Hạnh Các Thánh


Ngày 31 tháng 8

THÁNH RAYMUNĐÔ HIỂN TU

Trong bức thư thứ nhất gửi cho Giáo đoàn Côrinhtô, thánh Phaolô đã viết lên những lời rất cảm động bày tỏ lòng hy sinh và tận tụy của ngài đối với họ. Ngài viết: “Anh em thân mến, chúng tôi đã nên như trò đùa cho thế gian, cho các thiên sứ và loài người. Chúng tôi điên dại vì Chúa Kitô để anh em nên những người khôn ngoan trong Người; chúng tôi yếu nhược để anh em hùng dũng. Anh em được trọng kính còn chúng tôi bị khinh miệt, bị bạc đãi, bị lưu lạc và bị kiệt sức vì lao công vất vả…” (1Cr 4,9-14)

Tuy không phải là môn đệ trực tiếp của thánh Phaolô, nhưng vì cùng chung hưởng một tinh thần bác ái của Chúa Kitô, nên thánh Raymunđô suốt đời đã lặn lội, tất tưởi và hy sinh cho phần rỗi anh em nô lệ ở Phi châu, theo một đường lối như thế.

Thánh nhân chào đời năm 1204, tại làng Catalôga. Không kể tên Raymunđô, thánh nhân còn có tên đệm là Nonnatô, nghĩa là không sinh theo thói thường. Lý do là vì mẹ ngài chết trước ngày sinh con và người ta giải phẫu để cứu sống ngài. Vì thế, ngay khi vừa ra đời Raymunđô đã được trao cho các bà đạo đức trông coi, và giáo dục. Với sự tận tâm của họ, thánh nhân qua một tuổi thơ ấu được nâng niu chiều chuộng rất mực. Sự yếu ớt về phần xác không làm hao tổn nghị lực bên trong của tâm hồn thánh nhân. Trái lại, ai ai cũng phải thầm khen lòng đạo đức sâu xa, việc học chuyên cần và tinh thần hy sinh xả kỷ của Raymunđô. Chính tâm tình vị tha chỉ biết lưu tâm đến người khác đã làm tỏ rõ ơn kêu gọi đặc biệt của thánh nhân.

Thực vậy, vừa mãn học xong, Raymunđô xin vào dòng “Chuộc kẻ làm tôi” hầu đem giúp đỡ những giáo dân bị quân hồi bắt làm nô lệ, và buộc phải chối bỏ đức tin công giáo. Và trong lúc thánh nhân còn phân vân, thì Đức Trinh Nữ Maria hiện ra cho biết: “Muốn đẹp lòng Người, phải hiến dâng đời sống làm giá cứu chuộc kẻ tù tội”. Không còn lưỡng lự gì nữa, thánh Raymunđô lập tức bán hết gia tài, lấy tiền cho kẻ khó rồi đến gõ cửa nhà dòng “Đức Mẹ chuộc kẻ làm tôi”.

Như đã được Đức Mẹ báo cho biết trước, cha bề trên tu viện hân hoan tiếp đón Raymunđô. Tất cả anh em trong dòng đều có cảm tưởng ngài là “người của Thiên Chúa sai đến”. Quả thực, chỉ trong mấy tháng sống trong tu viện, Raymunđô đã nêu gương cho anh em về mọi nhân đức: một đàng ngài hết sức vâng lời bề trên và giữ kỷ luật chu đáo, đàng khác ngài lại tận tình giúp đỡ mọi người trong hết mọi công việc. Ngài sống quên mình hoàn toàn, chỉ chăm lo cho kẻ khác! Vì thế, suốt năm tập, Raymunđô giữ công tác coi phòng bệnh nhân, chăm lo cơm nước và giặt quần áo cho các anh em đau ốm. Ngài làm việc cách tận tụy, vừa ý mọi người. Nói về nhân đức yêu người của thánh nhân, một anh em đã viết: “Thầy Raymunđô là ngôi sao bác ái của nhà dòng chúng tôi. Thầy kính trọng bề trên theo tâm tình hiếu tử của Chúa Cha. Thầy yêu mến chúng tôi vì tất cả là chi thể trong nhiệm thể Chúa Kitô. Đề tài suy niệm của thầy hầu hết là những lời Phúc âm nói về đức bác ái. Và dĩ nhiên càng giầu lòng quảng đại, thầy càng tỏ ra dồi dào nghị lực và can đảm để lấy sức mạnh thiêng liêng lấn át sự kém sút về sức khỏe…”

Chắc chắn cũng vì cảm phục đức bác ái sâu xa và chí tông đồ nhiệt thành của Raymunđô mà sau khi ngài khấn dòng và chịu chức linh mục, cha bề trên đã sai ngài đi Phi châu để cứu các tín hữu bị sa vào tay những người Hồi giáo. Địa điểm làm việc đầu tiên của cha là Algêria. Nơi đây cha phải chịu trăm ngàn cực hình tủi nhục mới cứu thoát được một số tín hữu. Gặp khi hết tiền, hết lương thực, cha phải bán thân làm nô lệ thay thế họ. Cảm phục nhân đức của cha, nhiều anh em dòng thất đảm đã lấy lại được tinh thần, nhiều chúa trùm Hồi giáo đã trở lại nhận đức tin và giúp đỡ cha nhiều phương tiện để chuộc lại các tín hữu nô lệ. Nhưng càng thành công trong sứ mệnh truyền giáo, cha Raymunđô càng bị nhiều kẻ thù giận ghét. Chúng tìm nhiều cách tác hại thánh nhân. Người ta kể: nhiều lần cha bị bọn chúng đánh đòn, cầm tù và bắt phải nhịn ăn nhịn uống. Chưa đủ, chúng còn dã tâm lấy thanh sắt nung đỏ dí vào môi cha. Chúng bảo: làm như thế để cha khỏi rao giảng Phúc âm. Dầu vậy, cha vẫn can đảm không sợ chi những vất vả, khó nhọc và tủi nhục. Cứ hăng hái dấn thân làm việc truyền giáo như Đức Mẹ đã truyền dạy. Thấy không sao lay chuyển được lòng nhiệt thành của nhà truyền giáo, quân thù của cha tìm hại cha một cách rất hiểm độc: chúng bắt cha trói lại, bỏ vào một chiếc thuyền mục ải rồi thả ra biển khơi, có ý cho thuyền đắm để cha thành mồi cho cá biển. Chúng nghĩ làm như thế là thượng sách, nhưng họ có ngờ đâu, nhờ lòng tin vững vàng và lời cầu xin sốt sắng của cha, Thiên Chúa đã sai sứ thần xuống đem cha về bến bình an vô sự. Lòng tràn ngập vui mừng và sung sướng, về tới nhà, cha Raymunđô hát to bài Maghificat khiến cho quân thù phải bỡ ngỡ và xấu hổ. Nhiều người trong bọn họ đã đệ đơn xin chịu phép rửa tội.

Giữ lúc ảnh hưởng của cha Raymunđô đang lên như sóng cồn, mọi công việc đều tiến hành và thành tựu, thì thánh Phêrô Nolascô bấy giờ đang làm bề trên tu viện biên thư đòi cha về. Không một lời than phiền, cha vâng lời đáp tầu về Tây Ban Nha. Cha làm việc ở đây không được bao lâu thì Đức Grêgôriô ban sắc đặt cha làm Hồng Y và sang Rôma làm việc trong thánh bộ. Lúc đầu, vì lòng khiêm nhường, cha muốn thoái từ, nhưng theo lệnh của thánh Phêrô, cha phải vâng lời. Dù với địa vị trọng đại, và việc làm khác hẳn với ý nguyện từ nhỏ, vị Tân Hồng Y vẫn không đổi cách sống, ngài luôn giữ đức tính đơn sơ, tinh thần bác ái tuyệt đối và đức vâng lời hoàn toàn.

Nhưng chẳng bao lâu, thánh nhân bị nhiều chứng bệnh dần phá hại sinh lực. Thêm vào đó, tuổi già mỗi lúc đến gần và công việc lại có phần nặng nhọc. Vì thế, đầu năm 1240, cha lâm bệnh phải nằm liệt giường và từ trần tại Barcêlôna, để lại cho hậu thế một gương mẫu xán lạn về đức Mến Chúa yêu người.