Hạnh Các Thánh


Ngày 16 tháng 8

THÁNH TÊPHANÔ I HOÀNG ĐẾ TIÊN KHỞI VÀ

TÔNG ĐỒ NƯỚC HUNGARI
(977-1038)

Là con một vị hầu tước, Gaysa ngay từ bé đã được gửi đi học tại thủ phủ của Guyla, hầu tước xứ Sylvania. Chính tại đây cậu được dạy cả về giáo lý công giáo, và cũng tại nơi đây, ý Chúa Quan phòng đã khiến cậu xe duyên với một thiếu nữ rất đạo đức tên là Sarôtta, ái nữ của hầu tước Sylvania. Là một thiếu nữ rất thông minh lại có lòng đạo sốt sắng, Sarôtta dần dần đã cảm hóa được chồng theo đạo Công giáo. Gaysa chịu phép Rửa tội đồng thời cũng lôi kéo được một số đông nhân vật văn võ khác. Dĩ nhiên, trong một cuộc theo đạo như thế khó tránh được một ít trường hợp tòng giáo vì lý do chính trị hay vì những lý do không được chính đáng khác. Bởi vậy, tuy đã rửa tội, nhưng một số vẫn tiếp tục tôn thờ các ngẫu tượng.

Trở về quê hương nối nghiệp cha, Gaysa đem hết tài năng để kiến tạo một xứ sở giầu mạnh và với chí tông đồ, ngài cũng không quên việc truyền bá Phúc âm cho đám lê dân. Khoảng năm 977 đến năm 979, công chúa Sarôtta sinh hạ cho hầu tước một hoàng nam và đặt tên là Têphanô. Têphanô nguồn hạnh phúc cho hoàng tộc, đồng thời là một trẻ thơ được Chúa chúc phúc và dành để cho một vai trò trọng đại sau này. Có lẽ theo phong tục bấy giờ, Têphanô không được rửa tội ngay, mãi tới năm 18 tuổi cậu mới được hạnh phúc ấy do chính tay thánh Giám mục Ađalbetô làm phép rửa cho. Khi đến tuổi khôn, Têphanô được trao cho Theodat, một nhân vật đạo đức và là bá tước nước Ý, lo việc giáo huấn. Nhờ bá tước, cậu được hưởng một nền giáo dục hoàn bị, nhất là về phương diện đạo đức. Quả thế, ngay từ hồi còn trẻ, cậu đã tỏ ra là một hoàng tử gương mẫu nhất thế hệ về trí thức cũng như đạo đức. Nhờ đó mà dù tuổi chưa đầy hai mươi, cậu đã được thân phụ tuyên bố trước sự hiện diện của các lãnh chúa, sau này sẽ chọn cậu lên nối ngôi.

Hầu tước Gaysa băng hà năm 997, Têphanô lên ngôi kế nghiệp cha. Điều quan tâm trước hết của ngài là lo ký hòa ước với các nước lân bang. Rồi đồng thời với việc làm cho dân thịnh nước giầu, ngài nỗ lực hoạt động để đem chân lý Chúa Kitô vào tâm hồn toàn thể con dân trong nước. Nhưng chẳng may, một số khác lớn dân Hungari còn nặng đầu óc mê tín, đã nổi lên phản nghịch: họ cướp phá nhiều thành phố, và cuối cùng tiến tới vây hãm thành phố Vezprem. Têphanô tin tưởng vào sức mạnh Thiên Chúa, chuẩn bị chiến đấu bằng ăn chay, bố thí và cầu nguyện. Ngài xin các thánh hộ phù, nhất là thánh Martinô, với lòng dũng cảm và cậy trông nơi sức mạnh thiêng liêng, ngài xông ra chiến trường và toàn thắng đối phương, mặc dầu binh sĩ của ngài không đông bằng của họ.

Sau khi chiến thắng, hầu tước Têphanô lại tiếp tục chương trình hoạt động truyền giáo đã bị gián đoạn vì biến cố phản loạn mới xảy ra. Để có đủ số thợ làm mùa, ngài yêu cầu các linh mục và tu sĩ ngoại quốc đến giúp việc giảng dạy, thiết lập tu viện, xây cất thánh đường và nâng cao văn minh cho dân tộc. Trong số những tông đồ ấy, sau này có mấy vị được phúc lĩnh triều thiên tử đạo. Chỉ trong một thời gian tương đối vắn vỏi, nước Hungari không còn một tàn tích ngẫu tượng ngoại giáo nào. Hầu tước Têphanô đích thân phân chia các địa phận và chọn những nhân vật thông minh, nhân đức đứng ra đảm nhiệm việc trông coi chăm sóc giáo dân. Nhờ đó đạo Công giáo được phát triển mạnh, ngày càng vững vàng, càng sâu rộng trong toàn thể lãnh thổ.

Hầu tước Têphanô muốn được Toà Thánh chính thức công nhận quyền hành của mình, nên phái Đức Giám mục Astric đi sứ sang Rôma xin Đức Giáo Hoàng Sylvestrê III công nhận nước Hungari, vừa mới trở lại Công giáo toàn tòng, vào số những quốc gia Công giáo. Đồng thời xin Đức Giáo Hoàng ban phép lành Toà Thánh, chấp thuận việc lập các toà Giám mục, xác nhận các Giám mục đã được chọn và ban cho ngài tước ấy, để nhờ đó, ngài được đủ uy quyền hầu thực hiện những chương trình hữu ích.

Đức Giám mục Astric lên đường tới bệ kiến Đức Giáo Hoàng. Sau khi nghe trình bày tất cả mọi hoạt động hầu tước Têphanô đã thực hiện tại Hungari, Đức Thánh Cha hết sức vui mừng và sẵn sàng ban cho hầu tước toàn quyền để thành lập một Giáo hội Hungari hoàn hảo, và lựa chọn những nhân vật xứng đáng để điều khiển giáo dân. Ngài lại phong vương và ban vương miện cho hầu tước với một thánh giá vàng, là dấu chỉ sứ mạng tông đồ của ngài.

Sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ, Đức Giám mục Astric hân hoan hồi hương, toàn thể hàng giáo phẩm và giáo dân đều hết sức vui mừng. Họ hô vạn tuế Đức Thánh Cha và tung hô tân vương Têphanô. Nhà vua thụ phong và long trọng đội triều thiên cho phu nhân là Gisêla, em ruột thánh Hêicô vua nước Đức.

Được Đức Thánh Cha ban cho toàn quyền trong việc tổ chức Giáo hội Hung, vua Têphanô liền ra sức hoạt động để tỏ ra xứng đáng với lòng tín nhiệm của vị Cha chung. Chỉ một thời gian ngắn Giáo hội Hung đã hoàn thành được mười Toà Giám mục và một Tổng Giám mục tại Esztergom. Địa phận nào cũng được nhà vua chu cấp đầy đủ, từ nhà thờ chính toà cho tới các nhà thờ bé nhỏ trong nơi đồng quê hẻo lánh đều được trang bị đầy đủ các đồ thờ phượng cũng như hoa lợi vật chất để nuôi sống hàng giáo sĩ.

Lòng nhiệt thành của nhà vua còn lan rộng ra ngoài biên giới quốc gia nữa. Ngài xây tại Giêrusalem một tu viện, và cung cấp đầy đủ hoa lợi cho các tu sĩ sinh sống. Tại Rôma, ngài cũng cất một cư xá cho mười hai kinh sĩ trọ học và nhiều trung tâm khác, để tiếp đón các người Hungari tới hành hương kính viếng mộ hai thánh Tông đồ Cả tại Thánh đô. Và sau này một thánh đường uy nghi tại đô thành Contantinôpôli.

Ngoài việc mở mang xây cất ở trong và ngoài nước ra, vua Têphanô còn lo đến việc giáo huấn nhân dân. Hễ ở đâu có giáo sư tận tâm là ngài liền mời về để giúp việc. Tu sĩ thuộc bất cứ quốc tịch nào nếu muốn sống đời thánh thiện cũng đều được ngài niềm nở tiếp đón. Chính nhà vua đã đứng ra xây cất các tu viện và cung cấp cả những hoa lợi vật chất cần thiết cho các nhà dòng.

Vua Têphanô lại có lòng kính mến Mẹ Thiên Chúa một cách rất nồng nhiệt. Ngài dâng hiến cho Đức Mẹ tất cả cuộc đời của cá nhân ngài cũng như của toàn thể con dân trong nước. Nhờ ngài mà dân Hungari được thừa hưởng một tâm tình sùng mộ đối với Đức Mẹ. Vì trọng kính Thánh danh Mẹ, dân Hung không bao giờ nói đến tên Maria, mà chỉ nói bằng một tiếng Đức Mẹ, và mỗi lần nói đến, họ đều cúi hay bái gối, cung kính. Để tỏ lòng sùng mộ Đức Mẹ một cách cụ thể hơn, nhà vua đã cho xây cất một thánh đường nguy nga đồ sộ tại Székes Féhéwaz dâng kính Đức Trinh Nữ.

Mặc dầu đã cố gắng nâng cao mức sống tinh thần cũng như vật chất của toàn dân, nhà vua vẫn thấy còn có nhiều kẻ xấu số phải sống trong cảnh nghèo túng. Tuy nhiên, đó cũng là dịp để cho nhà vua thi hành đức bác ái. Nhiều khi, nhất là trước mỗi việc quan trọng, nhà vua thường mở kho phát của cho kẻ nghèo trong toàn quốc. Nhưng cũng có lần với tính cách tư, ngài đem tiền của bố thí cho kẻ nghèo. Một lần kia nhà vua cởi hoàng bào, mặc thường dân để dễ bề tiếp xúc với dân nghèo. Vừa thấy ngài, mấy tên ăn mày vốn tính man rợ liền ùa đến cướp giật. Chúng vật ngài ngã, vừa đánh vừa cướp tiền bạc rồi mau chân tẩu thoát. Nhà vua không một lời than trách, liền vào một nhà thờ gần đó, đến quỳ dưới chân Mẹ lành cám ơn Mẹ đã cho ngài chịu đau khổ vì Chúa, đồng thời, xin tha cho những kẻ vừa mới đánh đập và bóc lột ngài. Và nhân cơ hội này, nhà vua quyết định sẽ “báo thù” tất cả những kẻ nghèo khó. Nhưng thứ báo thù đây là của các thánh, nghĩa là ngài quyết sẽ không bao giờ từ chối không làm phúc cho kẻ túng thiếu một cách thật rộng rãi.

Để nhà vua thêm công phúc, đôi khi Chúa cũng gửi đến những thử thách cam go. Chính nhà vua phải mang một thứ bệnh đau đớn suốt ba năm trời. Rồi ngài lại phải chứng kiến mấy cái chết của mấy người con yêu dấu. Tuy nhiên, ngài vẫn còn chút hy vọng vì Chúa đã thương để lại cho ngài một Hoàng tử tên là Êmêric, sinh năm 1007, tại Sjékes Féhéwaj. Nhà vua biết đó là hồng ân của Chúa, nên ra sức chăm nom và trao việc dạy dỗ thái tử cho thánh Gêrađô, viện phụ tu viện thánh Gioócgiô Vênitia và được phúc tử đạo.

Hoàng tử Êmêric được giáo dục hết sức chu đáo, nên đã trở thành một thiếu niên hết sức đạo đức, cậu hứa với Chúa sẽ giữ mình đồng trinh suốt đời, nhưng vì vua cha không biết lời hứa ấy nên đã lập gia đình cho cậu. Vâng lời vua cha, Êmêric kết hôn với công chúa nước Phổ.

Ý Chúa xếp đặt, chính công chúa cũng đã hứa sống trinh khiết, vì thế hai vợ chồng này đã trung thành được với lời khấn hứa ấy.

Hoàng tử Êmêric sống một cuộc đời rất thánh thiện và cùng cha san sẻ gánh nặng trị nước. Đến năm 1031, bị bệnh nặng, Hoàng tử tạ thế không có con thừa kế. Hoàng tử được mai táng tại Sjékes Féhéwaj, và tại đây ngài đã làm nhiều phép lạ. Giáo hội tôn kính ngài như một đấng thánh, và mừng lễ vào ngày mồng 4 tháng mười một.

Sau 40 năm trị quốc, với bao nhiêu vất vả nhọc nhằn, vua Têphanô cảm thấy không sống được bao lâu nữa, định truyền ngôi cho người cháu tên là Phêrô, con của chị ngài. Ngài bị bệnh sốt hoành hành không thể ngồi dậy được nữa. Trong khi vua bị liệt, có mấy người bề tôi muốn mưu sát ngài để tiếm vị. Một trong bọn chúng ban đêm, cầm gươm lẻn vào phòng ngài, nhưng Chúa muốn bảo vệ người tôi trung, nên khiến tên phản loạn đánh rơi gươm. Tiếng động đã khiến nhà vua tỉnh thức. Thấy âm mưu bị lộ, tên phản loạn liền đến quỳ dưới chân vua xin ân xá. Nhà vua liền tha ngay, trước cử chỉ hào hiệp ấy, tên phản loạn liền đổi lòng hung bạo ra lòng trìu mến. Nhà vua cảm thấy giờ lâm chung đã gần đến, liền triệu tập tất cả các Giám mục và công chức trong triều đến, căn dặn phải luôn luôn bảo tồn đức tin Công giáo. Sau đó ngài chịu xức dầu và chịu lễ lần sau hết một cách sốt sắng, rồi linh hồn ngài bay lên hưởng nhan thánh Chúa, hôm đó là ngày Lễ Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời năm 1038. Xác ngài được chôn cất bên mộ Hoàng tử Êmêric trong nhà thờ Sjékes Féhéwaj, và tại đây, Chúa đã cho ngài làm rất nhiều phép lạ để chứng tỏ sự thánh thiện của ngài.

Giáo hội ghi tên ngài vào sổ các thánh và kính ngài ngày 20 tháng 8, là ngày cải táng và đặt hài cốt ngài lên bàn thờ. Còn ngày 02 tháng 9, là ngày đã được chọn để kỷ niệm cuộc thắng trận nhân danh ngài khi vua Léopolđô chiến thắng quân Phổ và giải vây Buđapest.