Hạnh Các Thánh


Ngày 23 tháng 8

THÁNH RÔSA LIMA ĐỒNG TRINH
(1586-1617)

Thánh nữ Rosa Lima là một nữ thánh tiên khởi của miền Nam Mỹ châu. Cha mẹ người gốc Tây Ban Nha, thuộc giai cấp trung lưu, nhưng đã sa sút nên vì sinh kế phải bỏ quê hương sang lập nghiệp ở Mỹ châu quãng năm 1534. Đầu tiên Rosa mang tên là Isabella, nhưng sau vì màu da và nét mặt tươi đẹp của cô, người ta đã bỏ tên cũ mà gọi là Rôsa, nghĩa là “Hoa Hồng”. Chính thánh Tôribiô, Tổng Giám mục thành Lima cũng xác nhận như thế.

Lớn lên Rosa là con riêng của Đức Mẹ. Dù còn nhỏ tuổi ngài đã bắt chước Đức Mẹ làm nhiều việc hy sinh và chăm đọc Kinh Thánh. Thấy Rôsa hãm mình nhiều đến nỗi gầy trơ xương, các chị em bạn đã gọi trêu người là “Pho tượng của núi Canvariô”. Ngoài ra Rôsa còn yêu mến thánh nữ Catarina Siêna cách riêng. Người coi thánh nữ như người “Chị lý tưởng”. Mặc dầu được cha mẹ chiều chuộng, nhưng Rôsa thích sống thùy mị, đơn sơ từ lời nói đến cách ăn mặc. Một hôm, vì có nhiều khách đến thăm, bà thân mẫu hái cho Rôsa một nón hoa, cốt ý để cho con trang điểm và tiếp khách. Không muốn nghe lời mẹ, Rôsa bưng nón hoa đặt dưới chân tượng Đức Mẹ, rồi đặt lên đầu vòng gai và quỳ khóc nức nở… Nhờ hấp thụ nền giáo dục nghiêm nhặt của gia đình, Rôsa không để phí giờ ngao du với chúng bạn. Vì thế, ngoài việc cắp sách đi học, Rôsa còn dành được nhiều giờ cầu nguyện và chuyên mấy môn ngoại theo năng khiếu. Không những Rôsa có tài đàn hát mà còn nổi tiếng là một thi sĩ tài hoa không kém thánh Phanxicô Assisi. Say mê nhan sắc, ngón đàn và giọng hát của Rôsa, những ông chủ rạp hát đã đến nài xin ngài cộng tác với số lương rất cao. Mỗi lẫn như thế, Rôsa lấy ớt xoa mắt khóc nức nở và trả lời bằng một tiếng: “Không”. Những năm làm ăn thất bại, cha mẹ Rôsa hay buồn phiền và sinh đau ốm. Trong cảnh nghèo đói và bệnh nạn, ông bà chỉ còn trông nhờ vào một mình Rôsa. Để giúp đỡ cha mẹ, Rôsa tần tảo sớm hôm, hái từng bông hoa đưa lên tỉnh bán lấy tiền về nuôi cha mẹ. Ngài ở luôn bên giường cha mẹ, kể cả những đêm trường lạnh giá…

Để giữ mình trinh khiết, ngày 10.8.1606 ngài xin mặc áo dòng ba thánh Đaminh. Với Rôsa, mặc áo dòng là trút bỏ con người cũ, con người xác thịt và ích kỷ, để mặc lấy những nhân đức và hồng ân của Thiên Chúa. Quả thế, từ ngày mặc áo dòng, thánh nữ bắt đầu sống một đời ăn chay đền tội khác hẳn những năm trước. Ngài ăn chay, uống giấm, đánh tội và mang giây sắt. Ngoài ra, đêm ngủ ngài còn đội một vòng 98 cái gai nhọn, và nằm trên một cái giường ghép bằng hai tấm ván thô. Ngày cũng như đêm, thánh nữ rất ít nói. Ngài yêu cảnh sống thầm lặng trong túp lều nhỏ bé dựng ở góc vườn. Nơi đây, trong những lúc thư nhàn, thánh nữ thường ra cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Ngài say mê suy gẫm về thánh lễ Misa. Có những lần thấy thánh nữ như mất trí, người ta hỏi cho biết những lúc ấy thánh nữ làm gì, thì ngài trả lời: “Tôi đang dự thánh lễ bằng trí tưởng tượng”. Những tư tưởng về tu đức của thánh nữ thật dồi dào và sâu xa; nó là kết quả của một đời chiêm niệm, là sản phẩm của một linh hồn suốt đời không phai mờ ánh quang ân điển. Khảo sát những bản văn tu đức thánh nữ còn để lại sau này, các nhà thần học đã tuyên bố: “Thánh nữ Rôsa là một nhà thần bí xuất sắc”. Ngài chỉ sống trong gia đình với Chúa, với Thánh Mẫu, thánh nữ Catarina Siêna, và với thiên thần bản mạnh. Nhờ các Đấng phù hộ, ngài đã thắng các mưu chước của Satan. Tất cả vạn vật đều giúp ngài nâng lòng lên với Thiên Chúa. Cả đến những con nhặng bâu quanh vết thương trên đầu thánh nữ trong giờ cầu nguyện, cũng được coi như những phím đàn du dương giúp ngài ca ngợi Thiên Chúa. Dù sống trong góc vườn hẻo lánh, thánh Rôsa vẫn được Chúa cho thông phần đau khổ với những người bị bắt vì đức tin, những người lâm cảnh nghèo túng bị ức hiếp, hay mang bệnh tật già yếu, người ta có cảm tưởng như thánh nữ chỉ sống bằng tình yêu nồng nhiệt dâng lên người bạn lòng là Chúa Cứu Thế, và bằng lương thần là phép Thánh Thể.

Tuy nhiên, trong chuỗi ngày sống khắc khổ, đôi khi thánh nữ cũng được Chúa tỏ dấu yêu thương. Một đêm thánh nữ bị cảm, mồ hôi ra đầy mình. Thấy thế, bà thân mẫu vốn không ưa cách sống khổ hạnh của con, đã sai người đầy tớ đi mua “rượu cảm” về cho Rôsa uống. Lấy lý do tiết kiệm, thánh nữ từ chối không uống. Lập tức sứ thần Chúa đến cứu chữa ngài khỏi. Có nhiều lần cảm mến sự thương khó của Chúa đã chịu, thánh nữ than thở: “Lạy Chúa Giêsu, xin tăng thêm đau khổ cho con, để con tiến sâu vào tình yêu Chúa”. Càng mến Chúa, thánh nữ càng bị ngọn lửa phần rỗi các linh hồn thiêu đốt, ngài đau khổ vì thấy đa số dân Nam Mỹ chưa biết Chúa, ngài ước ao đi truyền giáo bên Ấn Độ và Phi châu. Lòng thánh nữ se lại mỗi khi nghe biết các đau khổ giáo dân đang phải chịu. Vì thế, vào những năm cuối đời: dù sức lực suy yếu, thánh nữ cũng xung phong đi giúp những người bệnh tật ở nhà thương trong tỉnh. Việc làm của ngài đã cảm hóa được nhiều linh hồn trở về với Chúa. Ngài say mê công việc bác ái đến quên cả căn bệnh ung thư đang phá hoại sinh lực của mình. Chính căn bệnh này đã kết liễu đời sống trần gian của thánh nữ khi người mới 31 tuổi. Hấp hối nằm trên chiếc giường thô, thánh nữ không ngớt than thở: “Lạy Chúa Giêsu, lạy Chúa Giêsu, xin ở với con”. Thánh nữ từ trần ngày 21.8.1617.

Được tin thánh nữ về trời, dân thành buồn bã, họ chen nhau đến viếng xác người. Những kẻ xưa nay chỉ trích cách sống của thánh nữ, thì lúc này lại ca ngợi không ngớt. Vì thế, lễ an táng thánh nữ được tổ chức như một ngày đại lễ của dân thành. Người ta đặt xác thánh nữ tại nhà nguyện tu viện Đaminh ở Lima, đến năm 1619 lại cải táng về nhà thờ thánh Đaminh. Đức Giáo Hoàng Clêmentê IX phong ngài lên bậc chân phước; năm 1689 Đức Giáo Hoàng lại đặt thánh Rôsa làm quan thầy nước Pêru, nước Ấn Độ, Phi Luật Tân và toàn thể Châu Mỹ. Hai năm sau, Đức Giáo Hoàng lại sắc phong thánh nữ vào số các vị hiển thánh và đặt lễ kính người vào ngày 30 tháng 8 hằng năm. Cuộc cải tổ phụng vụ sau Công đồng Vatianô II đổi lễ kính thánh nữ lên ngày 21 tháng 8.

Mừng lễ thánh Rôsa, chúng ta hãy xin thánh nữ cho chúng ta được tận tình yêu Chúa, thánh hóa mình và tha thiết đến phần rỗi anh em trong đau khổ. Vì: “Không gì sung sướng hơn lúc ta đang khóc mà được Chúa đến đổi sầu làm vui và đưa về nơi vĩnh cửu”.