Hạnh Các Thánh


Ngày 25 tháng 8

THÁNH LUY HOÀNG ĐẾ
(1214-1270)
THÁNH GIUSE CALASAN LINH MỤC

THÁNH LUY HOÀNG ĐẾ

(1214-1270)

Vua thánh Luy là một tấm gương sáng ngời, phản chiếu những đức tính cao quý của một bậc dân chi phụ mẫu và của một người cha lý tưởng trong gia đình. Ngài đã là một vị thánh sống giữa triều đình hoa lệ, thánh trong gia đình và thánh trong mọi việc lo cho dân an nước thịnh.

Vua Luy sinh tại Poissy ngày 25-04-1214. Thân phụ là vua Luy VIII và thân mẫu là Hoàng hậu Blan Castilla.

Ngay từ tuổi thơ ấu, Luy đã được hấp thụ một nền giáo dục kiện toàn, nhất là về phương diện văn chương. Chính nhờ vốn kiến thức đó mà sau này khi lên ngôi cai trị nước Pháp, ngài đã làm vinh danh cho Giáo hội rất nhiều. Luy mồ côi cha ngay từ lúc cậu mới mười hai tuổi. Bà thân mẫu hằng lo lắng cho cậu sau này trở nên một người cầm quyền đạo hạnh, coi dân trị nước trên nền tảng công bằng, bác ái và trong sự kính sợ Thiên Chúa. Bà đã thuê riêng cho Luy một thầy dạy để bảo ban cậu học hành và dẫn đường thiêng liêng cho cậu. Tất cả đời sống đạo đức thánh thiện của Luy là kết quả của những lo lắng của một người mẹ đạo đức khôn ngoan. Bà luôn luôn nhắc đi nhắc lại cho Luy rằng: “Con ơi, mẹ yêu con trên hết mọi sự, nhưng thà mẹ thấy con chết còn hơn thấy con phạm tội trọng mất lòng Chúa”. Lời nói nồng nàn tha thiết ấy ghi sâu vào tâm khảm Luy, đến nỗi cả đời ngài đã không phạm tội trọng nào.

Lúc tuổi 19, vâng lệnh mẹ, Luy đã kết hôn với cô Margarita, con gái quân công miền Prôvencê và sinh hạ được bốn người con. Luy rất chăm lo đến đời sống đạo đức cho con cái, ngài hằng dạy bảo con cái biết kính yêu Thiên Chúa, ghét tội trọng và khinh chê của cải thế gian. Đời sống gương mẫu của ngài đã ảnh hưởng rất nhiều đến con cái, đến nỗi mỗi thứ sáu, mặc dầu còn bé, chúng cũng xin cha ăn chay hãm mình để bắt chước Chúa chết trên Thánh giá.

Lên nối ngôi cha coi dân trị nước, Luy được dân chúng hết lòng kính phục. Ngài luôn luôn tỏ ra là một con người thanh liêm chính trực, thương dân như thương con, đặt danh dự của Giáo hội cũng như của dân tộc lên trên những từ lợi danh vọng của mình. Cả triều thần ai nấy đều ngạc nhiên và cảm phục cách sống của vua thánh Luy. Hầu như ngài có hết mọi nhân đức, mà nhân đức nào cũng trổi vượt. Ngài xưng tội hằng tuần vào ngày thứ sáu, và sau khi lãnh phép tha tội, ngài thường xin linh mục cho phép dùng dây có buộc nút sắt quất vào lưng, có khi đến chảy máu để đền tội. Nhà vua còn có thói quen rửa chân cho một số những người nghèo khổ, tật bệnh vào mỗi chiều thứ bảy, và tiếp đón họ rất thân mật trong một bữa cơm thanh đạm do chính ngài đãi họ. Nhiều lần thấy ngài quá khiêm nhường như thế, một vị đại quan trong triều tỏ vẻ không bằng lòng, vua liền hỏi vị quan đó rằng: “Ngày thứ năm tuần thánh, khanh có thể rửa chân cho họ không?” - Vị quan đó trả lời: “ Trời ơi, không, không bao giờ hạ thần rửa chân cho những kẻ dơ dáy ấy” – Vua trả lời: “Thật, khanh không nên nói thế, không nên khinh bỉ một việc của Chúa đã căn dặn, dạy bảo chúng ta như một mệnh lệnh. Vậy, trẫm xin khanh hãy vì lòng yêu Chúa và nể trẫm mà tập lấy thói quen lành thánh đó”.

Một hôm vua lại hỏi quan đại thần đó rằng: “Một là bị bệnh hủi, hai là phạm một tội trọng, khanh thích đàng nào hơn?” – “Hạ thần thích ba mươi tội trọng còn hơn bị bệnh hủi” - “Khanh dại dột quá, nhà khanh không biết rằng: Không còn có bệnh nào kinh tởm bằng phạm tội trọng sao? Vì linh hồn phạm tội trọng thì giống hệt như các quỷ Satan”.

Có người trách vua đã quá mất nhiều thời giờ để làm những công việc bác ái, ngài trả lời: “Các khanh kỳ cục quá, các khanh cho sự siêng năng cần mẫn đọc kinh, cầu nguyện của trẫm là một trọng tội. Nếu trẫm dùng gấp hai thời giờ như thế để chơi bài bạc, hay rông ngựa vào rừng săn thú vật, chim muông thì chẳng ai nói sao!”

Nếu vua thánh Luy đã có một khí lực mạnh mẽ để tiến tới trên đường đạo đức, thì ngài cũng không kém hăng hái trong việc coi dân trị nước. Không bao giờ nước Pháp đã được hưởng một sự thịnh vượng, bằng an như dưới triều đại vua Luy. Ngài đã dùng mọi biện pháp để bài trừ những nạn thương luân bại lý, chặn đứng những cuộc vui mại dâm của phường buôn son bán phấn, và ngài là người đầu tiên đã cấm trò dấu gươm ở nước Pháp. Ngài luôn luôn sẵn sàng nghe những nguyện vọng của dân chúng và tìm cách làm cho họ được thoả mãn trong phạm vi có thể được.

Thêm vào đó, vua Luy luôn luôn sẵn sàng tuân phục những mệnh lệnh, cũng như những lời khuyên giải của các Đức Giáo Hoàng. Ngài luôn giao tiếp với các tu sĩ dòng thánh Đaminh và Phanxicô, lĩnh hội thêm ánh sáng của chân lý và đem thực hành trong công việc cai trị quốc gia. Ngoài ra, vua thánh còn cho thiết lập những nhà thương, viện dưỡng lão, trại cô nhi và các dòng, đồng thời cũng cung cấp cho những viện đó đầy đủ các thứ tiện nghi.

Lòng quảng đại, thương người của vua thánh Luy còn lan rộng tới nhiều miền ở Đông phương. Người ta thuật lại rằng, Hoàng đế Contantinô muốn tỏ lòng biết ơn vua thánh Luy vì những sự giúp đỡ vật chất ấy, đã vui lòng biếu thánh Luy những báu vật, những di tích của Chúa Cứu Thế, nhất là vòng gai quân lính đã đội cho Chúa Giêsu. Vua đã cho xây trong cung điện của ngài một gian phòng rất nguy nga tráng lệ để giữ những báu vật đó.

Chúng ta cũng nên biết rằng, mặc dầu hết sức thánh thiện, vua thánh Luy cũng có một tinh thần hiếu chiến. Tinh thần đó đã khiến vua Luy hai lần trong đời mở cuộc nghĩa binh thánh giá để chinh phục những người Hồi giáo.

Vào khoảng cuối năm 1244, vua thánh Luy mắc một cơn bệnh hiểm nghèo thập tử nhất sinh, bà thái hậu rất lo lắng bối rối, không biết chạy liệu làm sao. Bỗng nhiên bà nghĩ đến những di tích thánh của Chúa mà Hoàng đế Contantinô đã biếu vua. Bà liền mang những báu vật đó để sát bên cạnh thân thể bất động của vua Luy. Sau mấy lời kinh sốt sắng, bà quốc mẫu vui mừng sung sướng, vì Chúa đã cứu con bà sống lại. Luy nhớ lại hồng ân Chúa đã ban cho, ngài nhất quyết chiêu mộ nghĩa binh thánh giá để đi chiếm lại đất thánh cho khỏi tay những quân Hồi giáo.

Ngày 12-6-1248, sau khi đã chiêu mộ nghĩa binh và sửa soạn đầy đủ, vua Luy trao quyền nhiếp chánh cho mẹ để khởi công đi chinh phục đất thánh. Bỏ Paris, vua Luy ngừng quân tại Lyon để xưng tội với Đức Giáo Hoàng Innôxentê IV, và xin phép lành toà thánh cho tất cả nghĩa quân.

Ngày 28-8-1248, nghĩa quân bỏ Signe Mortes, và ngày 17-9 năm ấy, nghĩa quân cập bến; đóng quân ở đảo Kyprô. Vua thánh Luy thấy rằng để giải cứu đất thánh khỏi lọt vào tay những quân man di, cần phải chinh phục đất Ai cập. Lập tức nghĩa quân thánh giá tiến đến Damiette. Ở đây, quân Hồi giáo phòng thủ rất kiên cố; vì bãi biển chỗ này không sâu lắm nên phải dùng những ghe, thuyền để tấn công vào bờ, nhưng cuối cùng thuyền, ghe cũng không thể bơi vào được vì cạn quá.

Xung phong: một tiếng hô lớn ở thuyền của vua Luy phát ra, rồi người ta thấy vua Luy đầu đội mũ trận, đeo mộc, thuẫn, tay vung kiếm lao mình theo sóng biển. Thấy vậy, tất cả nghĩa quân đều ổ ạt nhảy xuống khỏi thuyền tấn công vào bờ… Sau mấy tiếng đồng hồ, địch quân chạy tán loạn, mà nghĩa quân không phải giao chiến một trận nào. Toàn thắng, vua thánh Luy cất bài ca tạ ơn Chúa vang cả một góc trời. Nhưng khốn nạn thay, sau khi thắng trận, nghĩa quân đã không tuân theo mệnh lệnh của vua Luy. Họ đã chơi bời phóng đãng, hành hạ kẻ chiến bại rất cay nghiệt. Vua thánh Luy hết lòng lo lắng cho quân sĩ sao cho họ biết đàng ăn ở đạo hạnh, nhưng họ bất chấp. Chính vì thế, Thiên Chúa để họ phải rơi vào tay quân thù. Không quen thủy thổ, các quân sĩ của vua Luy bị bệnh nằm la liệt. Họ đành chịu để cho những kẻ chiến bại hành hung mà không có phương thế nào chống trả. Chỉ còn một cách là nộp mình cho quân man di mới hòng cứu sống được bao nhiêu nhân mạng. Quân sĩ la ó om sòm xin vua Luy cho phép đầu hàng, vì nếu không, họ phải chết đói, chết bệnh hoặc bị quân địch tàn sát. Trước những lời kêu van tha thiết của nghĩa quân, vua thánh Luy vui lòng nộp khí giới đầu hàng quân man di, với điều kiện là không được giết người lính nào.

Lúc này vua thánh Luy lại thành kẻ chiến bại, ngài bị quân man di hành hung dữ tợn. Chúng lột hết quần áo ngài ra, xiềng chân, xích tay và xỉ nhục ngài trăm chiều. Nhưng vua thánh Luy vẫn bình tĩnh, thản nhiên trước tất cả những đau đớn cực hình ấy, không một lời ta thán kêu oan. Chỉ khi nào mà quân ngoại đạo dày xéo thánh giá dưới chân và lăng nhục đạo Chúa Kitô, lúc ấy ngài mới tỏ một thái độ phẫn nộ trên nét mặt. Thái độ quả cảm, lòng nhân từ và quảng đại của vua Luy đã làm cho quân man di hết sức ngạc nhiên. Họ định chọn ngài làm lãnh chúa cho họ, miễn là Luy phải chối bỏ đạo Chúa Kitô. Nhưng vua thánh Luy nào có màng chi đến cái vinh dự hão huyền đó.

Hết thời hạn bị cầm tù, vua thánh Luy còn ở lại Đông phương bốn năm nữa. Trong những năm đó, ngài bôn ba vật lộn đó đây để yên ủi những bổn đạo bị bắt làm nô lệ, dạy bảo lương dân và dẫn đưa họ về chính đạo.

Ngày 26-11-1252, vua Luy được tin mẹ qua đời, ngài nhất định trở về quê hương để thu xếp công việc trong nước.

Nhưng tiếng cầu cứu của giáo hữu Đông phương vẫn còn vang lên mãi vì bị những người Hồi giáo hành hạ, đe dọa phá hoại đức tin. Tiếng kêu đó động lòng trắc ẩn của vua Luy, ngài nhất định chiêu mộ nghĩa quân một lần nữa. Năm 1270 ngài lại cất quân lên đường. Nhưng vua nước Tunisie hứa với ngài là ông sẽ trở về với Kitô giáo nếu vua Luy cho quân xuống Phi châu. Vua thánh Luy vui mừng hớn hở và hy vọng được làm cha đỡ đầu thiêng liêng cho một vị quốc trưởng, nên ngài cho thuyền lái về phía Châu Phi. Nhưng vua đã bị lừa: vừa xuống khỏi tầu, ngài bị vua Tunisie xông đánh, thêm vào đó ngài bị một chứng bệnh kinh khủng, quân lính hết lương, bao nhiêu nguy hiểm đang chờ đợi.

Thấy ngày chết chẳng còn xa, vua thánh Luy cho triệu vời Philippê, người con cả của ngài, và ban cho một huấn lệnh để về thi hành công cuộc coi dân trị nước. Ngài cũng không quên nhắc nhở cho con phải sống đạo đức, thánh thiện, và nhất là xa lánh tội lỗi.

Sau khi ân cần khuyến khích quân sĩ hãy luôn luôn trung thành làm tôi Chúa, xa lánh những thói hung tàn bạo ngược, vua thánh đã giao phó linh hồn trong tay Chúa một cách an bình, thánh thiện. Hôm ấy là ngày 25-8-1270.

-o0o-

THÁNH GIUSE CALASAN LINH MỤC  

Giuse chào đời ngày 16 –9-1556, trong một lâu đài nguy nga tráng lệ, giữa một khung cảnh gia đình thuộc bậc vương giả. Ngay từ lúc còn thơ, Giuse đã được cha mẹ hun đúc cho có một tâm hồn yêu Chúa tha thiết, thích thú cầu nguyện và ghét sợ tội lỗi. Một ít nhà sử học đã lấy làm thích thú kể lại rằng: cậu Giuse từ ngày còn hoi miệng sữa, mới năm tuổi đầu mà đã cảm thấy huyết quản sôi sùng sục vì muốn chiến đấu với Satan quỷ dữ (!). Tay xách gươm, cậu thường băng qua những cánh đồng bao la, cùng với một ít bạn bè để đi giao tranh với quỉ. Lúc này Giuse hết sức ham mê lần hạt Mân côi, và phải quỳ mà lần hạt thì cậu mới lấy làm vừa ý.

Dần dà, hình như cảm thấy muốn làm linh mục, Giuse thường tụ tập một ít bạn học quây quần chung quanh một chiếc bàn thờ mà chính tay cậu bày biện ra. Những lúc các bạn muốn bỏ ra về, Giuse lại dùng những hoa quả, đồ chơi để giữ chúng lại và nhân cơ hội ấy, cậu lại nghiêm trang đứng lên một cái ghế bắt chước linh mục, giảng cho chúng nghe. Để bế mạc những cuộc tụ họp như thế, cậu thường đứng đầu lần năm chục hạt. Chúng ta nên nhớ rằng, Giuse làm những việc đó không phải như những đứa trẻ tinh nghịch, làm, để vui đùa nhạo báng, nhưng cậu làm hết sức nghiêm trang đầy tin tưởng. Thật đúng là một “ông cụ non”. Ngoài ra Giuse còn ham mê đọc hạnh các thánh và bắt chước các ngài cách hãm mình ăn chay. Một điểm đặc biệt nơi con người Giuse là cậu đã giữ đức trinh khiết rất nghiêm khắc. Khi mới lớn lên, câïu nhất định không cho ai động đến thân thể cậu, cả mẹ cậu cũng bị từ chối.

Lớn lên, Giuse được gửi đi thành phố Estadilla để học văn phạm và những môn cổ điển. Lúc này nhân đức và gương sáng của Giuse đã làm cho các bạn học hết sức ngạc nhiên, họ thường gọi cậu là “ông thánh con”. Mười lăm tuổi Giuse đã học xong ban trung học, kết quả hết sức mỹ mãn. Đang tuổi ấy, với sức học ấy và với lòng đạo đức như thế, Giuse hẳn làm cho ông thân sinh rất hài lòng và hy vọng ở cậu rất nhiều. Cha mẹ cậu muốn cho cậu trở nên một sĩ quan trong quân đội để nối lại dòng máu anh hùng của tổ tiên.

Nhưng những vinh dự trần tục không làm cho tâm hồn Giuse toại nguyện. Cậu mong chờ một sứ mạng cao quý hơn xung phong vào nghề binh đao. Vì thế cậu xin đi học triết học tại đại học đường Lerida. Để giữ lấy tâm hồn trong trắng và để đề phòng những dục vọng bất chính của tuổi thanh xuân, Giuse Calasan đã có một chương trình sống rất nghiêm khắc và trung thành tuân theo. Cậu năng chịu các phép bí tích, mỗi ngày chỉ ăn một bữa mà thường chỉ có bánh và nước lã; cậu hãm mình đánh tội để lo phần riêng. Ngoài ra cậu còn lo lắng dạy giáo lý cho những người dốt nát, thăm viếng bệnh nhân, quyên tiền giúp những người nghèo khổ đói rách. Tuy hãm mình nhiều, Giuse vẫn khỏe mạnh và học triết lý rất trôi.

Danh tiếng Giuse càng ngày càng lan rộng. Ông thân sinh nghe biết liền cho phép cậu ở lại Lerida để học dân luật và giáo luật. Nhưng ít lâu sau, Giuse được chịu phép cắt tóc nhập hàng giáo sĩ. Hôm đó là ngày 11-04-1575, một ngày trọng đại trong đời cậu. Nhất định đoạn tuyệt với những thèm khát trần tục, Giuse đến quỳ gối trước bàn thờ Đức Mẹ khấn giữ đức trinh khiết trọn đời. Năm 20 tuổi, Giuse đậu tiến sĩ dân luật và giáo luật, ông thân sinh lại cho Giuse tiếp tục học thần học tại đại học Valencia. Tại thành phố hoa lệ này, ma quỷ không bỏ lỡ cơ hội đến cám dỗ Giuse. Có lần ma quỷ đã dùng một cô gái trẻ măng để làm cho Giuse sa ngã về đức trinh khiết. Nhưng Giuse đã thắng được một cách vẻ vang, và anh hùng. Giuse từ đó bỏ Valencia đến đại học Alcaja tiếp tục học thần học. Lúc ấy một hung tín đến làm cho Giuse hết sức buồn rầu vì nó có ảnh hưởng đến sự quyết định dâng mình cho Chúa của Giuse: Người anh duy nhất của Giuse, một sĩ quan trong quân đội Tây Ban Nha, từ trần và không có người nối dõi tông đường. Thân phụ Giuse đã thiết tha kêu gọi con về. Sau khi đậu tiến sĩ thần học, cậu trở về Pêralta quê cha đất tổ. Giuse vốn luôn vâng lời và kính yêu cha, nên không biết nói năng làm sao để khỏi bị mang tiếng bất hiếu với cha mà vẫn giữ được làm linh mục. Ngài vẫn cương quyết làm linh mục và giữ lời khấn hứa, nên càng hãm mình phạt xác, đêm ngày cầu nguyện với Trinh Nữ Maria cho lời hứa của mình được nên trọn. Và, Đức Mẹ đã nghe con thảo của Người: Giuse ngã bệnh thập tử nhất sinh, tất cả các lang y đều hết hy vọng cứu sống. Thân phụ Giuse buồn rầu, cho phép Giuse khấn sẽ làm linh mục nếu được qua khỏi. Vừa đọc dứt lời khấn, Giuse khỏe mạnh như thường, và sau ít lâu ngài được chịu bốn chức nhỏ.

Giuse được lên bàn thánh Chúa ngày 17 tháng 12 năm 1583. Trong cuộc đời truyền giáo của ngài, thánh nhân luôn luôn phát huy tình bác ái huynh đệ nơi bổn đạo. Mặc dầu còn ít tuổi, cha Giuse đã là cha giải tội cho Đức Giám mục Albarracur, rồi làm cha chính địa phận Urgel. Trong tám năm trời tận tụy làm việc cho địa phận, tài ba và sự thánh thiện của ngài được mọi người biết đến. Hoàng đế Tây Ban Nha đã định đề cử ngài làm Giám mục. Nhưng cha Giuse cảm thấy như có tiếng nói trong thâm tâm rằng: “Giuse, Giuse con hãy đi Rôma”. Cha Giuse nhất quyết nghe theo tiếng gọi ấy, mặc dầu không biết Chúa sẽ trao phó cho sứ mệnh gì. Ngài xin từ chức cha chính, bán gia sản làm phúc cho người nghèo và lên đường đi Rôma.

Sang Rôma, ngài hết sức giữ bí mật, không cho ai biết đến ngài, nhưng những người đồng hương đã giới thiệu ngài với Đức Hồng Y Marcô Antôn Côlôna. Ở Rôma cũng như ở Tây Ban Nha, cha Giuse lúc nào cũng lấy sự cầu nguyện và làm việc thương giúp kẻ nghèo hèn làm thích thú. Ngài thường thức giấc từ nửa đêm, quì gối nguyện ngắm rất lâu trước nhà tạm, đọc kinh từ nửa đêm, đọc kinh nhật khóa rồi đi bộ thăm viếng đủ bảy vương cung thánh đường trong thành Rôma. Như vậy, mỗi buổi sáng ngài thường đi bộ 15 cây số và cuối cùng dừng lại ở mộ thánh Phêrô cầu nguyện hằng mấy giờ liền. Ngày nào ngài cũng chỉ cùng có một bữa cơm rất thanh đạm vào khoảng một giờ chiều. Ngoài ra cha Giuse quên hẳn bản thân mình để xung phong vào những phong trào thương giúp người nghèo khổ, thăm viếng bệnh nhân, tù tội hoặc giảng dạy giáo lý cho những người quê mùa dốt nát. Đối với cha Giuse, cứu được một linh hồn là một món quà rất quí báu dâng lên Chúa.

Sống trong thành Rôma năm năm, cha Giuse đã được chứng kiến nhiều cảnh cơ cực của dân chúng. Ngài thương hại và lo lắng cho số phận những thiếu niên không được giáo dục về phương diện đạo đức và giáo lý. Các trường trung học thì nhiều nhưng cũng chưa dung nạp hết được những thanh thiếu niên hiếu học, vả lại trong những trường ấy lại không mấy ai chú trọng đến việc giáo dục đạo đức cho chúng. Cha Giuse quyết định lập những nhà trường miễn học phí cho học sinh, và lợi dụng cơ hội ấy để dạy cho chúng những bổn phận của con người phải có đối với Thiên Chúa. Nhưng với hai bàn tay trắng ngài làm sao nổi! Cha Giuse đã trình bày ý định của ngài với các bề trên và xin một vài nhà dòng ủng hộ. Nhưng không một vị nào dám đảm nhận công việc đó. Tuy nhiên, là công việc của Chúa, nên cha Giuse nhất định khởi công. Năm 1597, cha đi bộ đến Assisi quì cầu nguyện trên mộ thánh Phanxicô, sau đó ngài được sứ thần hiện ra kêu gọi ngài khấn ba nhân đức: khó khăn, trinh khiết và vâng lời.

Cũng trong năm ấy, cha Giuse được cha sở họ thánh Đôrothêô giúp đỡ xây dựng một trường học miễn phí trong một xóm lại động. Được Đức Giáo Hoàng Clêmentê VIII khuyến khích, cha Giuse ngày đêm lo cho nhà trường có một nếp sống đạo đức cũng như học vấn khả quan. Từ đó cũng có nhiều người hảo tâm giúp công giúp của vào công việc của cha Giuse, lại có nhiều nhà trí thức tình nguyện và dạy học cho cha Giuse mà không đòi một điều kiện gì. Mục đích của trường này trước hết là đào tạo những thiếu niên trở nên những con người có căn bản đạo đức, vì thế ngài gọi trường của ngài là trường “Đạo Đức”. Dần dà ngài đã thiết lập ở Rôma được nhiều trường như thế, mà trung tâm là trường thánh Pantalêô có tới hàng ngàn học sinh. Chúa Quan phòng đã gửi đến cho ngài nhiều người cộng tác, phần nhiều là các linh mục. Các ngài sống chung với nhau như một tu viện thực sự.

Năm 1614, Hội những linh mục triều “Mẹ Thiên Chúa” do chân phước Gioan Leonardi sáng lập năm 1574 ở Lucques muốn sát nhập với hội của cha Giuse. Việc đó làm cho Calasan hết sức vui mừng. Nhưng ít lâu sau, số học sinh càng ngày càng giảm bớt, vì chúng không chịu nổi kỷ luật nghiêm minh của nhà trường. Vì thế năm 1617, các linh mục hội “Mẹ Thiên Chúa” tách khỏi dòng của cha Calasan để đi làm một công tác khác. Lòng Chúa lân tuất đã không bỏ rơi công việc của cha Giuse, dần dần gia đình thiêng liêng của ngài lại thêm đông đúc. Thề rồi năm 1621, gia đình thiêng liêng của cha Calasan đã được Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XV chuyển nhận làm một dòng, và chính cha Giuse là người khấn trọng thể thứ nhất. Sau khi được phép lập dòng, Cha Giuse xé nát tất cả những văn bằng tiến sĩ, lấy giấy quấn thành những cái roi để đánh tội và sửa phạt học trò. Nhờ công lao khó nhọc của cha Calasan dòng mới này bành trướng rất nhanh, làm cho các vua chúa các nước đều nức lòng mong đợi cha Calasan đến lập những trường học miễn phí ở nước mình.

Công việc của cha Calasan thật cả là một sự cố gắng lâu dài đầy gian khổ và kết quả thật đáng kể. Nhưng công việc của ngài gầy dựng nên cũng không thoát khỏi những manh tâm quỷ quyệt của ma quỷ, chúng luôn luôn tìm cách phá hoại ngài. Thêm vào đó, một số cộng tác viên của ngài cũng không hiểu rõ sứ mệnh của mình, còn muốn tìm danh vọng ở chốn dòng tu, nên đã gây ra những mối chia rẽ ganh tị trong nhà dòng. Vì thế Đức Giáo Hoàng Innôcentê X đã muốn hạ ‘dòng’ của cha Calasan xuống thành một ‘hội’ mà thôi. Cha Giuse vẫn vui vẻ như thường, lúc ấy ngài đã 90 tuổi. Trong tuổi già, Chúa đã thưởng công cho thánh nhân rất nhiều, ngài đã được trông thấy Đức Mẹ bế Chúa Giêsu hiện đến nhìn xem những học trò của ngài lần hạt, và Đức Mẹ đã giơ tay ban phép lành cho các học sinh của ngài. Lúc ấy ngài nói tiên tri rằng: sau mười năm nữa, dòng của ngài sẽ được thiết lập lại, và sẽ bành trướng nhiều hơn trước. Lời ngài đã được thực hiện, nhưng riêng ngài không được hân hạnh nhìn ngày vẻ vang đó.

Ngày 25.8.1618, sau khi đã lãnh nhận Phép lành của Đức Thánh Cha, thánh nhân đã về hưởng mặt Chúa cách nhẹ nhàng an bình, hưởng thọ 92 tuổi. Tất cả thành Rôma đều để tang ngài. Trong ngày đưa ngài về chốn an nghỉ cuối cùng, biết bao bệnh nhân ở Rôma được khỏi bệnh và đứng dậy đi dự lễ an táng ngài.

Thánh nhân qua đi nhưng nhân đức của ngài còn để lại cho những người cộng tác với ngài, cho bao nhiêu học sinh của ngài. Gương can đảm hy sinh, yêu Chúa yêu người của thánh nhân đã in sâu vào tâm trí mọi người. Ngày nay dòng của ngài đã có hằng mấy ngàn địa điểm và số trường học theo tôn chỉ của ngài đã có tới hằng mấy trăm.