Hạnh Các Thánh


Ngày 17 tháng 8

THÁNH GIACINTÔ,
VỊ TÔNG ĐỒ NHIỆT THÀNH CỦA NƯỚC BA LAN

Thánh nhân sinh vào cuối thế kỷ XII, tại thị trấn Kamien, thuộc miền Silêsia. Ngay từ buổi niên thiếu, mỗi khi nhìn thấy các anh em dòng thuyết giáo, Giacintô lại thầm ước ngày kia được theo gót các thầy trên bước đường truyền giáo. Vì thế, mệnh lệnh Chúa ban bố cho các tông đồ xưa: “Các con hãy đi giảng giáo cho muôn dân, và rửa tội cho họ…”. Mệnh lệnh đó tuy đã trải qua 12 thế kỷ, nhưng lúc nào cũng vẫn còn vang dội mới mẻ trong tâm hồn Giacintô. Ngày mong ước ấy không bao lâu đã tới và trong năm 1228, Giacintô bắt đầu vào dòng thuyết giáo ở Cracovia. Từ ngày vào dòng không khác gì cá gặp nước, thánh nhân vui mừng khôn tả, ngài tạ ơn Chúa và cố gắng trau dồi kiến thức đạo đời. Đặc biệt, ngài đã biết lợi dụng mọi hoàn cảnh xã hội, mọi biến cố thời đại để đưa ra một bài học, một lẽ sống cho mọi người. Với những thành công rực rỡ, qua những lần thuyết giáo, và những đức tính cao đẹp, ngài được cất nhắc lên chức Kinh sĩ, và sau được bề trên phái sang dạy học tại Rôma. Tuy bề bộn với chức giảng sư đại học, ngài vẫn cố gắng hướng mọi công việc vào một trọng tâm duy nhất, là trình bày giáo thuyết Công giáo chống lại những người Phổ theo dị giáo. Sẵn có đức nhiệt thành truyền giáo và tài hùng biện, thánh nhân thu hoạch được rất nhiều kết quả qua những giờ giảng thuyết và những cuộc tranh luận. Nhờ ngài, giáo thuyết Công giáo ngày một sáng tỏ qua các miền Balkans, Phổ, Litva… Ngài đi tới đâu là như toả ra ở đó một bầu khí vui mừng và cởi mở. Vì thế, hoạt động truyền giáo của ngài không phải chỉ đóng khung trong giáo đường, nhưng còn phổ biến và đi sát với đời sống, với cách tiếp nhân xử thế của ngài. Đời sống của ngài là đời sống triển nở và vui mừng vì truyền giáo đúng như Thánh Kinh nói: “Người công chính tươi tốt như cây dừa, lớn lên như cây hương nam núi Libanô trồng nơi nhà Chúa, để ban ngày ca tụng lòng nhân từ Chúa và ban đêm ngợi khen lòng trung tín Người”. Nhiệt thành truyền giáo, thánh nhân không nề quản những gian lao vất vả, những va chạm với người đời, miễn là ánh sáng Chúa Kittô được chiếu sáng trong tâm hồn người ta. Ngài coi những gian lao vất vả như là những lập công để đền tội. Ngài quan niệm đúng như lời sách Gương Chúa Giêsu dạy: “Một ngày kia sẽ tiêu tan hết những vất vả, những khổ cực, những cái qua đi với thời gian không đáng kể và không bền đỗ”.

Hơn nữa, nhãn giới truyền giáo của ngài không chỉ giới hạn trong một số tín hữu, nhưng còn lan tràn vào những người lương dân. Ngài luôn luôn băn khoăn khi nghĩ đến biết bao con chiên còn lạc đàn bơ vơ. Tâm hồn truyền giáo của ngài đối với lương dân không khác nào tâm hồn của người chủ chiên trong Phúc âm. Vì thế ngài thường để thời giờ đi gặp gỡ, nói chuyện và thông cảm với anh em lương dân. Qua những cuộc gặp gỡ nói chuyện thông cảm, thánh nhân đã chinh phục được rất nhiều người trở lại đạo Chúa. Những thành công rực rỡ trong địa hạt truyền giáo, đã khiến Giáo hội Ba Lan liệt ngài vào hạng những tông đồ truyền giáo hữu danh của xứ sở.

Tuy ngày ngày bôn ba hối hả với hoạt động truyền giáo, nhưng không vì thế thánh nhân sao nhãng đời sống nội tâm. Theo ngài, hoạt động bên ngoài chỉ là kết quả của đời sống nội tâm bắt nguồn từ đời sống Chúa Kittô. Thâm hiểu câu: “Không ai có thể trao tặng cái mình không có” (Nemo dat quod non habet), nên thánh nhân cố gắng tu thân luyện đức để ích lợi cho mình và làm của nuôi dưỡng kẻ khác, đúng như lý tưởng của dòng thuyết giáo, là trao ban cho người khác những sự mà mình đã suy niệm (Contemplari et contemplata aliis tradere).

Thiên Chúa đã ban cho ngài quyền làm phép lạ. Trong những phép lạ ngài làm, người ta còn ghi lại bốn phép lạ thời danh, nhất là phép lạ cải tử hoàn sinh cho một thiếu niên chết đuối và chữa bệnh thập tử nhất sinh cho một viên sĩ quan.

Với tài đức siêu vời và hoạt động truyền giáo mạnh mẽ, ngài đã được giáo sĩ Ba Lan biệt tặng ngài danh hiệu “Vị Tông đồ truyền giáo của quốc gia”. Năm 1277, trong một cơn bệnh mà ngài coi như Chúa muốn cho ngài được lãnh triều thiên sáng ngời trên thiên đàng, Chúa đã cất ngài về chầu Chúa. Sau đó, mộ ngài thành thánh địa nơi kính viếng của muôn khách hành hương. Khắp nước Ba Lan, ai ai cũng đều tôn kính thánh nhân. Năm 1591, sau những thành công rực rỡ trong cuộc thuyết giáo và những hoạt động bác ái của thánh nhân, Giáo hội đã tôn phong thánh Giacintô lên bậc hiển thánh, và đã dùng nhiều lời hay ý đẹp để ca tụng đức tính siêu vời và hoạt động đầy kết quả của ngài: “Miệng người công chính giảng sự khôn ngoan và lưỡi người nói lời chính trực… Phúc cho người liêm khiết, người không theo đuổi vàng bạc, không mơ ước tiền tài, người đã bị thần tài ám ảnh mà vẫn tinh tuyền”.

Đức Giáo Hoàng Clêmentê XIII tôn phong ngài lên bậc hiển thánh.

Lạy Chúa, hôm nay Giáo hội dâng lễ kính thánh Giacintô, chúng con những người đang còn sống trong lo âu và đe dọa, xin thánh nhân bầu cử cho chúng con được lòng trong sạch, không vương vấn của cải trần tục và giúp chúng con hăng hái truyền bá đạo Chúa.