Hạnh Các Thánh - Hanh Cac Thanh - Hương Việt

Hạnh Các Thánh


Ngày 7 tháng 8

THÁNH SIXTÔ II GIÁO HOÀNG TỬ ĐẠO
THÁNH GAÊTANÔ, SÁNG LẬP DÒNG LIÊN HIỆP GIÁO SĨ

(1480-1547)

THÁNH SIXTÔ II GIÁO HOÀNG TỬ ĐẠO 

Lịch sử không ghi rõ lai lịch của thánh nhân trước ngày lên ngôi Giáo Hoàng. Vì thế, chúng ta chỉ biết sơ qua về tính danh của Ngài: Thánh nhân là người thuộc thành Athena, đã học mãn khóa nhiều trường triết lý tại Hy lạp. Sau khi Đức Giáo Hoàng Têphanô I băng hà, được một tuần, thì ngày 06 tháng 8 năm 258 toàn thể giáo hữu công giáo bốn phương vui mừng kính chào vị Tân Giáo Hoàng Sixtô lên ngôi hiển trị đoàn chiên Chúa.

Tuy lên ngôi hiển trị Giáo hội giữa muôn tiếng hân hoan đón chào và sự phấn khởi của người công giáo, nhưng người cha chung vẫn ôm nặng một nỗi băn khoăn xao xuyến, là làm sao chinh phục phái ly giáo và khắc phục những địch thủ luôn luôn muốn dấy lên phản đối Giáo hội.

Trở ngại đầu tiên khi lên ngôi Giáo Hoàng, là chính trong Giáo hội Chúa chia làm hai phái đối lập nhau, bất đồng quan điểm về phép Rửa tội. Đoàn giáo sĩ theo thánh Cyprianô thì chủ trương phép Rửa tội do những người ly giáo làm là không thành. Trái lại, đa số giáo sĩ khác lại quyết là thành. Giữa hai lập trường hoàn toàn đối lập nhau, Đức Giáo Hoàng thừa biết phải giữ vững lập trường thứ hai. Nhưng để tránh những va chạm và sự chia rẽ trầm trọng có thể xảy ra, Đức Giáo Hoàng đã khôn ngoan dàn xếp một cách ổn thoả giữa các Giám mục và Giáo sĩ. Nhờ đó, toàn thể giáo sĩ và giáo dân cùng hiệp lựïc chung xây Giáo hội, dưới sự hướng dẫn của người cha chung.

Như lời Chúa Cứu Thế đã tuyên báo, đầy tớ không trọng hơn chủ, con thuyền của Giáo hội Chúa luôn luôn phải vượt qua những làn sóng ào ào đổ tới. Mới dàn xếp xong mối chia rẽ giữa các giáo sĩ, thì Đức Giáo Hoàng Sixtô lại phải bận tâm đương đầu với đối thủ Valêrianô, một bạo vương luôn luôn muốn tróc nã và hành quyết các Tông đồ Chúa. Thấy Giáo hội Chúa liên kết thành một đoàn thể duy nhất, trên thuận dưới hòa. Valêrianô máu ghen nổi lên, và tháng 7 năm 257 hạ lệnh bắt giam các Giám mục, và hạn chế đến mức tối thiểu những buổi hội họp công giáo. Sắc lệnh ban hành, con thuyền Giáo hội lại nghiêng ngửa với những cơn phong ba bão táp, một bầu không khí ngột ngạt khó thở bao trùm Giáo hội. Một lớp sương mù che mờ lá cờ Chúa. Bao nhiêu Giám mục đã bị truy nã và phát lưu, bao nhiêu giáo dân bị đi đày hoặc bị tù tội, đi làm công trường… Nhưng Chúa Thánh Thần tác động mạnh mẽ trong Giáo hội, như lời Chúa Kitô đã phán: “Cha sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế”. Vì thế, trong lúc phải đương đầu với những cuộc tấn công của ma quỷ, Giáo hội được Chúa Thánh Thần nâng đỡ càng mạnh mẽ hơn. Bỡ ngỡ trước sức kháng cự mỗi ngày một mạnh, bạo vương Valêrianô ban hành sắc lệnh quyết hạ sát tất cả những Giám mục, linh mục và các phó tế, thải hồi những công chức theo Công giáo, tịch thu gia tài của tất cả những nhân vật có địa vị cao trong Giáo hội, và bắt làm nô lệ tất cả các tín hữu bướng bỉnh, không chịu tuân lệnh nhà vua.

Vừa khi sắc lệnh được ban hành, thì những cộng tác viên đắc lực của nhà vua nhóm họp bàn mưu tìm lấy một giải pháp hữu hiệu nhất để tiêu diệt đạo Chúa. Kết quả là, họ đồng thanh tìm cách triệt hạ Đức Giáo Hoàng. Vì theo họ, nếu triệt hạ được Đức Giáo Hoàng, vị thủ lãnh công giáo, thì cũng như đánh rắn mất đầu, cả đàn chiên phải tan tác. Lúc này hơn bao giờ hết, người Công giáo có cảm tưởng chính ma quỷ trong hỏa ngục đang dấy lên phá hoại Giáo hội Chúa. Nhưng dù trong xao xuyến lo sợ, mọi người đều tin tưởng Giáo hội Chúa vẫn tồn tại “vì Chúa đã thắng thế gian”.

Một lần kia Đức Giáo Hoàng đang giảng thuyết cho đám giáo dân, thì đột nhiên địch thủ bao vây bắt ngài và trảm quyết ngài ngay tai nghĩa địa Prêtexta. Ngày nay mỗi khi khách hành hương qua mộ địa của ngài đều đọc thấy trên mộ chỉ đoạn văn cảm động sau đây: “Giữa lúc nhát gươm bén nhọn đâm thâu qua trái tim thánh của người mẹ hiền (Giáo hội), Ta, Đấng chủ chiên bị hạ thủ nơi đây. Đang khi Ta rao giảng giới răn Chúa, thì đột nhiên người ta xông đến bắt Ta. Theo Ta, bao nhiêu tín hữu đã can đảm giương cổ ra trước lưỡi gươm phũ phàng để lãnh nhận triều thiên tử đạo”.

Sau khi Đức Giáo Hoàng bị hạ sát, thì cũng có biết bao nhiêu tín hữu Chúa đã anh dũng hy sinh vì lý tưởng cao quý. Trong số đó, có bốn thầy phó tế cũng bị trảm quyết như Đức Giáo Hoàng: thầy Javier, Magniô, Vinhsơn, và Têphanô. Ngoài ra còn hai thầy phó tế khác bị thiêu sinh là thầy Félicisme và Agapit.

Sau đó ít lâu, một ngôi thánh đường được xây cất trên ngôi mộ của ngài và trên tiền đường có ghi chữ: “Đây là nơi Đức Giáo Hoàng Sixtô bị trảm quyết”.

Điểm đặc biệt là sau khi thánh Giáo Hoàng bị trảm quyết, toàn thể giáo hữu Chúa nơi kinh thành bất diệt đều bị lầm than hơn dưới chế độ Valêrianô, nhất là hàng giáo phẩm và giáo sĩ Rôma đều gặp phải nhiều khó khăn: các ngài bị trục xuất, bị lưu đầy hay bị tù tội. Các tu viện bị chiếm cứ, tài sản bị tịch thu. Tuy vậy, đức tin của đoàn chiên Chúa không bị sút kém, mà trái lại, còn tăng gấp bội. Bên ngoài đời sống đó không có gì là sống động rầm rộ, nhưng bên trong tiềm ẩn một sức sống sung mãn. Trước hiện tượng kỳ lạ đó, ai cũng tin rằng là do lời bầu cử của thánh nhân và do sức nâng đỡ của Chúa Thánh Thần, như lời Chúa Giêsu đã phán: “Cha hằng ở với các con mọi ngày cho đến tận thế; Phêrô, con là đá, Ta sẽ xây Giáo hội Ta trên đá này, và cho ma quỷ hỏa ngục có dấy lên phản loạn, chúng vẫn không làm gì nổi”.

 -o0o-

THÁNH GAÊTANÔ, SÁNG LẬP DÒNG LIÊN HIỆP GIÁO SĨ

(1480-1547)

Đây là vị thánh ở thời phục hưng Công giáo tại nước Ý. Ngài đã cộng tác với Giám mục Gioan Carafa ở Chiêti để lập dòng Thêatins. Dân chúng Vênêtia thường gọi ngài là: “Vị thánh của Chúa Quan phòng”.

Thánh nhân sinh trưởng trong một gia đình quý tộc ở Ý. Thân mẫu là Maria Pôrtô, thấy con ra đời giữa một môi trường đầy gương xấu nguy hiểm, nên khi sinh hạ Gaêtanô, bà đã không ngần ngại dâng con cho Đức Mẹ. Để tỏ lòng trung thành lời dâng kính đó, bà đặt tên con là Gaêtanô Maria. Ngay từ thuở niên thiếu, Gaêtanô đã sớm tỏ ra một tâm hồn quảng đại, đã biết yêu thương người đồng loại, đặc biệt những người bần cùng nghèo khổ. Tâm hồn nhân ái và quảng đại đó còn được hun đúc và dưỡng dục nhờ người mẹ phúc hậu và đại độ.

Xã hội thuở niên thiếu của Gaêtanô là một xã hội đầy bất công, không thiếu những cảnh chướng tai gai mắt của những kẻ phong lưu quan cách, cũng như những cảnh lầm than đói khổ của người dân nghèo. Trước hai trạng thái tương phản đó, tâm hồn Gaêtanô không hướng về những cảnh hào hoa phong nhã, nhưng cậu đã biết hướng tâm hồn về với những cảnh lầm than của xã hội. Chính vì thế, cậu thường phân phát tiền bạc, quần áo cho những con người bơ vơ, thất thểu nơi đầu đường xó chợ, hoặc lang thang đây đó với kiếp sống ăn xin. Nhiều lần trông thấy những người hành khất mà không có gì để bố thí, lòng rầu rầu cảm động đến sa lệ, cậu vội chạy đi xin tiền của bất cứ ai để giúp họ.

Với trí khôn thông minh và đức hạnh chắc chắn, sau khi mãn trường trung học, Gaêtanô được gửi đến đại học ở Pađôva. Nơi đây Gaêtanô trở thành ngôi sao sáng cho mọi sinh viên, cả về hai phương diện trí dục và đức dục… Sau những năm chuyên cần trau dồi kiến thức, ngày 17 tháng 7 năm 1504, sinh viên Gaêtanô lĩnh văn bằng tiến sĩ luật. Tuy nhiên, tâm tư ngài vẫn mang nặng một niềm âu lo, vì nghĩ rằng có kiến thức dồi dào mà không đem giúp đời, thì vẫn mang tiếng là hữu tài vô dụng, chưa kể là đã đạt được mục đích của tạo hóa. Với tâm hồn nạêng trĩu những hoài vọng giúp đời ấy, nhà tiến sĩ luật chỉ muốn san bằng những bất công xã hội, muốn tiêu diệt những cảnh “cá lớn nuốt cá bé”. Để đạt mục đích đó, ngài đã dành luôn mấy năm liền để theo học nghề trạng sư tại đại học đường Vicencia. Chính trong thời gian này, lòng nhiệt thành truyền giáo của ngài càng được mãnh liệt phát triển hơn, nhờ ở những hành động xã hội mà ngài chủ trương. Thấy dân miền Rambagizô túng thiếu không tiền xây cất thánh đường, ngài đã trở về quê hương, khuyến khích người anh cả cùng bỏ tiền ra xây cất một ngôi thánh đường ở Rambagizô, nhà thờ này được dâng hiến ngày 10 tháng năm 1505.

Sau khi nghe biết tiếng tăm và công việc của Gaêtanô, Đức Giáo Hoàng Giuliô II đã triệu vời ngài về thánh bộ Rôma giữ chức tổng bí thư tông toà. Nhờ đức khôn ngoan và tài ngoại giao khéo léo, ngài đã tái lập được mối tương giao thân mật giữa Đức Giáo Hoàng và nước Cộng hòa Vênitia. Tuy chưa chịu chức linh mục, danh tiếng của ngài bấy giờ đã ngang hàng với những nhân vật cao cấp của hàng giáo phẩm như Giacôbê Sađôlê tổng bí thư của Đức Giáo Hoàng Piô X, Gioan Phêrô Carafa, sau làm Hồng Y. Năm 1516, ngài tham gia tổ chức Hội dòng Liên Hiệp giáo sĩ, lấy tên là Hội Tình Yêu Thiên Chúa đã được Đức Giáo Hoàng Lêô X chuẩn y và cho phổ biến mau lẹ trên toàn lãnh thổ Ý. Chính trong thời gian cộng tác đắc lực với hàng Giáo phẩm Rôma, mầm ơn thiên triệu linh mục triển nở rất mạnh nơi con người tài cao đức cả này. Gaêtanô đã qua những bậc thang của chức linh mục một cách mau lẹ khác thường. Do đặc ân của Đức Giáo Hoàng Lêo X, ngày 27 tháng 9 năm 1516, ngài chịu chức phó tế, và ngày 30, giữa bầu không khí trang nghiêm và huy hoàng của thánh đường thánh Phêrô, ngài chịu chức linh mục.

Tháng 8 năm 1518, khi được tin bà thân mẫu lâm bệnh, vì đức hiếu thảo, ngài phải tạm biệt thánh toà Rôma, trở về quê hương bản xứ để săn sóc sức khỏe và yên ủi mẹ hiền trong lúc bệnh tật. Ngày 14 tháng 8 năm 1518, bà thân mẫu đã bằng an trút hơi thở cuối cùng trong tay vị linh mục hiếu tử của bà. Sau lễ an táng mẹ, ngài được cha linh hướng mời về Vênitia để giao cho việc chấn hưng bệnh viện Neuf. Với tài tháo vát, thánh nhân đã cải tiến và trùng tu toàn thể bệnh viện. Chính những vị giám đốc bệnh viện đã phải hết lòng khâm phục và tặng ngài danh hiệu: “đấng bảo vệ và duy trì bệnh viện”. Sau khi thánh nhân từ trần, họ đã đặt bức chân dung của ngài trên cổng chính để kỷ niệm và ghi ơn thánh nhân.

Năm 1523, ngài trở về Rôma, thấy tổ chức Hội Liên Hiệp Giáo sĩ đã có phần lỏng lẻo; hơn nữa, theo ý ngài, muốn truyền bá đạo thánh một cách đắc lực, trước tiên cần phải có những cán bộ tài ba và đức hạnh. Vì thế, ngài dốc toàn lực vào việc cải tiến hội dòng Liên Hiệp Giáo sĩ Tình Yêu Thiên Chúa, với những quy chế nghiêm ngặt. Luật dòng đã được chuẩn y ngày 14 tháng 9 năm 1521, và Đức Hồng Y Carafa được cử làm bề trên cả. Với những quy luật rõ ràng và chính đáng, hội dòng tiến triển rất mạnh và ảnh hưởng nhiều nơi. Ngày 11 tháng 02 năm 1533, Đức Giáo Hoàng Clêmentê VII gửi cho vị bề trên cả Carafa một sắc lệnh, tỏ ý muốn thiết lập Hội Dòng Liên Hiệp Giáo sĩ ở Napôli. Phụng nhận sắc lệnh, bề trên Carafa ủy nhiệm cho thánh nhân. Thánh nhân vội lên đường đi Napôli với Gioan Marinôni, mặc dầu khi khởi hành trời đất đầy sương mù và gió lạnh. Tại Napôli, ngài bị bá tước Ôpiđô làm khó dễ, quyết không cho phép thiết lập cư xá tại đó. Nhưng với ơn Chúa nâng đỡ và tài ngoại giao, thánh nhân đã vượt thắng trở lực một cách dễ dàng. Nơi đây, ảnh hưởng của ngài ngày càng lan rộng, nhất là sau khi ngài được Chúa ban cho đặc ân chữa lành một anh em trong dòng đã bị cưa đứt một chân.

Tuy bận tâm lo lắng tổ chức Hội dòng, nhưng không vì thế mà thánh nhân sao nhãng công việc bố thí cho người nghèo khó, thăm viếng an ủi các bệnh nhân. Đặc biệt, ngài đã tỉnh thức đề phòng những tai họa của bọn lạc giáo lăm le tấn công Giáo hội. Để đối phó với hiểm họa đó, thánh nhân đã sớm biết vạch mặt chỉ tên họ bằng những bài báo chí hay những buổi diễn thuyết rầm rộ. Đồng thời ngài đưa tin về bề trên cả Carafa, bấy giờ đang làm Hồng Y, để tâu việc này lên Đức Giáo Hoàng. Do đó, Bộ Thánh Vụ được thành lập để bảo vệ đức tin và cứu vãn những thuần phong mỹ tục của xã hội.

Tháng 4 năm 1540, khi được làm bề trên ở Vênitia, cha Gaêtanô mời người bạn chí thiết của ngài là Đức Giám Mục Giberti tới thăm cơ sở ở Vêrôna. Thấy nhà dòng có vẻ túng thiếu, Đức Giám Mục Giberti liền trao tặng ngài một số tiền và thực phẩm. Nhưng vì yêu mến đức khó nghèo, thánh nhân từ tốn trả lời: “Xin Đức Cha vui lòng giữ lại những tặng phẩm mà Đức Cha có ý ban cho chúng con, riêng đối với con, thà mất nhà cửa và của cải đời này còn hơn mất đức khó nghèo”.

Đầu tháng 8 năm 1547, thánh nhân ngã bệnh, và trong 4 ngày nằm liệt giường, anh em tu sĩ trong nhà muốn dọn cho ngài một giường có đệm quý để ngài nằm chịu bệnh, nhưng vì quý mến đức khó nghèo, thánh nhân chỉ xin cho mình nằm trên áo nhặm trải trên tro. Một tuần sau, ngài êm ái trút hơi thở cuối cùng giữa lời kinh sốt sắng của anh em Hội Dòng. Theo lời di chúc, xác thánh ngài được mai táng không phải trong một hầm mộ quý báu lịch sự, nhưng trong một hầm công cộng chơ vơ gần nguyện đường thánh Phaolô. Năm 1588, xác thánh ngài được di chuyển vào trong lòng nhà thờ. Nơi đây nhiều người đã được hưởng phép lạ khỏi bệnh, nên chẳng bao lâu đã biến thành nơi hành hương của muôn khách thập phương đổ dòng về kính viếng mộ thánh ngài.

Với những công cuộc làm vẻ vang Giáo hội và những phép lạ ngài làm, ngày 22 tháng 9 năm 1629, Đức Giáo Hoàng Ubanô VIII đã phong cha Gaêtanô lên bậc chân phước, và ngày 24 tháng giêng năm 1682, giữa muôn tấm lòng phấn khởi, Đức Giáo Hoàng Innôxentê XI lại tôn phong ngài lên bậc hiển thánh.