Hạnh Các Thánh - Hanh Cac Thanh - Hương Việt

Hạnh Các Thánh


Ngày 8 tháng 8

THÁNH ĐAMINH, LẬP DÒNG ANH EM THUYẾT GIÁO
(1170-1221)

Ngày 24 tháng 6 năm 1170, lúc sinh hạ cậu quý tử, bà Gioana d’Aza đã mộng thấy đứa con yêu của bà đội hình một con chó, miệng ngậm bó đuốc sáng ngời, soi sáng cho toàn thể thế giới. Quả thật giấc mộng đó ngày nay đã được thực hiện, vì trên thế giới ngày nay, chỗ nào cũng đều thấy hình ảnh của Đaminh con bà.

Đaminh được cha mẹ chăm nom tại gia đình, lên bảy tuổi thì được gửi đến với một người cậu ruột, quý danh là Guillaume, bấy giờ đang giữ chức tổng linh mục tại Gumiel d’Izan, để nhờ ngài giáo huấn.

Năm 14 tuổi, Đaminh được gửi tới học tại Palencia. Tại đây, với trí thông minh và tính chăm chỉ, Đaminh đã làm cho toàn thể giáo sư cũng như các bạn đồng môn phải thán phục. Ngoài những kết quả rực rỡ về học vấn, cậu còn tỏ ra là một thiếu niên rất đức hạnh, khiến mọi người đều đem lòng quý mến. Trong khi Đaminh đang tiến bước trên đường học vấn, bỗng xảy ra một nạn đói. Những cảnh đói nheo nhóc và chết chóc hằng ngày thường tiếp diễn trước mặt cậu. Không thể làm ngơ trước những cảnh ngộ thương tâm ấy, cậu bán tất cả đồ dùng, và cả đến những cuốn sách giá trị để lấy tiền giúp đỡ những kẻ xấu số. Cậu nói: “Làm sao tôi có thể cầm sách mà học được, khi mà bao nhiêu đồng bào phải chết đói”.

Càng ngày, Đaminh càng tiến bộ về hết mọi phương diện, học vấn cũng như thánh thiện. Tiếng thơm nhân đức ngài đã lan tràn khắp nơi, khiến mỗi lần nghe nói đến tên Đaminh, người người đều tỏ vẻ khâm phục. Có lẽ Đaminh đã được thụ phong linh mục vào thời kỳ này. Vì khi đó, Đức Giám Mục địa phận Osma, quí danh Máctinô Bazan đã đề cử cha Đaminh lên chức kinh sĩ. Mặc dầu còn trẻ và cảm thấy không xứng đáng với chức vụ ấy, nhưng vì đức vâng lời, cha vui lòng nhận và chẳng bao lâu, đời sống thánh thiện của cha đã cất nhắc cha lên chức phó Bề trên hội kinh sĩ. Với chức vụ ấy, ngài đã trực tiếp tham dự vào việc quản trị địa phận, và trong suốt năm năm, ngài đã giảng dạy trong toàn địa phận và thu lượm được kết quả rất khả quan.

Năm 1203, tại miền Nam nước Pháp mọc lên một lạc giáo rất nguy hiểm, đó là lạc giáo Albigiensê. Lạc giáo này chủ trương có hai Chúa: Thiện và Ác. Thuyết này tai hại vô cùng, vì trước đó tám thế kỷ, chính nó đã làm lung lạc được Âutinh, một thanh niên thông minh nhiệt thành, và bây giờ nó lại tác hại cho nhân dân miền nam nước Pháp.

Những ông hầu tước miền Tolosa, dù trước kia là những người đã có công giải vây thành đô Giêrusalem, lúc này đều công khai tuyên bố ủng hộ lạc giáo này. Rồi những miền khác như Provence, Languedoc… cũng lần lượt bất phục tùng Giáo hội. Họ đơn giản hóa thuyết Công giáo, rồi cuối cùng tuyên bố bỏ hẳn, đồng thời làm cho cơ sở gia đình và nền tảng luân lý phải lung lay.

Để tiêu diệt giáo thuyết nguy hiểm ấy, Đức Innôxentê III phải thiết lập một kế hoạch chiến đấu. Nhưng vì không trực tiếp điều khiển, nên đoàn nghĩa binh của ngài đã bị những người thiếu lương tâm lạm dụng. Rồi các vua chúa, nhân cơ hội này, thay vì mang chân lý cho những người lầm lạc, lại đem những đạo binh hùng dũng để chiếm lấy đất đai, dưới chiêu bài bênh đỡ Giáo hội. Nhưng lúc đó, vua Anphongsô VIII xứ Castilla, hiểu rõ ý Đức Giáo Hoàng muốn dùng những phương pháp ôn hòa để phá tan lạc giáo, liền sai Đức Giám Mục địa phận Ósma là Điêgô Azsveđô và cha Đaminh đi giúp Đức Giáo Hoàng thực hiện ý nguyện ấy. Sau mấy tháng hoạt động, Đức Giám Mục Điêgô Azsveđô lâm bệnh từ trần. Cha Đaminh tiếp tục sứ mạng đó, ngài hoạt động hăng hái bên các cha dòng khổ tu Xitô. Theo một phương pháp rất hợp thời, vừa siêu nhiên vừa tài trí, nhờ tài đức và lòng nhiệt thành thánh thiện, công cuộc cải huấn những kẻ lầm lạc của cha Đaminh đã đem lại kết quả vô cùng rực rỡ. Biết bao linh hồn đã nghe lời ngài mà quay về với Giáo hội.

Để mau chấm dứt mối nguy do lạc giáo gây nên, cha Đaminh phải nỗ lực làm việc ngày đêm. Bên ngoài ngài hoạt động hăng hái, nhưng bên trong ngài cầu nguyện rất thiết tha. Hai đặc tính ấy đã chi phối tất cả cuộc đời truyền giáo của ngài. Song song với việc cải hóa những tâm hồn lầm lạc bằng lời giảng dạy, cha Đaminh còn muốn cho cuộc đời đạo đức của họ được bảo đảm vững vàng nhờ những phương thế đặc biệt khác. Vì bên lạc giáo có tổ chức các trường huấn luyện riêng cho nữ giới, nên để đối lại, cha Đaminh cũng lập một tu viện tại Prouille cho những thiếu nữ nào muốn sống cuộc đời tu trì. Ngày 27 tháng 12 năm 1206, tu viện bắt đầu thâu nhận các nữ tu vào sống theo quy luật thánh Âutinh.

Đồng thời với việc cổ võ sự cầu nguyện và hy sinh cho các chị dòng ở Prouille, cha Đaminh còn truyền bá một cách kết quả việc sùng kính phép lần hạt Mân côi mà ngài đã được chính Đức Mẹ truyền dạy. Trước sự đe dọa của lạc giáo Albigiensê, lòng sùng mộ phép lần hạt mân côi thật là một phương pháp rất dễ dàng, và rất bình dân để giáo huấn và soi sáng những người lạc giáo. Và cũng kể từ đó, lòng sùng kính phép Mân côi đã dần dần lan tràn ra khắp thế giới.

Sau hơn mười năm tận tụy với công việc giáo hóa lạc giáo, cha Đaminh vui mừng vì thấy Giáo hội hoàn toàn vinh thắng. Khi lạc giáo đã tan rã, ngài có thể vào Tolosa như một viên tướng khải hoàn, khắp nơi đều an bình, tự do.

Bấy giờ Đức Giám Mục tỉnh Marseille, một người rất nhiệt thành, hằng ước ao được thấy thái bình trở lại địa phận sau bao năm bị lạc giáo dày xéo. Ngài hằng khuyến khích tất cả những sáng kiến của cha Đaminh, đặc biệt là sáng kiến thành lập một nhóm linh mục chuyên đi thuyết giáo và sống đời tu dòng.

Đầu tiên có tất cả bốn vị thừa sai hưởng ứng sáng kiến của ngài, trong số đó có Mannès, em ngài, về sau đã được phong chân phước, và hai nhân vật quyền quý thành Tolosa là Tôma và Phêrô Seile. Ông Seile dâng cho dòng một biệt thự rộng lớn vào hạng đẹp nhất thành phố. Ngày 25-4-1215, cha Đaminh triệu tập tất cả những hội viên về nhà mới đó. Tất cả được sáu người, và ngài cho họ mặc áo kinh sĩ địa phận Ósma, mà cho đến ngày nay chúng ta vẫn thấy con cái ngài duy trì. Nhân dịp công đồng chung Lateranô IV sắp nhóm họp, cha Đaminh cùng với Đức Giám Mục địa phận Marseille lên đường về Rôma để xin Toà Thánh cho phép bành trướng dòng mới lập trong toàn thể Giáo hội. Đức Giáo Hoàng Innôxentê III và công đồng đều đồng ý cho dòng Thuyết giáo được mở rộng phạm vi hoạt động. Hơn thế nữa, trong khoản luật thứ mười của công đồng bàn về việc thành lập dòng Thuyết giáo, Đức Giáo Hoàng còn buộc các Giám mục phải coi các tu sĩ dòng này như những cộng sự viên thân cận nhất trong việc giảng dạy và giải tội. Tới năm 1217 Dòng được Đức Giáo Hoàng Honoriô III long trọng công nhạân; nhưng vì không muốn có thêm một qui luật mới nữa trong Giáo hội, nên ngài truyền cho Dòng sống theo luật dòng thánh Âutinh, gồm thêm những qui ước riêng thích hợp với các hoạt động của Dòng.

Sau khi được Giáo hội chính thức công nhận việc thành lập dòng mới, cha Đaminh liền từ biệt Thánh đô để lên đường về Tolosa. Tới nhà, ngài liền bắt tay vào việc huấn luyện các anh em trong Dòng. Nhiều linh mục, tu sĩ, xin gia nhập dòng ngài, vì thế, chỉ một thời gian ngắn, dòng Thuyết giáo đã có một số thợ khá nhiều, sẵn sàng tung ra cánh đồng truyền giáo. Với cái nhìn sâu rộng, cha Đaminh đặt chương trình hoạt động tại ba địa điểm quan trọng trong thế giới Công giáo: địa điểm thứ nhất là Rôma, nơi ngài được Đức Giáo Hoàng Honoriô III ban cho một toà nhà làm trụ sở. Địa điểm thứ hai tại Paris, trung tâm văn hóa của Âu châu thời bấy giờ, và địa điểm thứ ba tai Bolonia. Bất cứ ở đâu, Dòng của cha cũng hoạt động mạnh mẽ và cố gắng thích nghi với mọi tầng lớp dân chúng. Chính vì thế mà năm 1220, toàn thể Âu châu, trừ Anh quốc và Hungari, đều được đón nhận Phúc âm do công của con cái cha Đaminh. Sang năm 1221, ngài lại xúc tiến công việc thành lập một tu viện lấy tên là Albe Royale tại Hungari, và đồng thời nhiều học đường cũng được xây cất ngay bên Đại học đường danh tiếng Oxford.

Để tưởng thưởng những công lao vĩ đại của Dòng Thuyết Giáo, Toà Thánh đã dành riêng cho con cái cha Đaminh hai chức vụ quan trọng trong triều Vaticanô: chức vụ thứ nhất là đứng đầu Thánh Điện (Sacré Palais), chức thứ hai là tổng ủy viên bộ Thánh Vụ.

Cha Đaminh vì đã quá lao nhọc với công cuộc tông đồ, nên dù tuổi mới độ năm mươi, mà sức lực đã hầu tàn. Dầu vậy, ngài vẫn cố gắng lên Bắc Ý và miền Lombardia để rao truyền Phúc âm. Sau đó lại trở về Rôma nhân dịp Đức Giáo Hoàng tưởng thưởng cho Dòng Thuyết Giáo của ngài. Ngài luôn luôn đi thăm viếng các nhà dòng ở rải rác khắp nơi, và khi tới Vênitia thì lâm bệnh nặng. Trở về Bôlônia dù đau ốm, ngài vẫn hết sức tuân thủ luật dòng, không kể chi những can gián của đoàn con. Bệnh trạng cha mỗi ngày một nặng, và đến ngày 06 tháng 8 năm 1221, ngài an nghỉ giấc ngàn thu trong tay nhân ái của Cha hiền. Nghe tin ngài quá vãng, Đức Hồng Y Hugolin, bạn thân thiết của ngài, được Đức Thánh Cha phái tới cử hành lễ nghi an táng. Đến khi lên ngôi Giáo Hoàng dưới danh hiệu Grêgôriô IX, ngài liền ban phép cho các anh em Dòng Thuyết Giáo rước hài cốt của cha Đaminh về nhà thờ thánh Nicôlaô một cách trọng thể. Nghi lễ di chuyển hài cốt chính là một cuộc khai mạc việc điều tra phong thánh cho ngài. Quả vậy, cuộc điều tra phong thánh bắt đầu ngày 14 tháng 7 năm 1233 và tới 13 tháng 7 năm sau thì kết liễu. Thế là chỉ sau ngày ly trần 13 năm thì Cha Đaminh đã được Giáo hội tôn phong lên bậc hiển thánh.

Sinh thời, cha thánh Đaminh đã vì bác ái mà ngày đêm hoạt động, với mục đích đem hết mọi linh hồn về cho Chúa, thì khi đã được vinh hiển trên thiên quốc, ngài cũng vẫn không quên các linh hồn còn đang chiến đấu nơi dương thế. Do đó, biết bao nhiêu phép lạ vừa thiêng liêng như cho kẻ tội lỗi biết động lòng chừa cải, vừa vật chất như cho kẻ đau yếu được lành đã… đã được thực hiện nơi mồ của cha thánh. Tới năm 1267, hài cốt của cha thánh lại được di chuyển một lần nữa trước sự hiện diện của thánh Tôma Aquinô, một trong những người con thời danh nhất của ngài, và hiện nay, mộ ngài ở tại thánh đường thánh Đaminh xây cất khoảng năm 1730. Nơi đây lúc nào cũng có đông đảo khách hành hương kính viếng.

Dưới sự bảo trợ của cha thánh Đaminh, Dòng Anh Em Thuyết giáo tính đến năm 1927 đã có tới 31 tỉnh, và hai tu hội, gồm 258 nhà và 5.300 tu sĩ. Trong số đó, hơn 700 nhân sự làm việc tại các xứ truyền giáo. Ngoài ra, cây Đaminh còn mọc thêm nhiều ngành tươi tốt nữa, như dòng nữ tu Đaminh và Dòng ba dành cho các giáo hữu hâm mộ lý tưởng của Thánh Phụ.