ti-ca-nô II dạy rằng: “Đức Trinh Nữ nhờ ân huệ và sứ mệnh làm Mẹ Thiên Chúa, nhờ đó Mẹ được hiệp nhất với Con là Đấng Cứu Chuộc, và nhờ các ơn và nhiệm vụ đặc biệt khác, Mẹ còn kết hợp mật thiết với Giáo Hội.”308 Đức Ma-ri-a là gương mẫu sáng ngời cho Giáo Hội, Mẹ Chúa Giê-su là một gương mẫu trinh bạch và hoàn hảo mà Dân Chúa mong ước noi gương trong công cuộc chinh phục tội lỗi và thăng tiến thánh thiện.”309
Chúng ta thấy rằng giáo lý mặc khải về Đức Ma-ri-a Đồng Công với Chúa Cứu Thế cũng như mặc khải về các sứ mạng khác  phát xuất từ thiên chức Đồng Công như Trung Gian mọi ân sủng và Trạng Sư cho Dân Chúa đã làm ngời sáng một mô hình quan trọng cho Giáo Hội, một mô hình Giáo Hội đang khát mong, đó là trở nên giống Đức Ma-ri-a, mẫu gương sáng ngời hơn.”310
Về mối quan hệ giữa Đức Ma-ri-a và Giáo Hội, thánh Công Đồng đã viết: “Giáo Hội, qua con người Đức Ma-ri-a, đã đạt tới sự hoàn thiện làm cho mình nên thanh sạch và vẹn tuyền (x. Ep 5:27), nhưng ki-tô hữu vẫn còn phải cố gắng chiến thắng tội lỗi để tiến trên đường thánh thiện.”311 Như thế là có một sự tương tự về chức vụ Đồng Công của Đức Ma-ri-a với Chúa Ki-tô trong mối liên quan với Giáo Hội. Không một thụ tạo nào có thể nói rằng đã thông phần mật thiết được như Mẹ vào việc đem lại ơn cứu độ bằng sự “trung thành hiệp nhất với Chúa Con cho đến bên thập giá, là nơi mà theo thánh ý Thiên Chúa, Mẹ đã đứng ở đó. Đức Ma-ri-a đã đau đớn chịu khổ cực với Con một của mình và dự phần vào hi lễ của Con, với tấm lòng của một Người Mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra.”312
Như vậy Đấng Đồng Công đã cộng tác với Chúa Cứu Thế trong công cuộc đem lại ơn cứu độ (x. Lc 1:38; Ga 19:26).
Mẹ Đồng Công đã trình bày một mẫu gương phong phú sâu xa cho Dân Chúa để họ “cũng tìm vinh quang cho Chúa Ki-tô, và trong việc tìm kiếm sự tiến bộ trong đức tin, đức cậy và đức mến, tìm kiếm và thi hành thánh ý Thiên Chúa trong mọi sự.”313

CÔ-LÔ-XÊ 1:24 VÀ CÔ-RIN-TÔ 3:6
VỀ “NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG CÔNG
TRONG CHÚA KI-TÔ”
Mẫu gương Đồng Công của Đức Ma-ri-a đã đem lại một sự phong phú đặc biệt cho Dân Chúa trong việc đáp lại tiếng kêu mời và sứ mạng ki-tô hữu để trở thành những người cộng tác với Chúa Ki-tô (x. 1Cr 3:6). Qua thánh Phao-lô, Thiên Chúa mời gọi các tín hữu hãy “hoàn tất những gì còn thiếu trong cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô trong Nhiệm Thể Chúa, tức là Giáo Hội” (Cl 1:24).
Đời sống Đức Ma-ri-a, Đấng Đồng Công Cứu Chuộc với việc mô phỏng Người Con Cứu Thế của Mẹ là một lời tuyên xưng và là một bằng chứng mạnh mẽ nói lên rằng đau khổ có một giá trị cứu độ trong đời sống ki-tô hữu. Vượt trên mọi tín hữu khác, Đức Ma-ri-a Đồng Công đã đáp lại ơn kêu gọi ki-tô hữu và làm hoàn tất những gì còn thiếu trong cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô trong Thân Thể Người  là Giáo Hội. Đức Pi-ô XII nói về cuộc sống Đồng Công của Đức Ma-ri-a trong thông điệp Mystici Corporis như sau: “Chính Mẹ, E-và Mới Vô Nhiễm Tội, đã luôn hợp nhất rất mật thiết với Con mình, hiến tế Người trên đồi Gôn-gô-ta lên Thiên Chúa Cha hằng hữu vì tất cả con cháu A-đam tội lụy, Mẹ đã hi hiến mọi quyền lợi và tình yêu mẫu tử của một Người Mẹ trong hi tế đó. Như vậy, Mẹ là Mẹ của “Đầu” là Chúa Ki-tô theo ruột thịt, qua những đau khổ và vinh quang đã trở thành Mẹ của tất cả các chi thể của Chúa. Qua lời cầu nguyện thế lực, Mẹ đã nài xin Chúa Thánh Thần ban xuống rất nhiều ân điển kỳ diệu trên Giáo Hội sơ khai trong ngày lễ Ngũ Tuần; và sau cùng trong niềm tin và lòng can đảm, Mẹ đã mang gáng nặng đau thương và ruồng rẫy, Mẹ thực sự là Nữ Vương các thánh tử đạo. Hơn mọi tín hữu khác, Mẹ đã ‘hoàn tất những gì còn thiếu trong cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô trong Thân Thể Người là Giáo Hội.’”314
Đức Gio-an Phao-lô II xác quyết Đức Ma-ri-a xứng đáng với một tước hiệu đặc biệt vì Mẹ đã cộng tác đặc biệt vào Phúc Âm đau khổ vì lợi ích Giáo Hội. Đức Thánh Cha nói: “Là một nhân chứng cuộc thương khó và cùng thông phần vào đau thương của Con, Đức Ma-ri-a đã cộng tác cách đặc biệt vào Phúc Âm đau khổ, Mẹ đã làm trọn nghĩa lời nói của thánh Phao-lô... Mẹ thực sự có một tước hiệu đặc biệt, có thể nói được rằng Mẹ đã ‘hoàn tất trong thân xác Mẹ’ cũng như trong tâm hồn Mẹ ‘những gì còn thiếu trong cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô.’”315
Giáo Hội, theo mẫu gương công trạng của Đức Ma-ri-a Đồng Công, cũng được mời gọi tham dự cách quảng đại và cộng tác vào việc “làm trọn những gì còn thiếu trong cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô vì lợi ích cho thân thể mầu nhiệm của Người” (Cl 1:24).
Đức Gio-an Phao-lô II nói rằng: “Chúa Ki-tô đã không giấu giếm những thính giả của Ngài về yêu sách phải chịu đau khổ...316 Những ai thông phần đau khổ với Chúa Ki-tô mang trong những đau khổ của họ một phần rất đặc biệt kho tàng vô tận ơn cứu độ thế giới và họ có thể chia sẻ kho tàng này cho người khác.”317
Trong mầu nhiệm vĩ đại ơn cứu độ và mầu nhiệm thân thể Chúa Ki-tô, chúng ta thấy một ý nghĩa cứu độ chân thực và công trạng cho Giáo Hội qua sự đáp ứng phù hợp theo tinh thần ki-tô trước những đau khổ của nhân loại. Đức Gio-an Phao-lô II giải thích: “Bất cứ ai chịu đau khổ trong sự hợp nhất với Chúa Ki-tô... không những nhận được từ Người một sức mạnh mà còn ‘hoàn tất những gì còn thiếu trong cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô’ bằng những đau khổ của chính mình. Quan điểm Phúc Âm ở đây đặc biệt đề cao chân lý về đặc điểm mới mẻ của đau khổ. Những đau khổ của Chúa Ki-tô đã đem lại những điều thiện hảo cứu độ thế giới. Những điều thiện hảo này tự bản chất là vô cùng, không bao giờ cạn kiệt. Không ai có thể bổ túc thêm một chút gì nữa. Nhưng đồng thời trong mầu nhiệm Giáo Hội là Thân Thể Người, Chúa Ki-tô đã muốn mở rộng những đau khổ cứu độ của riêng Người đến tận mọi đau khổ nhân loại. Như vậy, mỗi người đều được thông phần vào đau khổ của Chúa Ki-tô - bất cứ ở đâu, bất cứ trong thời đại nào - đến mức độ họ có thể hoàn tất những đau thương mà Chúa Ki-tô sẽ dùng để hoàn tất công cuộc cứu độ thế giới. Như thế, chẳng lẽ cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô vẫn chưa hoàn tất hay sao? Không. Điều này chỉ có nghĩa rằng cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô đã hoàn tất bằng một tình yêu tràn đầy vẫn luôn luôn mở rộng cho tất cả mọi tình yêu trong đau khổ của nhân loại.”318
Đây là một phần của ơn gọi ki-tô hữu: hãy noi gương Mẹ Đồng Công để trở thành người Đồng Công với Chúa Ki-tô. Đức Pi-ô XII kêu mời mọi tín hữu hãy cộng tác trong tư cách là những người Đồng Công với Chúa Cứu Thế để ban phát ơn sủng cứu độ cho nhân loại: “Tình yêu nồng cháy đối với Giáo Hội cũng như tình yêu huynh đệ dành cho các linh hồn mà Giáo Hội cưu mang trong Chúa Ki-tô đòi buộc như thế. Mặc dù cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Cứu Thế đã đem lại cho Giáo Hội một kho tàng ân sủng vô cùng, nhưng sự  quan phòng khôn dò của Thiên Chúa đã muốn
rằng những ân sủng này sẽ không được ban hết cho chúng ta ngay một lúc. Mức độ ơn Chúa ban sẽ tùy thuộc không nhỏ vào sự cộng tác nhỏ bé qua những công việc của chúng ta. Những công việc ấy sẽ kéo xuống trên các linh hồn một trận mưa ân sủng phong phú.”319
Mặc dù các tín hữu không tham dự vào việc sinh ra ân sủng cứu độ như Chúa Cứu Thế và Mẹ Đồng Công đã thực hiện, nhưng Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một ơn gọi đặc tuyển là được trở nên những người Đồng Công trong Chúa Ki-tô bằng việc cộng tác với Chúa qua những đau khổ ích lợi, bằng những việc lành, những hành vi đức ái, để áp dụng những ân sủng trời cao cho Giáo Hội và cho thế giới hiện đang vô cùng cần thiết nguồn ơn cứu độ.
Đối với Giáo Hội, Mẹ Ma-ri-a Đồng Công là một mẫu gương phong phú về giá trị cứu độ bằng những đau khổ và việc lành. Chính Mẹ, với tình từ mẫu và nhân danh Chúa Cứu Thế Con Mẹ, đã kêu mời chúng ta hãy trở thành những người Đồng Công trong Chúa Ki-tô vì lợi ích của Giáo Hội hôm nay, giữa giai đoạn mà Giáo Hội đang trải qua những thử thách và đau khổ lớn lao.320 Chân lý mặc khải về Mẹ Ma-ri-a Đồng Công đã đem lại Giáo Hội một mẫu gương cao quí nhắc nhở các tín hữu rằng các đau khổ và hành vi đức ái siêu nhiên đều có thể mang lại ơn cứu độ, và thập giá Chúa Cứu Thế một lần nữa phải được dựng lên giữa lòng thế giới và được mọi tín hữu vác lấy vì ơn cứu độ và ơn thánh hóa cho thế giới này.

LỜI KẾT
Đặc ân được Đồng Công với Chúa Cứu Thế, làm Trung Gian mọi ân sủng, cộng tác với Đấng Trung Gian duy nhất và Thánh Thần Thánh Hóa, và làm Trạng Sư cho Dân Chúa là những sứ mạng Thiên Chúa đã quan phòng ban cho Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Mẹ Thiên Chúa. Những thiên chức ấy đã được trình bày minh xác trong Thánh Kinh và Thánh Truyền, cũng như hằng được quyền Giáo Huấn của Giáo Hội trình bày một cách nhất quán và đáng tin cậy.
Các nghị phụ Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã giới thiệu về Đức Trinh Nữ Ma-ri-a321 bằng những lời sau đây: “Thánh Công Đồng không có ý đưa ra một học thuyết đầy đủ về Đức Ma-ri-a và giải quyết các vấn đề mà nghiên cứu của các nhà thần học vẫn chưa thể làm sáng tỏ trọn vẹn. Những ý kiến được tự do trình bày trong các trường phái Công Giáo về Đấng có địa vị cao cả nhất trong Giáo Hội sau Chúa Ki-tô, và cũng là Đấng rất gần gũi với chúng ta. Những ý kiến ấy đều được duy trì cách ‘hợp pháp.’”322 Các nghị phụ không những đề cập đến các sứ mạng Đồng Công, Trung Gian và Trạng Sư của Đức Ma-ri-a là những điều vẫn được giảng dạy và nghiên cứu trong các đại học Công Giáo và chủng viện khắp thế giới trong thời gian trước Công Đồng,323 mà còn ám chỉ đến một giáo thuyết đầy đủ hơn nữa về các nhiệm vụ và bản chất của Mẹ trong công cuộc cứu độ nhân loại.
Chúng ta có được những đóng góp sâu sắc của Đức Gio-an Phao-lô II về sự hiểu biết mầu nhiệm Trung Gian giữa Đức Ma-ri-a với Chúa Ki-tô và Giáo Hội. Chúng ta có các thần học gia như thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê với những đóng góp giúp chúng ta am hiểu hơn về nhiệm vụ quan yếu của Chúa Thánh Thần đối với con người và sứ mạng của Đức Ma-ri-a trong Giáo Hội. Với căn bản Thánh Kinh và giáo phụ chắc chắn, chúng ta có được một cái nhìn chân xác về những vai trò của Đức Ma-ri-a như Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã trình bày. Dưới ánh sáng giáo huấn nhất quán của Giáo Hội về những sứ mạng của Đức Ma-ri-a, chúng ta nhận thấy chỉ còn duy một việc sau cùng là đem những sứ mạng Đồng Công Cứu Chuộc, Trung Gian và Trạng Sư mà Thiên Chúa đã quan phòng ban cho Đức Ma-ri-a đến chỗ được công nhận hoàn toàn nhất trong Giáo Hội, vì Đức Ma-ri-a đã thực hiện những sứ mạng này một cách vâng phục và tuyệt vời theo thánh ý Thiên Chúa: Đó là Đức Thánh Cha, trong cương vị đại diện Chúa Ki-tô dưới đất và được sự hướng dẫn của Thánh Thần Chân Lý, xác định và công bố những sứ mạng Đồng Công, Trung Gian mọi ân sủng, và Trạng Sư cho Dân Chúa của Đức Ma-ri-a, những sứ mạng thực sự đã tạo nên một nhiệm vụ căn bản trong công cuộc cứu độ mà Mẹ đã cộng tác với Chúa Cứu Thế và Thánh Thần Thánh Hóa trong nhiều phương diện thành một tín điều Công Giáo được Thiên Chúa mặc khải để tôn kính Mẹ Chúa Giê-su cách xứng đáng, và vì lợi ích của Giáo Hội Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo, và Tông Truyền của Chúa Ki-tô. Chỉ có như vậy và chỉ có khi ấy Giáo Hội mới công bố đầy đủ chân lý đầy đủ về Đức Ma-ri-a, Mẹ Chúa Ki-tô và Mẹ Giáo Hội một cách can đảm và dứt khoát. Việc Đức Thánh Cha công bố Đức Ma-ri-a là Đấng Đồng Công, Trung Gian, Trạng Sư - nếu Chúa muốn - sẽ là một sự hoàn thành trong Giáo Hội lời Đức Ma-ri-a đã nói tiên tri về chính mình do ơn soi động của Chúa Thánh Thần: “Từ đây về sau muôn thế hệ sẽ gọi tôi là người diễm phúc” (Lc 1:48).
Chúng ta hãy kết thúc ở đây bằng lời kinh Cựu Ước trong sách Tô-bi-a. Lời kinh tiên tri về vinh quang của Giê-ru-sa-lem Mới. Vì Mẹ Ma-ri-a luôn luôn là gương mẫu, là mô hình ưu việt cho Giáo Hội,324 nên lời ca Cựu Ước này có thể áp dụng vào Mẹ, thành viên tiên khởi của Giê-ru-sa-lem Mới, cung thánh vĩ đại của Thiên Chúa, Nữ Tử Si-on cao quí, Đấng Đồng Công, Trung Gian, và Trạng Sư cho Dân Chúa:
“Một ánh sáng chói lọi chiếu soi
 Mọi phương cõi đất.
 Những cư dân mút cùng trái đất
 Sẽ đến với Ngươi,
 Đến sống trong Danh Thánh Thiên Chúa,
 Tay họ nâng lễ vật dâng tiến Vua trời.
 Nơi Ngươi, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia.
 Sẽ vang lên những lời hân hoan.
 Và tên Ngươi sẽ là ‘người được ưu tuyển’           
Đến muôn đời về sau...
Khốn cho hết thảy những kẻ mắng Ngươi,
Khốn cho mọi kẻ tàn phá Ngươi,
Lật đổ tường lũy Ngươi,
Mọi kẻ phá đổ các đài tháp Ngươi,
Thiêu hủy nhà cửa của Ngươi.
Phúc cho mọi kẻ tôn kính Ngươi
Đến muôn đời!
Bấy giờ, Ngươi hãy tiến ra hớn hở,
Nghinh đón các con cái của sự công chính,
Vì hết thảy chúng sẽ được qui tụ lại,
Mà chúc tụng Chúa hằng có đời đời,
Phúc cho những ai mộ mến Ngươi,
Phúc cho những kẻ vui mừng
Vì phúc bình an của Ngươi.
Phúc cho mọi kẻ biết chia buồn với Ngươi,
Những khi Ngươi đau khổ,
Vì nơi Ngươi, chúng sẽ vui mừng,
Chứng kiến mọi diễm phúc của Ngươi  
Trong những ngày sắp tới (Tb 13:13-16).

CHÚ THÍCH

1.       Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, 25.3.1987, Redemptoris Mater,1.
2.       Xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, hiến chế Dei Verbum, 9-10, được ghi lại trong tác phẩm do cha Austin Flannery, O.P. biên soạn mang tựa đề “Vatican Council II: The Consiliar and Post consiliar Documents,” do Costello Publishing Co. xuất bản năm 1975 tại New York. (Tất cả mọi đoạn trích dẫn Công Đồng Va-ti-ca-nô II trong tài liệu này sẽ theo tên Công Đồng đã đặt cho các văn kiện).
3.       Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 53.
4.       Công Đồng Ê-phê-sô năm 431, trích trong Henricus Denzinger, Enchiridion Synbolorum definitionum et Declarationum De Rebus Fidei et Morum, do nhà Barcelona, Herder xuất bản năm 1946. (Tất cả mọi chú thích dẫn từ tài liệu sẽ mang ký hiệu “D,” như trong chú thích số 5).
5.       Đức Mác-ti-nô I, Công Đồng La-tê-ra-nô năm 649, “D” 256.
6.       Đức Pi-ô IX, Ineffabilis Deus 1854, D 1641.
7.       Đức Pi-ô XII, Munificentissimus Deus, 1950.
8.       Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium,62.
9.       Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
10.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 56.
11.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 58.
12.     Chẳng hạn như trong bài “Đức Pi-ô XI, sứ điệp truyền thanh đến Lộ Đức” ngày 28.4.1935 của báo L’Osservatore Romano có viết: “Ôi Mẹ nhân lànhyêu mến, Đấng Đồng Công Cứu Chuộc đã đứng sát kề Người Con Dấu yêu nhất của Mẹ và cùng đau khổ với Người khi Người hoàn tất công cuộc cứu độ nhân loại trên bàn thờ Thập Giá”.Trong văn kiện chính thức của Giáo Hội tước hiệu Đồng Công Cứu Chuộc “Coredemptrix” xuất hiện rất nhiều. Xem Acta Apo-stolicae Sedis của Thánh Bộ Nghi Lễ ngày 13 tháng 5 năm 1908, AAS 41, 1908, P 408. Xem chỉ thị ngày 26 tháng 6 năm 1913 của Tòa Thánh AAS, 5, 1913, P 364.
          -Xem chỉ thị ngày 22 tháng 1 năm 1914 của Tòa Thánh AAS 6, 1914, P 108.
          - Xem Đức Pi-ô XI, L’Osservatore Romano ngày 1 tháng 12 năm1933.
          - Xem L’Osservatore Romano ngày 25 tháng 3 năm1934.
          Xem tác phẩm Ma-ri-a Sanctissima Nella Storia Della Salvezza của P.Gabriele M.Roschini OSM. Isola de Liri, Italy, Editricem. Pisani 1969, P 126.
13.     Đức Ma-ri-a đánh động được cứu chuộc do công trạng Cứu độ của Chúa Giê-su Ki-tô trên núi Calvary, Thiên Chúa đã áp dụng các ân sủng cứu độ ấy cho Mẹ ngay từ giây phút Mẹ được đầu thai. Vì Thiên Chúa là Đấng không bị giới hạn bởi thời gian.
14.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium số 62.
15.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium số 62.
16.     Xem diễn văn Đức Gio-an Phao-lô II đọc ngày 31.1.1985 tại đền thánh Đức Mẹ Abborada ở Guayaquil, L’Osservatore Romano ngày 11.3.,1985
17.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Dei Verbum số 10. 18. Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium số 62.
19.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Dei Verbum số 10. 20. Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Dei Verbum số 8.  21. Xem tông thư Redemptoris Mater số 30 của Đức Gio-an Phao-lô II.
21.     Xem Redemptoris Mater, 30 của Đức Gio-an Phao-lô II.
22.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium số 55.
23.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium số 55.22. Đức Pi-ô IX, tông thư Ineffabilis Deus 8.12.1854, Đức Gio-an Phao-lô II, tông thư Redemptor hominis , 1979, số 8.
24.     Va-ti-ca-nô II, LG, 55.
25.     Đức Pi-ô IX Ineffabilis Deus, 8.12.1854.
26.     Thánh Dút-ti-nô tử đạo, Dialogus cum Tryphone ch.100; Migne: Patrologisa Graeca (viết tắt là PG) PG 6,709-712. Thánh I-rê-nê - Adversu Haereses, III c. 32,1; PG, 7,958-959; v, e 19,I, PG 7,1175-1176.
27.     Đức Pi-ô XII, Tông hiến Munificentissimus Deus Luận chứng thần học của thánh Tô-ma.11.1950.
28.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II Lumen Gentium số 55.
29.     Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater số 7.
30.     Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptor hominis số 1.
31.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium số 56.
32.     Thánh Gio-an Đa-ma-xê-nô, “Ơn tiền định của Đức Ma-ri-a” Hom. innativicatem 7;10: Sources chrétiennes, Lyon. 80;65;73. Hom in Dornitionem 1,3 S. ch 80.85.
33.     Đức Gio-an Phao-lô II, R.M số 8.
34.     Xem bình giải về từ Kécharitôménê của thánh I-nha-xi-ô Pô-tê-ri dòng Tên trong tác phẩm Đức Ma-ri-a Trong Mầu Nhiệm Giao Ước, bản dịch Anh ngữ từ tác phẩm Het Maria mysterie in het Nieuwe Testament (1985) của Bertrand Byby, SM, New York, Alba House, 1992.
35.     Đức Gio-an Phao-lô II trong bài nói truyện ngày 7.12.1983 “Đức Ma-ri-a Vô Nhiễm, Kỳ Công Trước Nhất Trong Mầu Nhiệm Cứu Độ” L’Osservatore Romano, số 50,1983, trang1.
36.     Đức Pi-ô IX, ID, 1854.
37.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium số 55.
38.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium số 55.
39.     Thánh Dút-ti-nô tử đạo, Dialogus cum Tryphone, c.100; PG 6, 709-712; Thánh I-rê-nê, Adsersus Haereses III, c. 22 số 4; PG 7,959; V,c 19 số 1; PG 7,1175.Thánh E-pi-pha-nô, Haer. 78,18: PG 42, 728. Thánh Giê-rô-ni-mô, Epist. 22,21: Migne, Patrologia Latina (PL) 22,408. Thánh Âu-gu-tinh, Serm. 51, 2,3: PG 38; 335. Thánh Xi-ri-lô thành Giê-ru-sa-lem, Catech, 12,15: PG 33,741. Thánh Gio-an Kim Khẩu, In PS. 44, 7: PG 55,193. Các giáo phụ về sau (cả Đông lẫn Tây Phương) gồm có thánh Gio-an Đa-ma-xê-nô, Hom. 2 in dorm B.V.M, 3: PG 96,728. Xem thêm các tài liệu về các giáo phụ trong các tác phẩm De Meditaione universali BM. Virgines quad Gratias, Grugis 1926, p. 107 của I. Birtremieux; De Corredemptione Beatae Virginis Mariae; Typis Polyglottis Vaticanis, 1950, p.125 của I. B. Carol, O.F.M. Maria Sanctissima Nella Storia Della Salvezza. 1969, v.II. p. 171 của G. Roschini, O.S.M.
40.     Thánh I-rê-nê, Adversus Haereses I , 3,c.22, n.4; PG 7,958-959.
41.     Xin đọc chú thích sứ 15. Một học giả thế kỷ XIX về các giáo phụ là John Henry Newman đã cho rằng mô hình E-và Mới đã có “vào thời thánh Giê-rô-ni-mô(331-420), sự tương phản giữa E-và và Đức Ma-ri-a đã trở thành một câu châm ngôn” (xem J. Bittremieux, De Meditione Universali B.M.virginis quoad Gratias, p.107).
42.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium số 56.
43.     Xin đọc thêm Mariologia v. 3. Rome, 1947 p. 300 của G. Roschini O.S.M.
44.     Xem J. Lebon, Comment je concois, j’etablis et je defends la doctrine de la Mediation mariale, Ephemerides Theologicae Louvanienses vol. 16. 1939, p.600; được trích dẫn trong L.Riley, Historical Conspectus of the Doctrine of Mary’s Coredemption, Marian Studies, 1951, p. 41; Bover, Deiparae Virgines consensus corredemptionis ac meditationis fundamentum, được trích dẫn trong Charles Balic O.F.M. The Council Speaks of Mary, the Marian Era, v. 6, 1965., p.85.
45.     “Incarnatio redemptiva redemptio inchoativa,” xem chú thích số 20.
46.     Thánh I-rê-nê, Adversus Haereses, I, c.22, n.4; PG 7, 958-959.
47.     Thánh Ép-rem, Assemani, ed.,Opera Omnia, vol. 3. Rome, 1832, p.528.
48.     Thánh Am-rô-si-ô, De Mysteriis, c.3, n.13: PL 16, 410.
49.     Theo thánh Tô-ma A-qui-nô, trong tác phẩm Summa Theologia, I. II.Q. 81, a,5 cho rằng vì A-đam là nguyên tổ của nhân loại, nên tội của ông là nguyên nhân chính làm mất tình trạng ân sủng của nhân loại. Nếu A-đam không phạm tội, thì chúng ta sẽ không phải chịu những hiệu quả của tội nguyên tổ.
50.     Xem  Maria: Mitterloserin của đức hồng y Alfons Stickler, Salzburg, 12.9.90, Informationsplatt der Priesterbruderschaft St. Petrus, n. 12, Wigratzbad Jahrgang 1991.
51.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 57.
52.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 58.
53.     Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 16.
54.     Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 16. Chắc chắn sự hiểu biết của Đức Ma-ri-a về Người Tôi Tớ Đau Khổ trong Is 53 cộng với những lời của Sứ Thần và của tư tế Si-mê-on nói về Người Con Cứu Thế và sứ mạng của Ngài sẽ làm cho Mẹ ý thức sâu sắc về ơn gọi cùng cộng tác với Con Mẹ trong nỗ lực cứu độ nhân loại bằng những đau khổ lớn lao.
55.     Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 3.
56.     Bài diễn văn của Đức Gio-an Phao-lô II tại đền thánh Đức Mẹ Alborada, Guayaquil, Ecuador ngày 31.1.1985. Xem L’Osservatore Romano, ngày 11.3.1985.p.6.
57.     Muốn hiểu thêm về từ ì “Đấng Cứu Độ” (g’l, go’el) trong Cựu Ước, xin đọc Theological Dictionary of the Old Testament, v.2, Eerdman, Grand Rapids, p. 351 của Ringgren hoặc Theological Dictionary of the New Testament, Abridged Volume, Michigan, 1985 p. 328 của Kittel.
58.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 56.
59.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 58.
60.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Dei Verbum, 10.
61.     Thánh Bê-na-đô (d.1153) Hom.II super Missus est; PL 183362; Sermo III de Purificatione Beatae Mariae; PL 183, 370; Serno II in Festo Pentecostes; PL 183, 328. Lưu ý: Mặc dù lời bình giải của thánh Bê-na-đô không trực tiếp hướng đến trình thuật Ga 19:26, nhưng đóng góp của Ngài về “việc hiến dâng của lễ lên Chúa Cha” của Đức Ma-ri-a đã khiến ngài xứng đáng được liệt vào hàng các vị góp phần vào việc phát triển sự hiểu biết về vai trò Đồng Công của Đức Ma-ri-a dưới chân thập giá.
62.     Thánh Bo-na-ven-tu-ra (d.1274), Collatio 6 de donis Spiritus Sancti n.5; n.15; n.16; n.17;Opera Omnia (Ad Claras Aquas), v.5; p.486; Sermo 3 de Assumptione, Opera Omnia, v.9, p.696; III Sent, dist. 4,a.3, qu.3, concl; Opera Omnia, v.3, p.115. Thí dụ: “A-đam và E-và là những người phá hoại nhân loại, còn Chúa Giê-su và Đức Ma-ri-a là những người sửa chữa ... (Sermo 3): “Đức Ma-ri-a cũng có công trong việc hòa giải cho nhân loại ... (III sent): “Là Người Nữ đầy can đảm và tình yêu, Mẹ đã trả giá cho chương trình cứu độ, cụ thể là khi Chúa Ki-tô chịu đau khổ trên thánh giá, để nên giá cứu chuộc, thanh tẩy cho chúng ta. Đức Trinh Nữ diễm phúc đã hiện diện, đón nhận và vâng theo thánh ý Chúa (n.16).
63.     Thánh An-bê-tô Cả (+ 1280), Comment in Math. I,18, Opera Omnia, ed., Borgnet, vol. 20, Paris 1898, p. 36; Thánh An-bê-tô, Mariale, Q.42, Opera Omnia v.37,p.81; Q. 150, p.219; Q.51, p.97. Thí dụ: “Chỉ có một mình Ngài (Đức Ma-ri-a) là được Chúa ban cho đặc ân được thông công vào cuộc khổ nạn. Chúa Con muốn tuyên ban cho Mẹ công trạng do cuộc tử nạn, Chúa đã tiền định đẻ Mẹ trở thành Mẹ của tất cả mọi người trong việc tái tạo nhân loại vì Mẹ là người cộng tác bằng những đau thương vào chương trình cứu độ. Cả thế giới được liên kết với Chúa bằng cuộc tử nạn, thì thế giới cũng liên kết với Mẹ do sự đồng công đau khổ của Mẹ” (Q.150).
64.     Cha John Tauler (+ 1361), Sermo pro Festo Purificationis Mariae Virginis; Oeuvres complètes, vol. 6 Paris, 1911, ed., E.P. Noel, p.253-255; p.256, p.259. Thí dụ: “Thiên Chúa vui nhận hi tế của Mẹ (trên núi Can-vê) như một hi lễ thỏa lòng vì lợi ích và ơn cứu độ cho toàn nhân loại...” (p.253): “Chúa đã cho Mẹ biết trước mọi đau thương Mẹ sẽ chịu để Mẹ trở thành người tham dự vào tất cả mọi đau thương và công trạng của Chúa, và Mẹ sẽ Đồng Công với Chúa để đem mọi người trở về ơn cứu độ ...” (p.256).
65.     Để hiểu thêm tư liệu nói về sứ mạng Đồng Công của Đức Ma-ri-a trên núi Can-vê từ thời hậu giáo phụ, đến thời Trung Cổ và Hiện Kim, xin đọc Maria Sanctissima Nella Storia Della Salvezza, p.179; của cha Roschini và De Corredemptione Beatae Virginis Mariae, p. 151 của cha J.B. Carol.
66.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Dei Verbum, 10.
67.     Ngoài rất nhiều tham khảo nói về vai trò Đồng Công với Chúa Ki-tô của Đức Ma-ri-a có trước thời gian này (xem chú thích 40 và 41), tước hiệu Đồng Công đã thấy xuất hiện trong các tài liệu ngay từ thế kỷ XIV, điển hình như trong sách phụng vụ tìm thấy tại thánh đường thánh Phê-rô ở Salzburg có đoạn:
 “Pia, dulcis et benigna
 Nullo prossus luctu digna
 Si fletum hinc eligeres
 Ut compassa Redemptori,
 Captivato transgressori
 Tu Corredemptrix fieres.”
Xin tạm dịch:
Ôi Mẹ khả ái, dịu dàng, nhân từ,
Lẽ ra Mẹ không phải chịu một phiền muộn nào.
Nhưng Mẹ đã tự chọn tang thương
Cùng đau khổ với Chúa Cứu Thế
Vì thương tội nhân
Nên Mẹ đáng là Đấng Đồng Công.
Xem Oratione tại thánh đường thánh Phê-rô ở Salzburg, Dreves - Blume, Analecta hymnica medii aevi, v. 46, n.79, p.126.
Xem Planctus oratius ... ad B. Virginem Filium de cruce depositum sinu tenentem của cha R. Laurentin, trong tác phẩm Le titre de coredemptrice, Etude historique in Marianum, 13, 1951, p.429.
68.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Dei Verbum, 10.
69.     Đức Pi-ô IX, trích dẫn các văn kiện của các vị Giáo Hoàng tiền nhiệm về sứ mạng Đồng Công của Đức Ma-ri-a trong tông thư Ineffabilis Deus của ngài (1854), khi ngài gọi Đức Ma-ri-a là “Parentum Reparatricem” để so sánh với A-đam và E-và theo giáo thuyết của các giáo phụ.
70.     Đức Lê-ô XII, tông thư “Jucunda Semper” 1894; Acta Sanctae Sedis (ASS) v. 27, p.178.
71.     Đức Lê-ô XIII, tông thư “Adjutricem populi”, 1895, ASS v.28, p.130.
72.     Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X, tông thư “Ad diem illum”, 1904, ASS v.36; 1903, 1904, p.453.
73.     Meritum de condigno (công trạng tương đáng) ex toto rigore justiitiae (có sự cân xứng giữa hành vi lập công và công trạng do hành vi ấy), là một thứ công trạng mà chỉ mình Chúa Ki-tô mới có thể lập được vì Người có Nhân Tính. Hành vi cứu độ của Chúa Giê-su trên thập giá vừa có sức đền tội cho con người vừa có sức lập công trạng trước mặt Thiên Chúa, Công Đồng Tren-tô D 799, D 809, 810; J.B. Carol O.F.M. trong “Our Lady’s Coredemption” in Mariology, Bruce Pub., 1957, v 2, p.410.
74.     Meritum de congruo (công trạng tương hợp) là công trạng lập được dựa trên sự thích hợp và quảng đại của người trả công. Vì sự cộng tác đặc biệt của Đức Ma-ri-a với Chúa Ki-tô trong công trình cứu độ, và lòng rộng rãi vô cùng của Thiên Chúa Cha, Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X đã xác quyết Đức Ma-ri-a đã lập được công trạng tương hợp.
75.     Xem các tài liệu của Giáo Hội dưới thời Đức Pi-ô X về tước hiệu “Coredemptrix,” xem Thánh Bộ Lễ Nghi ngày 13.5.1908, AAS 41, 1908, p.408; sắc lệnh Tòa Thánh ngày 26.6.1913, AAS 5,1913, p.364; sắc lệnh Tòa Thánh ngày 22.1.1914, AAS 6, 1914, p.108.
76.     Giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Pi-ô X về công trạng tương hợp của Đức Ma-ri-a được coi như một aurea media in veritate (thước vàng trong chân lý) rất có thế giá trong các tranh biện về bản chất và cấp độ công trạng Đồng Công của Đức Maria. Dù không xác quyết Đức Ma-ri-a đã lập công “de digno, de supercongruo hay là de condigno ex mera condignitate”, (giống như tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời cũng chưa giải quyết vấn đề “cái chết” của Đức Ma-ri-a), lời tuyên bố của Đức Pi-ô X cũng có thể được coi như một xác quyết có thẩm quyền, ít nhất Đức Ma-ri-a cũng lập công de congruo trong khi Chúa Ki-tô lập công de condigno, và nói lên một giáo lý nhất thống về vấn đề công trạng Đồng Công của Đức Ma-ri-a.
77.     Tông thư Inter Sodalicia 1918, AAS 10, 1918, P. 182 của Đức Bê-nê-đíc-tô XV.
78.     Chúng ta nên hiểu việc Đức Ma-ri-a hiến dâng Chúa Giê-su trên thập giá trong tư cách làm Mẹ và chức linh mục phổ quát mà Mẹ được chia sẻ như mọi tín hữu khác. Không nên coi việc Mẹ dâng hiến hi sinh thập giá tương tự như việc các linh mục dâng lễ.
79.     Đức Pi-ô XI, kinh bế mạc năm thánh cứu độ ngày 28 tháng 4 năm 1935. L’Osservatore Romano ngày 29, 30 tháng 4 năm 1935, p. 1. Lời Đức Pi-ô XI về giáo lý Mẹ Đồng Công, xem L’Osservatore Romano ngày 1 tháng 11 năm 1933; AAS, v. 15, 1923, p. 105; v. 20, 1928, p. 178; Bài diễn văn của Đức Pi-ô XI với các khách hành hương từ Vicenza ngày 30 tháng 11 năm 1933, L’Osservatore Romano ngày 1 tháng 12 năm 1933.
80.     Đức Pi-ô XI, tông thư Miserentissimus Redemptor, AAS 20, 1928, p. 178.
81.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
82.     Đức Pi-ô XI, Bài diễn văn với khách hành hương từ Vicenza, L’Osservatore Romano ngày 1 tháng 12 năm 1933.
83.     Đức Pi-ô XII, tông thư Mystici Corporis, 1943, AAS 35, 1943, P. 247.
84.     Thánh I-rê-nê, Adversus Haereses, III, 22, 4; PG 7, 959.
85.     Thánh Giê-rô-ni-mô, Epist. 22, 21; PL 22, p. 408.
86.     Đức Pi-ô XII, L’Osservatore Romano ngày 22 tháng 4 năm 1946.
87.     Đức Pi-ô XII, thông điệp truyền thanh gởi các tín hữu hành hương Fatima ngày 13 tháng 5 năm 1946, AAS 38, 1946, p. 266.
88.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 56 và 57.
89.     Số 58 hiến chế Lumen Gentium đoạn nói về “Đồng Công,” dựa theo trình bày của Đức Pi-ô XII về sứ mạng Đồng Công của Đức Ma-ri-a trong Mystici Corporis, 1943.
90.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 58. Mọi lời dẫn Công Đồng trong đoạn này đều trích dẫn từ Lumen Gentium, 58.
91.     Đức Bê-nê-đíc-tô XV, Inter Sodalicia, 1918.
92.     Đức Bê-nê- đíc-tô XV, Inter Sodalicia, 1918.
93.     Đức Pi-ô XII, Mystici Corporis, 1943.
94.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 61.
95.     Đức Gio-an Phao-lô II, diểỵn văn tại đền thánh Đức Mẹ Alborada Guayaquil ngày 31 tháng 1 năm 1985, L’Osservatore Romano ngày 11 tháng 3 năm 1985.
96.     Đức Gio-an Phao-lô II, Salvifici Doloris, 25.
97.     Đức Gio-an Phao-lô II, Salvifici Doloris, 25.
98.     Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 18.
99.     Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 18.
100.   Đức Gio-an Phao-lô II, diễn văn tại đền thánh Alborada, Guayaquil này 31 tháng 1 năm 1985, L’Osservatore Romano ngày 11 tháng 3 năm 1985.
101.   Đức Bê-nê-đíc-tô XV, Inter Sodalicia 1918.
102.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
103.   Lumen Gentium, 62.
104.   Đức Gio-an Phao-lô II, diễn văn tại đền thánh Đức Mẹ Alborada Guayaquil ngày 31 tháng 1 năm 1985, L’Osservatore Romano, ngày 11 tháng 3 năm 1985.
105.   Đức Gio-an Phao-lô II, diễn văn tại đền thánh Đức Mẹ Alborada Guayaquil ngày 31 tháng 1 năm 1985, L’Osservatore Romano, ngày 11 tháng 3 năm 1985.
106.   Orationale of St. Peter’s in Salzburg in Dreves- Blume, Analecta hymnica medii aevi, v. 46, n. 79, p. 126, x. Planctus oratins sinu tenentem in R. Laurentin, Le titre de coredemptrice, Etude historique in Marianum, 13, 1951, p. 429. Bản gốc La Ngữ xem chú thích số 46.
107.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
108.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
109.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
110.   Xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 60. Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 38.
111.   Về kiến thức “Đấng Trung Gian” theo Thánh Kinh , xin xem Theological Dictionary of the New Testament: Abridged volume, Michigan, 1985, p. 585-586 của Gerhard Kittel và Gerhard Friedrich; Dictionary of the Bible v. 3 New York, p. 311 do nhà Hastings New International of the New Testament Theology, 1972, Michigan, p. 372 của Becker.
112.   Từ ngữ Hy Lạp trong 1 Tm 2:5 của thánh Phao-lô là “heis” nghĩa là “một,'' “đầu tiên,” “chính yếu.” Cũng còn một từ Hy Lạp khác mà thánh Phao-lô có thể sử dụng nếu ngài muốn để chỉ về vai trò Trung Gian duy nhất hoàn toàn của Chúa Ki-tô là từ “monos,” nghĩa là “chỉ một,” “duy nhất.” Cha O' Carroll, C.S.Sp nhận định: thư thánh Phao-lô không hề cản trở việc gọi Đức Ma-ri-a là Đấng Trung Gian. Việc sử dụng từ “heis” mà không dùng từ “monos” làm nổi bật sự tự hạ của Chúa Ki-tô, Đấng Trung Gian qua giá trị vô cùng của cuộc tử nạn cứu độ.” Xem Theotokos, A Theological Encyclopedia of the Blessed Virgin Mary, Dublin,1982, p.236.
113.   Lumen Gentium, 62.
114.   Công Đồng Ê-phê-sô 431, D 122; Công Đồng Tren-tô D 938; Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium,  10.
115.   Lumen Gentium, 62.
116.   Theo các giáo phụ, việc là “những người được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2Pt 1:4) có nghĩa là được “thần hóa”: “Ngôi Lời đã hóa thành con người, để chúng ta trở thành Thiên Chúa,” xem thánh A-ta-na-si-ô, Or. de Incarn. Verbi 54.
117.   Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 38.
118.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 38.
119.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 60.
120.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 38.
121.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 39.
122.   Thánh Tô-ma A-qui-nô, Summa Theologiae III, Q. 26, a.I.
123.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
124.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
125.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
126.   Đức Gio-an Phao-lôII, Redemptoris Mater, 38.
127.   Công Đồng Ê-phê-sô, 431, D 113.
128.   Đức Pi-ô XII, tông thư Mystici Corporis,1943.
129.   Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater ch. III, Vai Trò Trung Gian Hiển Mẫu của Đức Ma-ri-a.
130.   Xem thánh I-rê-nê, Adversus Haereses, 1, 3, c. 22, n. 4; PG 7, p. 958-959.
131.   Đức In-nô-xen-tê XIII, bản Tuyên Xưng Đức Tin Durandus Osca, 1208, D 421: “Ioannemque Baptismam ab eo missum esse sanctum et iustum et in utero matris suae Spiritu Sancto repletum.
132.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 21.
133.   Lưu ý: theo bản Phổ Thông mới nhất (Vulgata), trình thuật này là “Quid mihi et tibi, mulier.” Lời đáp của Chúa Giê-su không hề có vẻ trách móc hay cằn nhằn gi cả. Trong nhiều bản dịch mang tính học thuật, lời đáp ấy bao hàm cả ý thách thức. Nhưng chúng ta thấy trong nhiều trường hợp, kiểu trả lời như trên của Chúa có mục đích gợi lên một sự đáp ứng tương hợp từ phía con người giữa tăm tối đức tin.
134.   Đức Pi-ô XII, Munificentissimus Deus, 1950.
135.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
136.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 21 -  22.
137.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater,  21.
138.   Mặc dù rõ ràng là Đức Ma-ri-a có một mối quan hệ mẫu tử thiêng liêng đặc biệt với những tín hữu, những người đã chịu phép Thánh Tẩy trong đời sống và niềm tin vào Chúa Ki-tô, nhưng Đức Ma-ri-a vẫn là Mẹ thiêng liêng chung của toàn nhân loại, vì công cuộc cứu độ của Chúa Ki-tô và sự công tác của Mẹ là để cứu rỗi tất cả mọi người. Đức Lê-ô XIII đã khẳng định Gio-an dưới chân thập giá là người đại diện cho toàn thể nhân loại nói chunng và đặc biệt là các tín hữu ki-tô. Ngài nói: “Theo cách nghĩ xưa nay của Giáo Hội, Chúa Ki-tô đã coi Gio-an như người đại diện cho toàn nhân loại, đặc biệt là những người liên kết với Người trong Đức Tin.” Tông thư Adjutricem Populi, 1895.
139.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 21.
140.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 21.
141.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 21.
142.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 22.
143.   M.J. Scheeben, by T. Geukers, Mariology, v.II, St. Louis, 1947, p.265.
144.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 23.
145.   Đức Lê-ô XIII, Adjutricem Populi, 1895.
146.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 61.
147.   Giáo huấn nhất quán của các Đức Giáo Hoàng về Đức Ma-ri-a, Đấng Trung Gian các ơn sẽ được trình bày ở phần tiếp sau đây. Để hiểu thêm cách sử dụng thuật ngữ “Trung Gian ơn thánh” của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, xin đọc bài diễn văn “Chúa Ki-tô là Đường của Chúng Ta, Đức Ma-ri-a, vị Hướng Dẫn Đáng Tin Cậy của Chúng Ta” Đức Thánh Cha đọc tại Orte, Italia, ngày 17.9.1989, L’Osservatore Romano, ngày 2.10.1989, p.3.
148.   Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 45.
149.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 40.
150.   Sự tương quan Đồng Công-Trung Gian đã được quyền giáo huấn của Giáo Hội xác định. Thí dụ: Đức Lê-ô XIII nói: “Vì Mẹ “đã” cộng tác trong mầu nhiệm cứu độ nhân loại, nên Mẹ “cũng” là người cộng tác để phân phát các ân sủng phát xuất từ mầu nhiệm ấy” (AAS 28, 1895 - 6, p.130). Chúng ta sẽ đào sâu thêm về mối tương quan giữa hai sứ mạng Đồng Công và Trung Gian trong phần tìm hiểu về các Đức Thánh Cha với Đức Ma-ri-a Trung Gian sau.
151.   Chúng ta sẽ bàn thảo về các giáo phụ và Mẹ Trung Gian các ơn ở đây, nhưng không kết luận rằng tất cả các cách sử dụng thuật ngữ “Đấng Trung Gian” của các giáo phụ đều nhất thiết chú giải trình thuật Ga 19:26. Nhiều tài liệu của các giáo phụ, theo văn mạch không rõ ràng hoặc cụ thể nói về sự kiện Can-vê (Ga 19:26) hoặc Truyền Tin (Lc 1:26-38). Về sau, các giáo phụ thường nói cụ thể hơn khi nói về nhiệm vụ Đức Ma-ri-a là Trung Gian ơn sủng cứu độ trong biến cố Can-vê hơn là nói chung chung về nhiệm vụ làm Trung Gian cho Chúa Giê-su, Tác Giả các ơn sủng trong biến cố Truyền Tin. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng các giáo phụ đã tránh một sự phân biệt hoàn toàn giữa mầu nhiệm nhập thể trong biến cố Truyền Tin và mầu nhiệm cứu độ trong biến cố núi Can-vê, nhưng các ngài đã thấy rằng mầu nhiệm nhập thể như là “mầu nhiệm cứu độ được trông đợi và đã khởi đầu” trong một hành vi chung là cứu độ mà Đấng Cứu Thế nhập thể sẽ thực hiện. Điều này cũng ảnh hưởng đến cái nhìn tổng quát toàn diện về vai trò của Mẹ Trung Gian.
152.   Xem thánh I-rê-nê, Adversus Haereses III, c.22, n.4: PG 7, 959; V,C. 19, n.1: PG 7, 1175; thánh Ê-pi-phan, Haer. 78,18: PG 42, 728; thánh Giê-rô-ni-mô, Epist. 22,21: Migne, PL 22,408; xem thánh Âu-gu-tinh, Serm. 51,2,3: PG 38, 335; thánh Xi-ri-lô thành Giê-ru-sa-lem, Catech. 12,15: PG 55, 193.
153.   Để hiểu thêm về tiến trình suy tư củacác giáo phụ về Mẹ Trung Gian các ơn sủng, xin đọc De Meditatione Universali B.M. Virginis quoad Gratias, Brugis, 1926, p.194 của J. Bittremieux; Mary, Dispensatrix of All Graces, Mariology, v.2, p.442 của A. Robichaud, S.M.; Meditation, Theotokos, p.239 của M.O’ Carroll, C.S.Sp và Maria Sanctissima Nella Storia Della Salvezza, v.II, p.208 của G.Roshini,S.M.
154.   Thánh Xi-ri-lô thành A-lê-xan-ri-a, Hom. in Deiparam, PG 65, p.681.
155.   Antipater of Bostra, In S. Joannem Bapt ... ,PG 1772C.
156.   Một trong những kinh nguyện về Đức Mẹ cổ xưa nhất, kinh Trông Cậy (Sub tuum, c.250-300) đã làm nổi bật niềm tín thác của Giáo Hội sơ khai vào quyền năng can thiệp từ mẫu cho nhân loại mà Chúa Ki-tô đã ban cho Mẹ Người: “Ôi Mẹ Thiên Chúa Chí Thánh, chúng con chạy đến nương nhờ Mẹ chở che, xin đừng chê chối lời chúng con kêu xin trong những khi khẩn thiết, xin hãy cứu chúng con xa khỏi mọi hiểm nguy. Lạy Trinh Nữ diễm phúc quang vinh”; xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 66.
157.   Thánh An-rê Cơ-rê-ta (+ 740), In Nativ. Mariae, Serm. I và Serm. IV, PG 97, 808, 865. Người ta thấy trong các bản văn và trường phái của thánh Ép-rem (+ 373) đã viết về nhiệm vụ Trung Gian của Đức Ma-ri-a. St. Ephraem, Syri opera graeca et latine, ed, Assenani, v.3, Romae, pp. 525, 528-9,532.
158.   Thánh Gio-an Đa-ma-xê-nô, Hom. I in Dorm. PG 96, 713A.
159.   Thánh Giê-ma-nô thành Công-tan-ti-nô, Hom. in Dorm.II, PG 98, 321, 352-3.
160.   Thánh Giê-ma-nô (Pseudo Germanus) Oratio V in Ann. SS. Deiparae, PG 93, 322 BC.
161.   Thánh Ta-ra-si-ô thành Công-tan-ti-nô (+ 806), In SS. Deiparae, Praesentationem, PG 98, 1499. Xem thánh Mô-đê-tô thành Giê-ru-sa-lem (+ 6334): “Nhân loại đã được cứu chuộc trong Mẹ, và qua Mẹ, nhân loại đã nhận được ơn sủng và phúc lành vĩnh cửu từ nơi Chúa". PG 86, 3306; và: “Qua Mẹ, chúng ta đã được tái tạo cách mầu nhiệm và trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần ..., nhờ đó, chúng ta đã được ơn thứ tha mọi tội lỗi.” PG 86 bis, 3293; và sau đó, là sự đóng góp to lớn của Tê-ô-phan thành Ni-xê-a (+ 1381): “Không một ai, dù là thiên thần hay loài người có thể theo một con đường nào khác để được cứu rỗi và thông phần vào những ơn thánh mà Thiên Chúa đã tiền định, qua Con Chúa, ngoài con đường Đức Ma-ri-a Mẹ Người.” S. in SS. Deiparam, ed. M. Jugie, A.A., Lateranum, Nova Series, Rome, 1935, I,51.
162.   Thánh Phê-rô Đa-ma-xê-nô (d. 1072), Serm. 46, PL 144, 761 B.
163.   Thánh Phê-rô Đa-ma-xê-nô, Serm. 44, PL 144, 740.
164.   Thánh Bê-na-đô (+ 1153), Hom.III in vig. nativit, n.10, PL 183, 100.
165.   Thánh Bê-na-đô, Hom. in nativit. B.V.M., n.7, PL 183,441.
166.   Thí dụ: xem Đức Pi-ô XII, Superiore anno, AAS 32, 170; p. 145 và Mediator Dei, 1947. Những điều này sẽ được bàn ở phần các Đức Giáo Hoàng với trình thuật Gio-an 19:26 và Mẹ Trung Gian.
167.   Thánh Bê-na-đô, Hom. in nativitat. B.V.M.. n. 6, PL 183, 441.
168.   Xem Đức Pi-ô XII, Superiore anno, ASS 32, 1940, p. 145.
169.   Thánh Bê-na-đi-nô thành Si-ê-na (+ 1440), Sermo V de nativitate B.V.M., cap. 8; op. omn., v.4, (Lugduni, 1650), p. 96; thánh Bo-na-ven-tu-ra (+ 1274), Sermo VI de maternitate B.V.M. Virginis, op. omn., V.9 (Quaracchi, 1901), p. 720-1; thánh An-bê-tô, Mariale, q.164; op. omn., ed. Borgnet, v.3; Parisiis, 1898, p. 241.
170.   Muốn biết đầy đủ hơn về những tác phẩm lớn viết về Đức Ma-ri-a Trung Gian mọi ơn từ thời Trung Cổ đến nay, xin đọc De Meditatione Universali B.M. Virginis quoad Gratias, Brugis, 1926, p. 201 của J. Bittremieux; Mary, Dispensatrix of All Graces, Mariology, v.2, p. 445 của A. Robichaud, S.M.; Meditation Theotokos, p. 241 của M.O’Carroll, C.S.Sp; Maria Sanctissima Nella Storia Della Salvezza, v.II, p. 224 của G. Roschini, S.M.; De Corredemptione Beatae Virginis Mariae, p. 152 của J.B. Carol.
171.   Thí dụ, xem Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X, AAS 2, 1910, p. 185; AAS 5, 1913, p. 485; Đức Bê-nê-đíc-tô XV, AAS 8, 1916, p. 172, Đức Pi-ô XII, AAS 37, 1945, p. 328; AAS 39, 1947, p. 331, AAS 39, 1947, p. 410-411; Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 48.
172.   Thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho (+ 1716), Thành Thực Sùng Kính, 24.
173.   Thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho, Thành Thực Sùng Kính, 83-86, 120-123; Đức Gio-an Phao-lô II. Redemptoris Mater, 48.
174.   Thánh An-phong-sô Li-gô-ri (+ 1787), Vinh Quang Đức Mẹ, chương 5.
175.   Thí dụ, xem Đức Bê-nê- đíc-tô XIV (1740-1758) Op. Omnia, v.16, ed. Prati, 1846, p. 428; Đức Pi-ô IX, Ubi primum, 1849; Đức Lê-ô XIII, Octobri mense, 1891; Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X Ad illum diem, v.v.... Những văn bản có liên hệ này  và nhiều giáo huấn của các Đức Giáo Hoàng về bản chất phổ quát của vai trò Trung Gian mọi ơn của Đức Ma-ri-a sẽ được nói đến trong phần chính yếu của tài liệu này.
176.   Thí dụ, xem Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X, Ad illum diem, 1900; Đức Bê-nê-đíc-tô XV, Inter Solidicia, 1918; Đức Pi-ô XII, AAS 38,1946, p. 266; Đức Gio-an Phao-lô II, l’Osservatore Romano, n. 20, 1983.
177.   Xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 60.
178.   Xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Dei Verbum, 9,10.                                    
179.   Đức Bê-nê-đíc-tô XIV (1740-1758), Op. Omnia, v.16, ed. , Prati, 1846, p. 428.
180.   Đức Pi-ô VII (1800-1823), Ampliatio privilegiorum ecclesiae B.M. Virginis ab angelo salutatae in coenobis Fratrum Ordinis Servorum B.M.V. Florentiae, A.D., 1806; in J. Bourasse, Summa aurea ..., v.7, Paris, 1862, col. 546.
181.   Đức Pi-ô IX (1846-1876), tông thư Ubi Primum, 1849.
182.   Đức Pi-ô IX, Ineffabilis Deus, 1854.
183.   Xem Đức Lê-ô XIII (1878-1903) trong các thư sau: Supremi Apostolatus officio, 1883, ASS 16, 1113; Superiore Anno, 1884, ADD 27, 179; Octobri Mense, 1891, ASS 24, 196; Adjutricem populi, 1895, ASS 28, 130; Diuturni temporis spatium, 1898, ASS 31, 146; và tông thư Parta humano generi, 1901, ASS 34, 195. Các trích dẫn về sau từ các văn kiện trên của Đức Lê-ô XIII chúng tôi sẽ chỉ ghi tên văn kiện và ngày tháng mà thôi.
184.   Đức Lê-ô XIII, Supremi apostolatus, 1883.
185.   Đức Lê-ô XIII, Superiore anno, 1887.
186.   Đức Lê-ô XIII, Octobri Mense, 1891.
187.   Đức Lê-ô XIII, Jucunda Semper, 1894; xem thánh Bê-na-đi-nô thành Si-ê-na, Serm. in Nativit. B.V.M., 6.
188.   Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X, Ad diem illlum, AAS 36, 1904; p. 453.
189.   Đức Pi-ô IX, Ad diem illum, 1904; cf. Eadmer, De Excellentia Virginis Mariae, c. 9.
190.   Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X, Ad diem illum, 1904; xem thánh Bê-na-đô, Serm. de temp. in Nativ. B. V. de Aquaeductu, n. 4; thánh Bê-na-đi-nô thành Si-ê-na, Quadrag. , de Evangelio aeterno, Serm. X, a. 3, c. 3.
191.   Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X, Ad diem illum, 1904. Xem Litterae Apostolicae, AAS 2, ngày 27 tháng 8 năm 1910, 901 để biết thêm về Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X với Đức Ma-ri-a, Trung Gian Mọi Ơn.
192.   Đức Bê-nê-đíc-tô XV (1914-1922), tông thư Ilter Sodalicia, AAS 10, 1918, p. 182 và các tông thư khác nói về Mẹ Trung Gian Mọi Ơn như Fausto appetente die, AAS 13, 1921, p. 334; thư gửi cho hồng y Gasparri, AAS 10 ngày 27 tháng 4 năm 1917, p. 182. Allocution at Decree Reading for Canonization of Joan of Arc, Actes de Benoit XV, v. 2, 1926, p. 22; thư gửi cho hàng Giáo Phẩm Hoa Kỳ về việc Đền Thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm, AAS 11, 1919, p. 173.
193.   Xem La Vie Diocèsaine, v . 10, 1951. p. 96-106, văn bản của Thánh Bộ Lễ Nghi ngày 12 tháng 1 năm 1921. Dựa theo thánh lễ và kinh phụng vụ về Đức Ma-ri-a Trung Gian Mọi Ơn, năm 1921, Thánh Bộ Phượng Tự đã chuẩn thuận thánh lễ Đức Ma-ri-a Đồng Trinh, Mẹ Ma-ri-a Trung Gian Mọi Ơn Sủng năm 1971; xem Collection of Masses of the Blessed Virgin Mary, v. I, Sacramentary, Catholic Book Co. , New York, 1992. Phụng Vụ mới gọi Đức Ma-ri-a là “Kho Tàng Mọi Ơn Sủng,” Entrance antiphon, p. 223.
194.   Phụng vụ Bi-dan-tin, xem S. Salaville, Marie dans la liturgie byzantine on grec-slav, in Maria, Etudes sur la Sainte Vierge, ed. H. Du Manoir. S. J., v. I, Paris, 1949, p. 303.
195.   Phụng vụ Cốp-tíc, xem Kitab al ebsallyati wa al Turuhat, Cairo, 1913, p. 131.
196.   Phụng vụ Ác-mê-ni, xem v. Tekeyan, La Mère de Dieu dans la liturgie armenienne, in Maria, Etudes sur la Sainte Vierge, ed. H. du Manoir, S. J.,v.I, Paris, 1949, p . 359.
197.   Phụng vụ Can-đê, xem A. M. Massonat, O.P., Marie dans la liturgie chaldéenne, in Maria, Etudes sur la Sainte Vierge, ed.,H.du Manoir, S. J., v. I, Paris, 1949, p. 348.
198.   Xem Đức Pi-ô XII, Mediator Dei, AAS 39, 1947; xem C. Gumbinger, O.F.M. Cap., Mary in the Eastern Liturgies, Mariology, v. I, P. 185; xem A. Robichaud, S.M., Mary, Dispensatrix of All Graces, Mariology, v. II, p. 436; “Les orandi, lex credendi.”
199.   Đức Pi-ô XI (1922-1939) tông thư Cognitum sane, AAS 18, p. 213.
200.   Đức Pi-ô XI, tông thư Miserentissimus Redemptor, AAS 20, 1928, p. 178.
201.   Đức Pi-ô XI, tông thư Ingravescentibus malis, AAS 29, 1937, p. 380. Các tông thư khác của Đức Pi-ô XI về Mẹ Trung Gian: Galliam Ecclesiae filiam, AAS 14, 1922, p. 186; Exstat in civitate, AAS 16, 1924, p. 152.
202.   Đức Pi-ô XII (1939-1957), Superiore anno, AAS 32, 1940, p. 145; AAS 45, 1953, p.382.
203.   Đức Pi-ô XII, Mediator Dei, 1947.
204.   Đức Pi-ô XII, sứ điệp truyền thanh gửi đến Fatima, ngày 13 tháng 5 năm 1946, AAS 38, p. 266. Các tài liệu khác của Đức Pi-ô XII nói về Mẹ Trung Gian Mọi Ơn: Mystici Corporis, AAS 35. 1943, p. 248; L’Osservatore Romano, ngày 22 và 23 tháng 4 năm 1940, p. 1; sắc lệnh của Thánh Bộ Lễ Nghi về việc phong thánh cho thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho, AAS 34, 1942, p. 44. Trong sắc lệnh này, Đức Pi-ô XII công nhận các phép lạ để phong thánh cho thánh Mong-pho, sắc lệnh viết: “Tóm lược truyền thống các giáo phụ, thánh tiến sĩ chảy mật Bê-na-đô đã dạy rằng Thiên Chúa muốn chúng ta có được mọi ơn qua Đức Ma-ri-a. mọi thần học gia đương đại đều chấp nhận giáo lý thánh thiện và đáng ghi nhớ này.” Sắc lệnh này khẳng định sự hiện hữu của giáo lý này trong truyền thống Giáo Hội và trong sự đồng ý chung của các thần học gia.
205.   Xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
206.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 60.
207.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
208.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 61.
209.   Xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
210.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
211.   Xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
212.   Đức Lê-ô XIII, Adjutricem populi, 1895.
213.   Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X, Ad diem illum, 1904.
214.   Đức Pi-ô XI, Miserentissimus, 1928.
125.   Đức Pi-ô XII, sứ điệp truyền thanh ngày 13 tháng 5 năm 1946, AAS 38, p. 268.
216.   Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater,  21-24; ch. III, Maternal Mediation, 38-45.
217.   Đức Gio-an Phao-lô II, “Chúa Ki-tô Là Đường, Đức Ma-ri-a là Nguồn Dẫn Đường Chắc Chắn của Chúng Ta,” diễn văn đọc tại Orte, Italie, ngày 17 tháng 9 năm 1989, L’Osservatore Romano, ngày 2 tháng 10 năm 1989, p. 3.
218.   Đức Gio-an Phao-lô II, diễn văn “Đức Ma-ri-a đã Nhận Thiên Chức Làm Mẹ dưới Chân Cây Thập Giá,” ngày 11 tháng 5 năm 1983, L’Osservatore Romano, n. 20, 1983, p. 1.
219.   Đức Gio-an Phao-lô II, Salvifici Doloris, 26.
220.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 23.
221.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 45.
222.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 21.
223.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 42.
224.   Đức Gio-an Phao-lô II, diễn văn “Chúa Ki-tô là Đường, Đức Ma-ri-a là Nguồn Dẫn Đường Chắc Chắn của Chúng Ta” đọc tại Orte, Italia ngày 17 tháng 9 năm 1989, L’Osservatore Romano, số ngày 12 tháng 10 năm 1989, p. 3.
225.   Khi nói rằng mọi ân sủng được phân phát qua sự Trung Gian của Đức Maria, chúng ta phải phân biệt được những cách thế Trung Gian của Mẹ. Sự phân phát các ân sủng cho nhân loại theo ý Mẹ (ở đây chúng tôi không có ý nói đến các thiên thần) được bắt đầu ngay sau khi Mẹ lên trời vinh hiển. Trước khi Mẹ về trời chúng ta chỉ nói đến việc Mẹ phân phát ân sủng một cách chung chung hơn, tức là, do việc Mẹ đã cộng tác trong việc đem lại ơn sủng cứu độ trong tư cách Đồng Công, nên Mẹ thực sư là Trung Gian đối với mọi ơn, vì mọi ân sủng cứu độ đều phát xuất từ thập giá. Vì thế, đối với các ân sủng được ban phát trước khi Đức Ma-ri-a về trời và các ân sủng được ban qua các bí tích chúng ta vẫn có thể nói rằng Đức Ma-ri-a có một chức vụ Trung Gian trong từng ơn và mọi ơn cứu độ qua vai trò là Đấng Đồng Công tham dự vào việc đem lại mọi ân sủng từ núi Can-vê, và có thể gọi đây là nguyên nhân cội rễ.
226.   Xem thánh I-rê-nê, Adversus Haereses, I, 3, c. 22, 4; PG 7, p. 958-959.
227.   Xem Đức Pi-ô IX, Ineffabilis Deus, 1854.
228.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 61, 62.
229.   Xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 60.
230.   Xem Đức Pi-ô XII, tông thư Ad Reginam caeli, AAS 46, 1954, pp. 633-636.
231.   Đức Gio-an Phao-lô II, diễn văn “Đức Ma-ri-a Nhận Thiên Chức Làm Mẹ dưới Chân Thập Giá” đọc ngày 11 tháng 5 năm 1983, L’Osservatore Romano, số 20, 1983, p. I.
232.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 40.
233.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 59.
234.   Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Presbyterorum Ordinis, 1965, 18.
235. Xem Đức Pi-ô IX, Ineffabilis Deus, 1854; Đức Phao-lô VI, tông thư Marialis Cultus, 1974, 26.
236.   Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 18.
237.   Xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
238.   Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 41.
239.   Thánh Tê-ô-phan Ni-xê-a (+ 1381), Serm. in SS Deiparam, ed. M. Jugie, A. A., Lateranum Nova Series, Rome, 1935, I, 51; xem M. O’ Carroll, C. S. Sp., Theotokos. A Theological Encyclopedea of the Blessed Virgin Mary, Delaware, 1982, pp. 340-341. Tóm lược về các giáo phụ đối với quan hệ giữa Chúa Thánh Thần và Đức Ma-ri-a trong tông thư Marialis Cultus, 26 của Đức Phao-lô VI.
240.   Thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho (1673-1716), Thành Thực Sùng Kính, 25.
241.   Xem Đức Gio-an Phao-lô II, tông thư Dominum et Vivificantem, 25.
242.   Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Dominum et Vivificantem, 3, 11, 14.
243.   M. J. Scheeben, Mariology, tr. T. Geu-kers, St. Louis, Herder, 1946, v. II, p. 185.
244.   M. J Scheeben, Mariology, v. II, p. 186.
245.   Lý thuyết  thần học của thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê về Chúa Thánh Thần và Đức Ma-ri-a trong các thư, bài giảng, nhật ký của ngài hầu hết vẫn chưa được in ấn. Nhưng điều chính yếu trong đóng góp của ngài về Thánh Mẫu học có thể tìm đọc trong Immaculate Conception and the Holy Spirit của H. M. Manteau - Bonamy, O.P. bản dịch do Richard Arnandez, F.S.C., từ nguyên bản tiếng Pháp La Doctrine mariale du Père Kolbe, Esprit-Saint et Conception Immaculée, Libertyville, II, Franciscan Marytown Press 1977; L’ Immacolata e lo Spirito Santo, la Spiritualita e l’apostolato mariano del Servo di Dio P. Massimiliano M. Kolbe dei frati Minori Conventuali in Ephemerides Mariologicae, Marid, 10, 1960, pp. 223-255 của S. Ragazzini, O.F.M. Conv.;  Aim Higher: Marian Thoughts of St. Maximilian Kolbe, O.F.M. Conv., Ndola, Zambia, Mission Press, 1976; Stronger Than Hatred: A Collection of Spiritual Writings, New York, New York city Press, 1988;  Piacentini, Ernesto, O.F.M. Conv. Immaculate Conception: Panorama of the Marian Doctrine of Blessed Maximilian Kolbe, tr., Donald Kos, O.F.M. Conv., Kenosha, WI, Franciscan Marytown Press, 1975.
246.   Thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê, thư gửi cha Salezy Mikolajczyk, ngày 28 tháng 7 năm 1935, in trong Immaculate Conception and the Holy Spirit, p.50 của Manteau-Bonamy.
247.     Thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê, hội thảo ngày 5 tháng 2 năm 1941, in trong Immaculate Conception and the Holy Spirit, p.50 của Manteau-Bonamy.
248.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 53.
249.     Xem Manteau-Bonamy Immaculate Conception and the Holy Spirit, p.50-52.
250.     Thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê, Miles Immacula-tae, I, 1938, Manteau-Bonamy, Immaculate Conception and the Holy Spirit, p.90.
251.     Thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê, thư gửi cha Mikolajczyk, ngày 28 tháng 7 năm 1935, Immaculate Conception and the Holy Spirit, p.99. Manteau-Bonamy.
252.     Đức Gio-an Phao-lô II, “Sự Thánh Thiện của Đức Ma-ri-a Trong Trật Tự Cứu Độ”, Immaculate Conception and the Homily at St. Mary Major’s Basilica, ngày 8 tháng 12 năm 1982, L’Osservatore Romano, 50, 1982, p.1,4.
253.     Ghi chú 118 trong chương này đã cắt nghĩa sơ lược về các cách thức ban phát các ơn sủng cứu độ của Đức Ma-ri-a. Để hiểu thêm, có thể xem phần các Đức Giáo Hoàng nói về việc các ơn sủng cứu độ được ban qua sự Trung Gian của Đức Ma-ri-a một cách tuyệt đối như thế nào, cũng ở phần trước trong chương này.
254.     Xem Đức Pi-ô XII, Superiore anno, AAS 32, 1940, p.145, Mediator Dei, 1947.
255.     Sub Tuum Praesidium, xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 66 và chú thích 21; về việc ngày tháng và những sửa chữa cho sát nguyên bản hơn bản dịch La Ngữ thông thường vẫn được trích dẫn, xem Sub Tuum trong Theotokos của O' Carroll, 1982, p.336.
256.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 66.
257.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
258.     Để hiểu thêm về truyền thống người mẫu hoàng trong Cựu Ước cũng như sự hoàn tất truyền thống ấy nơi Đức Ma-ri-a trong Tân Ước, xin xem The Mother of the Messiah, Marian Studies, Dayton, 12, 1961, p. 28 của Barnabas Ahern; Art und Herkunft des Amtes der Koningsmitter im Alten Testament, Festschrift J. Friederich, Heidelberg, 1959, p. 51 của Cazelles; Our Father, Our Mother, Franciscan University Press, Stenbenville, 1940, p. 92 của George Montagne S.M.; The Nature of the Queenship of Mary, Catholic University of America, 1973, p. 297 của George Kirwin.
259.     Xem Roland de Vaux, Ancient Israel, New York, 1961, p. 117; G. Kirwin, the Nature of the Queenship of Mary, Catholic University of America, 1973, p. 297.
260.     Xem G. Kittel và G. Friedrich, Theological Dictionary of the New Testament, Abr. v, Grand Rapids, 1990, pp. 782-783.
261.     Xem Kirwin, the Nature of the Queenship of Mary, Catholic University of America, p. 310.
262.     Việc Sa-lô-môn giết hoàng thân A-đô-ni-da không hề làm giảm bớt sự rõ ràng của vai trò làm trạng sư của mẫu hoàng Bát-sê-ba, vì việc A-đô-ni-da chiềm hầu thiếp của vua cha là dấu hiệu chứng tỏ muốn soán ngôi (x. 2 Sam, 16, 20-23).
263.     Xem Đức Pi-ô XII, Ad Caeli Reginam, 1954.
264.     Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Ma ter, 24.
265. Xem Đức Pi-ô XII, Ad Caeli Reginam, 1954.
266.     Đức Pi-ô XII, Ad Caeli Reginam, 1954, AAS 46, p. 633.
267. Xem Barnabas Ahern, the Nature of the Messiah, Marian Studies 12. 1961,, p. 28; Kirwin, the Nature of the Queenship of Mary, Catholic University of America, p. 28; xem thêm các tham khảo trong chú thích số 4.
268.     Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 21.
269.     Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 21.
270.     Xem thánh Ê-pi-phan, Ad Haer.78,11, PG 42, 716C; Quodvultdeus, De Symbolo 3, PL 40, 661; John Henry Newman, Letter to Pusey, London, 1866; M.J. Scheeben, Mariology, tr. Geuters, 1946; v.1, ch.1, p.15; A. Schaefer, the Mother of Jesus in Holy Scripture, tr. F. Brossart, v.c., New York, 1913; B. Le Frois, S.V.D., the Woman Clothed with the Sun (Apoc. 12), Individual or Colletive? Rome, 1954 và The Woman Clothed with the Sun American Ecclesiastical Review, 126, 1952, p. 161; thánh Pi-ô X, Ad diem illum,1904: “Mọi người biết rằng Người Nữ ấy là Đức Trinh Nữ Ma-ri-a Vô Nhiễm, Đấng đã sinh ra Đấng Cứu Thế”; Đức Pi-ô XII, Munificentissimus Deus, 1950, AAS 42,  p. 763.
Chú thích: Điều này không hề làm giảm bớt ý nghĩa phong phú về Giáo Hội của trình thuật Khải Huyền 12:1. Theo Newman: “Đã dĩ nhiên tôi không chối rằng Người Nữ ấy là hình ảnh của Giáo Hội, nhưng tôi vẫn xác quyết rằng thánh Gio-an Tông Đồ có lẽ sẽ không dùng hình ảnh đặc biệt này để nói về Giáo Hội, nếu như đã không có Đức Trinh Nữ Ma-ri-a ...” trước đó. Letter to Pusey, Difficulties of Angelicans, London, 1866.
271.     Đức Phao-lô VI, tông thư Signum Magnum ngày 13 tháng 5 năm 1967, p.1; xem bài đọc ngày lễ Mẹ Lộ Đức ngày 11 tháng 2.
272.     Xem B. Le Frois, S.V.D., The Woman Clothed with the Sun (Apoc. 12), Individual or Collective? Rome, 1954, và The Woman Clothed with the Sun, American Ecclesiastical Review, 126, 1952,, p. 161.
273.     M.J. Scheeben, Mariology, v.1, p. 15.
274.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 59.
275.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
276.     Thánh I-rê-nê, Adversus Haereses V, c.19, 1; Harvey, ed., Cantabrigiae, 1857, 2, 375-376; PG 7, 1175-1176; xem G. Jouassard, Etudes Mariales, Bulletin de la Société, Francaise d’ Etudes Mariales, Paris, 16, 1959, p. 57.
277.     Thánh Ép-rem, S. Ephraem Syri testim, de B.V.M. mediatione, Ephemerides Theologicae Lovanienses, IV, fasc. 2, 1927.
278.     Thánh Giê-ma-nô thành Công-tan-ti-nô, Hom in S. Mariae zonam, PG 98, 3306.
279.     Thánh ca sĩ Rô-ma-nô, Hymn on the Nativity, II, Sources Chrétiennes, Lyons, 110, 100. Để biết thêm về các giáo phụ và tài liệu tham khảo lịch sử về Đức Ma-ri-a Trạng Sư, gồm có thánh Gio-an Đa-ma-xê-nô,m thánh Mô-đê-tô thành Giê-ru-sa-lem, Tê-ô-tê-nô Li-vi-a, v.v... xin đọc The Theotokos in Hymnography, Paris, 1930, 64 của E. Eustriades; Advocate Theotokos, 1982, Dublin, p. 6 của O’ Carroll; Tratado de la Virgen Santissima, Editorial Catolica, Madrid, 1952, của G. Alastuary, do M.J. La Giglia dịch với tựa đề The Blessed Virgin Mary, St. Louis, Herder, 1964, v.II, chủ động. 4, p. 159.
280.     Thánh Bê-na-đô, De Aqueductu 7, ed. Lecterq. v. 279; PL 183, 43c.
281.     Thánh ca phụng vụ, sách phụng vụ giờ kinh Rô-ma.
282.     Đức Lê-ô X, bửu sắc Pastoris Aeterni, ngày 6 tháng 10 năm 1520, xem Documentos Marianos, Madrid 76; xem Đức Xít-tô V, bửu sắc Gloriosae ngày 8 tháng 6 năm 1587; Đức Cơ-lê-măng IX, bửu sắc Sincera Nostra, ngày 21 tháng 10 năm 1667, Đức Cơ-lê-măng XI, Commissi Nobis, ngày 8 tháng 12 năm 1708; xem Documentos Marianos, 93, 115, 124.
283.     Đức Pi-ô VII, Apostolic Constitution, Tanto studio, ngày 19 tháng 2 năm 1805, Aur 7, 511.
284.     Đức thánh Giáo Hoàng Pi-ô X, Virgine Sanctissima, kinh Đức Pi-ô X soạn nhân dịp kỷ niệm 50 năm tuyên bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm ngày 8 tháng 12 năm 1903; AA.1, p.97.
285.     Đức Pi-ô XI, tông thư Miserentissimus Redemptor, ngày 8 tháng 5 năm 1928, AAS 20, 185.
286.     Đức Pi-ô XI, bài diễn văn đọc trước đoàn hành hương Pháp hiện diện trong buổi đọc sắc lệnh “de tuto” (phong thánh cho Antida Thouret) ngày 15 tháng 8 năm 1933; xem Dante, Paradisco, Canto 33, 14, 15.
287.     Đức Pi-ô XI, bài diễn văn đọc trước đoàn hành hương Pháp có mặt trong buổi đọc sắc lệnh “de tuto” (phong thánh cho Antida Thouret) ngày 15 tháng 8 năm 1933. L’ Osservatore Romano ngày 15 tháng 8 năm 1933.
288.  Đức Pi-ô XII , bài diễn văn trong ngày tôn phong hiển thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho, ngày 21 tháng 7 năm 1947, AAS 39, 408.
289.     Đức Pi-ô XII, sứ điệp truyền thanh gửi đến Fatima ngày 13 tháng 5 năm 1946, AAS 38, 264.
290.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 62.
291.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 69.
292.     Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 40.
293.     Đức Gio-an Phao-lô II, bài diễn văn “Đức Ma-ri-a đã Lãnh Nhận Thiên Chức Làm Mẹ dưới Chân Thập Giá” đọc ngày 11 tháng 5 năm 1983, L’ Osservatore Romano, ngày 16 tháng 5 năm 1983, p. 1.
294.     Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 30.
295.     Xem Gehard Kittel và Gerhard Friedrich, Theological Dictionary of the New Testament; Abridged volume, Michigan, 1985, p. 782-783; xem Scheeben, Mariology, v. II, p. 262.
296.     Xem thánh I-rê-nê trong thư J.H. Newman gửi cho Pusey, Angelican Difficulties, London 1866, p. 37; thánh Gio-an Đa-ma-xê-nô, Serm. Dorm. II, PG 96, 733D; xem O’ Carroll, Advocate, Theotokos, p. 6.
297.     M.J. Scheeben, Geulars dịch, Mariology, v.II, p.363.
298.     Xem chương II sách này, phần Chúa Thánh Thần và Mẹ Trung Gian Mọi Ơn.
299.     Thánh Mác-xi-mi-li-an Kôn-bê, Notes 1938, ed. Manteau-Bonamy, do Armandez dịch, The Immaculate Conception and the Holy Spirit, Marian Writings of Fr. Kolbe, 1977, Franciscan Marytown Press, p.39.
300.     Xem Manteau-Bonamy, The Immaculate Conception and the Holy Spirit Marian Writings of St. Maximilian Kolbe, 1977, pp. 39-40.
301.     Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 24; xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 59.
302. Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 48.
303.     Thánh Mong-pho, do F. Faber dịch, Thành Thực Sùng Kính, 20,35; xem 21, 25.
304.     Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptoris Mater, 41.
305.     Thí dụ. xem Đức Gio-an Phao-lô II, Redemptor Homini, 1978, 15-17, tông thư Dives in Misericordia, 1980, 15; Christifideles Laici, 3-7.
306.     Đức Gio-an Phao-lô II, Dives in Misericordia, 1980, 15.
307.     Đức Gio-an Phao-lô II, Christifideles Laici, 1988, 64.
308.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 63.
309.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 63, 64; xem thánh Am-rô-si-ô, Expos. Lc II,7, PL 15, 1555.
310.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 65.
311.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 65.
312.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 58.
313.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 65.
314.     Đức Pi-ô XII, tông thư Mystici Corporis, 1943, 110.
315.     Đức Gio-an Phao-lô II, tông thư Salvifici Doloris, ngày 11 tháng 2 năm 1984, 25.
316.     Đức Gio-an Phao-lô II, Salvifici Doloris, 25.
317.     Đức Gio-an Phao-lô II, Salvifici Doloris, 27.
318.     Đức Gio-an Phao-lô II, Salvifici Doloris, 24.
319.     Đức Pi-ô XII, Mystici Corporis, 1943, 106.
320.     Xem Đức Gio-an Phao-lô II, Dives in Misericordia, 15; Christifideles Laici, 3-7; Redemptor Hominis, 15-17.
321.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 54.
322.     Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 54.
323.     Để biết thêm chứng cứ về các giáo huấn, sách vở, tài liệu hội nghị v.v... về nhiệm vụ Đồng Công, Trung Gian và Trạng Sư của Đức Ma-ri-a của các nhà thần học trong các trường đại học Công Giáo trong các thập niên trước Công Đồng, đặc biệt các thập niên 1940, 1950, và những năm đầu thập niên 1960 đã được phát hành rộng rãi trên thế giới, xin đọc: Rô-ma, Ý  xuất bản có Marianum; Ma-rít, Tây-ban-nha xuất bản có Ephemerides Mariologicae; Pa-ri, Pháp xuất bản có Etudes Mariales, Bulletin de la Société francaise d’ Etudes Mariales; Dayton, Ohio, Hoa Kỳ xuất bản có Marian Studies. Về sự chấp nhận quốc tế của các giám mục đối với thiên chức Đồng Công trong thời gian này, xem De Corredemptione Beatae Virginis Mariae, Civitas Vaticana, 1950, p. 608 của Carol; về sự xác nhận của quyền giáo huấn đối với sự chấp nhận mang tính cách thần học phổ quát của Đấng Trung Gian Mọi Ơn, xem Thánh Bộ Lễ Nghi dưới thời Đức Pi-ô XII, các phép lạ để phong thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho, AAS 34, 1942, p. 44: “Tóm lược truyền thống các giáo phụ, thánh tiến sĩ chảy mật Bê-na-đô đã dạy rằng Thiên Chúa muốn chúng ta có được mọi sự qua Đức Ma-ri-a. Mọi thần học gia đương đại đều chấp nhận giáo lý thánh thiện và đáng ghi nhớ này.”
324.     Xem Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Lumen Gentium, 63, 65.

TÍN ĐIỀU THỨ NĂM VỀ ĐỨC MẸ

            Đức Ma-ri-a
*   Đấng Đồng Công Cứu Chuộc,
*   Đấng Trung Gian Mọi Ơn,
*   Đấng Trạng Sư Cho Dân Chúa.
Tất cả chúng ta được diễm phúc sống trong cao điểm của Kỷ nguyên Maria. Nhiều trung tâm Thánh Mẫu quốc tế như Lộ đức, Fatima, nhiều nơi Chúa Mẹ đang hiện ra cũng như rất nhiều phong trào hiện nay về Đức Mẹ đã cho thấy rõ ràng đỉnh cao tình yêu và lòng sùng kính Mẹ Chúa Giê-su hiện thời trên khắp thế giới. Cùng với cao đỉnh sùng kính Đức Mẹ, Kỷ nguyên Ma-ri-a này cũng vô cùng cần đến một cao điểm trong học thuyết về Mẹ Maria. Bởi vì một tình yêu chân thật đối với Mẹ Ma-ri-a ắt hẳn phải có một nền tảng chân lý vững chắc về Mẹ Maria. Đến thời điểm hiện nay trong lịch sử, Giáo Hội Công giáo đã công bố bốn tín điều về Đức Mẹ như những chân lý cốt lõi của Giáo Hội: tín điều Mẹ Thiên Chúa, tín điều Mẹ Vô Nhiễm Tội, tín điều Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời, và tín điều Mẹ Lên Trời Hiển Vinh Hồn Xác. Tại cao điểm của Kỷ Nguyên Ma-ri-a này, đây là lúc Giáo Hội tuyên bố và khẳng định tín điều thứ Năm và là tín điều mới nhất về Đức Mẹ, về nhiệm vụ của Mẹ trong công cuộc Cứu Thế như Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, Đấng Trung Gian Mọi Ơn, Đấng Trạng Sư của Dân Chúa.
Khi Giáo Hội kêu xin Mẹ Ma-ri-a dưới tước hiệu “Đấng Đồng Công Cứu Chuộc”, Giáo Hội muốn tuyên xưng rằng Đức Ma-ri-a đã cộng tác một cách cá biệt vào công cuộc Cứu Chuộc gia đình nhân loại của Chúa Giê-su Kitô, Đấng là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ chúng ta. Trong biết cố Truyền Tin (Lc 1,38) Đức Ma-ri-a đã tự do dâng hiến cho Ngôi Hai Thiên Chúa một thân xác để làm khí cụ trong công trinh cứu thế như lới Thánh kinh: “Chúng ta đã được thánh hoá nhờ sự hiến dâng thân xác Chúa Ki-tô một lần là đủ” (Heb 10,10).
Dưới chân Thánh Giá (Jn 19,26) Nẹ đã hiệp nhất với Con mình trong những đau khổ lớn lao, như lời Đức Gio-an Phao-lô II, “Đó là một cộng tác vào sự cứu độ tất cả chúng ta” (Salvifici Doloris, n. 25). Vì sự thông phần mật thiết trong công trinh cứu độ của Chúa, Mẹ Đấng Cứu Thế đã chính đáng và xứng đáng được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II và Giáo Hội Công Giáo tán dương là Đấng Đồng Cứu Chuộc.
Điều quan trọng cần chú ý là tiền tố “CO” trong tước hiệu Đồng Công Cứu Chuộc (Coredemptrix) không hề mang ý nghĩa “ngang hàng”, nhưng đúng hơn là “cùng với”, xuất phát từ giới từ “cum” trong La ngữ. Tước hiệu Đồng Công của Mẹ không hề đưa Mẹ lên ngang hàng với Người Con Chí Thánh của Mẹ là Chúa Giê-su Kitô. Đúng hơn, tước hiệu ấy chỉ diễn tả một sự thông phần cá biệt của Mẹ Maria, một sự thông phần hoàn toàn đệ nhị, và tuỳ thuộc nhiệm vụ cứu thế của Chúa Giêsu, Đấng duy nhất vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật.
Thứ đến, Mẹ Ma-ri-a đã được Giáo Hội ca tụng dưới tước hiệu là Đấng Trung Gian Mọi Ơn. Mọi ơn sủng tuôn tràn từ công cuộc cứu thế của Chúa Giê-su Ki-tô được ban cho gia đình nhân loại qua sự can thiệp hiền mẫu của Mẹ Maria. Mẹ Ma-ri-a đã thực hiện nhiệm vụ Trung Gian giữa Chúa Giê-su Kitô, Tác Giả Mọi Ơn Thánh với thế giới khi Mẹ đồng ý lãnh nhận chức vụ làm mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể (Lc 1,38). Và từ Thập Giá Núi Calvario (Jn 19,26) Chúa Giê-su đã ban Mẹ Ma-ri-a làm Mẹ tất cả chúng ta như một ơn trọng đại sau cùng ban cho nhân loại: “Hỡi con, đây là Mẹ con” (Jn 19,26). Vi vậy Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã gọi Đức Ma-ri-a là “một người mẹ đối với chúng ta trong trật tự ân sủng” (Lumen Gen-tium số 62), nhiều vị Giáo Hoàng trong thế kỷ XX này đã chính thức giáo huấn về học thuyết Mẹ Ma-ri-a là Đấng Trung Gian Mọi Ơn, theo lời cùa Thánh Bênađô: “Thánh ý Chúa muốn mọi ơn chúng ta được đều phải qua Mẹ Maria”. Đấng Trung Gian đã thực hiện công việc này trong sự kết hiệp mật thiết với Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hoà, là Đấng cùng Mẹ khởi đầu công cuộc Cứu Thế của Chúa trong biến cố Truyền Tin (xem Lc 1,35).
Tiếp đến, Đức Ma-ri-a là Đấng Bầu Cử cho Dân Chúa: Mẹ nhận lấy mọi lời cầu xin của con cái trần gian, nhất là trong những llúc gian nan, và đem những lời nguyện ấy đến trước toà Chúa Giê-su Con Mẹ với tư cách Trung Gian Hiền Mẫu của Mẹ.
Trong Cựu ước Bà-Mẹ-Nữ-Hoàng đã aen những nhu cều cần thiết của con dân Israel đến ngai toà quân vương con Bà (xem 1 Các Vua 2,19). Ngày nay Mẹ Maria, Bà-Mẹ-Nữ-Hoàng, Trạng Sư trong tân vương quốc của Con Mẹ, cũng đem những lời cầu xin của Dân Chúa đến ngai toà của Người Con hiển vinh của Mẹ là Vua Kitô, đặc biệt là trong những thời buổi khó khăn hiện nay.
Nhiệm vụ Đồng Công Cứu Chuộc của Mẹ Ma-ri-a là Mẹ Chúa Giêsu, xét như Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, Đấng Trung Gian Mọi Ơn, Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa, thực sự đã được chứa đựng trong quyền giáo huấn chính thức và có thẩm quyền của Giáo Hội. Hiện nay, đỉnh cao của Kỷ Nguyên Maria, điều còn lại chỉ là phán quyết tối hậu của Giáo Hội về tín điều này của Đức Mẹ, như một tín điều Công giáo được Thiên Chúa mặc khải.
Tiến sĩ Mark Miravalle, giáo sư Thần học và Thánh Mẫu học tại Đại học Steubenville của Dòng Phanxicô đã viết một quyển sách nhan đề “Đức Maria, Đồng Công Cứu Chuộc, Đấng Trung Gian Mọi Ơn Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa”. Công trình này đã cắt nghĩa về mặt Thần học nhiệm vụ Đồng Công của Mẹ Ma-ri-a trong Thánh kinh, trong truyền thống các tông đồ, và trong giáo huấn chính thức củ Giáo Hội, đã khiêm tốn khẩn nguyện Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II tuyên bố nhiệm vụ Đồng Công Cứu Chuộc của Mẹ với tư cách Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, Đấng Trung Gian Mọi Ơn và là Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa, như một tín điều Công giáo được Thiên Chúa mặc khải, để ton kính Đức Ma-ri-a một cách xứng đáng, và vì lợi ích của Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, Công giáo và tông truyền của Chúa Kitô. Đức Hồng Y Luigi Ciappi thời Đức Pi-ô II cho đến Đức Gio-an Phao-lô II, đã viết lời mở đầu mạnh mẽ ủng hộ công trình này và chính Ngài cũng thỉnh xin Đức Thánh Cha tuyên tín Đức Ma-ri-a là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, Đấng Trung Gian Mọi Ơn và là Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa. Ngài viết: “Tôi chia sẻ niềm hy vọng này của Tiến Sĩ Mark Miravalle”.
Vox Populi Mariae Mediatrici là một tổ chức giáo dân quốc tế. Tổ chức này hoạt động để xin Đức Thánh Cha tuyên bố tín điều Đức Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, Đấng Trung Gian, và Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa. Tổ chức của chúng tôi thu thập thỉnh nguyện của các tín hữu khắp thế giới để khiêm tốn ủng hộ Đức Thánh Cha trong việc tuyên bố tín điều mới nữa về Đức Mẹ. Vox Populi đang phân phát tác phẩm của Giáo Sư Miravalle khắpthế giới bằng nhiều ngôn ngữ, và đã nhận được những lời thỉnh nguyện từ rất nhiều quốc gia như Phi Luật Tân, Ai Nhĩ Lan, Mã Lai, Hồng Kông, Trung Hoa, Phong phú, Ý, Anh, Nga, Peru và mọi tiểu bang của đất nước Hoa Kỳ. Hai Vị Giáo Hoàng tiền nhiệm lá Đức Pi-ô IX và Đức Pi-ô XII đã tuyên bố hai tín điều về Đức Mẹ trước đây, đềìu coi việc thỉnh nguyện của tín hữu toàn cầu như một tiêu chuẩn cần thiết cho những hoạt động sau cùng của các Ngài, khi tuyên tín các tín điều về Đức Mẹ: Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Tội, và Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.
Là một tín hữu, nếu bạn muốn cùng thông phần trong việc dâng kính triều thiên tín điều mới nhất này cho Nữ Vương Vô Nhiễm, Mẹ chúng ta, trong giai đoạn tuyệt đỉnh của Kỷ Nguyên Ma-ri-a , xin bạn hãy điền thỉnh nguyện của mình và gửi đến:
Vox Populi Mariae Mediatrici:
P.O. Box 42028, Sancta Barbara.
CA 93140-2028.
Bạn có thể có Tác Phẩm của Tiến Sĩ Miravalle, tựa đề “Đức Maria, Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, Đấng Trung Gian Mọi Ơn, Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa” kèm với những thỉnh nguyện khác như vậy từ nhà xuất bản:
Queenship Publishinng
Vox Populi Mariae Mediatrici Center:
P.O. Box 42028, Santa Barbara,
CA 93140-2028
Phone: (800) 647-9882.
  FAX: (805) 687-0535

VOX POPULI MARIAE MEDIATRICI
 “Tổ chức Tín Hữu toàn cầu trong việc xin Đức Thánh Cha tuyên bố Tín điều Đức Ma-ri-a là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, Đấng Trung Gian Mọi Ơn và Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa”

 

ĐƠN THỈNH NGUYỆN
Kính thưa Đức Thánh Cha,
Với tình yêu con thảo, chúng con thành kính xin Đức Thánh Cha, Vị Đại Diện Chúa Kitô, long trọng công bố Giáo Huấn của Giáo Hội về nhiệm vụ Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc với Chúa Ki-tô là Đấng Cứu Chuộc nhân loại một tín điều. Chúng con tin rằng việc công bố như thế sẽ làm sáng tỏ trọn vẹn chân lý về Đức Maria, Nữ Tử của Đức Chúa Cha, Hiền Mẫu của Chúa Con, Ai Thê của Chúa Thánh Thần, Từ Mẫu của Giáo Hội. Vì thế, chúng con nguyện xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn Đức Thánh Cha trong việc xác nhận và tuyên bố Đức Nữ Đồng Trinh Ma-ri-a là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, Đấng Trung Gian Mọi Ân Sủng, và là Đấng Trạng Sư cho Dân Chúa.

Xin thành kính.


Magnificat anima mea Dominum