Hạnh Các Thánh


Ngày 2 tháng 8

THÁNH ÊUXÊBIÔ GIÁM MỤC TỬ ĐẠO và

THÁNH PHÊRÔGIULIANÔ EYMARĐÔ

SÁNG LẬP HỘI CÁC LINH MỤC THÁNH THỂ

- THÁNH ÊUXÊBIÔ

Hồi đầu thế kỷ IV, giữa lúc Giáo hội gặp nhiều cuộc bách hại do bè rối Ariô gây nên, thì Ngai Giáo Hoàng lại trống ngôi một thời gian. Đoàn chiên mất chủ sống trong sao xuyến lo âu. Giáo dân càng gia tăng lời cầu nguyện, xin Chúa mau ban người lãnh đạo mới. Thì đây niềm hân hoan trở lại. Khi tiếng chuông từ các thánh đường reo vang loan tin Đức Êuxêbiô người Hy lạp đắc cử Giáo Hoàng.

Từ biệt Sardinia để về Rôma nhậm chức, Đức tân Giáo Hoàng ra đi giữa muôn tiếng hoan hô chúc tụng của ngàn vạn giáo dân tiễn biệt ngài. Bắt đầu người ta thấy một quả phụ quý tộc, tay dắt cậu con trai còn nhỏ cố rẽ đám đông để tiến đến gặp Đức Giáo Hoàng như muốn trình bày một việc gì quan trọng. Bà phủ phục trước mặt Đức Giáo Hoàng, cầu khẩn ngài thương bảo trợ và huấn đức cho đứa con nhỏ của mình. Sẵn lòng nhân từ của một vị Cha chung, Đức Giáo Hoàng liền tự đặt tay lên đầu cậu bé như để xin Chúa chúc phúc cho cậu. Đặc biệt hơn nữa là sau này ngài còn rửa tội và lấy chính tên mình đặt cho cậu nhỏ. Người quả phụ đó chính là bà Restituđê, còn em bé kia chính là Êuxêbiô, mà sau này Chúa dùng làm một chiến sĩ anh dũng để bênh vực đức tin của Giáo hội chống với tà thuyết Ariô.

Coi việc Đức Giáo Hoàng rửa tội cho con mình là một hồng ân trọng đại, bà Restituđê càng tận tâm cố gắng giáo dục con cho nên người. Sẵn bẩm chất thông minh và tính tình ngoan ngoãn, lại được đón nhận những lời huấn đức vàng ngọc của Đức Giáo Hoàng, Êuxêbiô tiến bước mau lẹ trên đường nhân đức. Dù còn nhỏ tuổi, cậu bé đã biết quý chuộng đức trinh khiết hơn hết, cẩn thận giữ gìn, từ cử chỉ nhỏ nhặt như tránh không bao giờ hôn bất cứ một ai, ngay đối với cả bà hiền mẫu cũng vậy. Tâm hồn trong trắng ấy đã đáng Chúa thương ban che chở cho khỏi những dịp hiểm nghèo. Đây là một trong muôn lần Chúa thực hiện ơn che chở, gìn giữ của Người. Một tối kia, có một thiếu nữ đẹp vì quá cảm Êuxêbiô, một con người học rộng tài cao, lại đẹp trai và nhân đức, cô định tâm lẻn tới buồng ngủ của Êuxêbiô để có dịp gặp gỡ với con người tài trai ấy. Nhưng không hiểu làm sao, cô lần mò tới khuya mà cũng chẳng thấy phòng ngủ của Êuxêbiô đâu. Phải chăng là các thiên thần đã bịt mắt cô, như lời cô thú nhận, nên cô mới bị lẩn quẩn như thế. Sáng hôm sau, cô thực thà đến thú tội và xin lỗi Êuxêbiô rồi kể lại cho ngài nghe tất cả sự việc đã xảy ra trong đêm vừa rồi.

Tuy sống giữa trần gian đầy dịp tội, nhưng nhờ ơn Chúa và ý chí cố gắng, Êuxêbiô vẫn giữ được trong trắng tâm hồn của tuổi thanh xuân, khác nào bông sen toả hương khoe sắc giữa đám bùn nhơ. Nhưng rồi cùng với ơn Chúa thúc đẩy bên trong, Êuxêbiô nhận ra rằng: trường đời không phải là nơi thuận tiện cho việc tu thân luyện đức của mình, ngài ưa sống lối tu dòng thời ấy và sau cùng đã xin vào một tu viện.

Là một giáo hữu sốt sắng, giờ đây Êuxêbiô lại là một tu sĩ rất nhân đức. Vì khiêm tốn, ngài chỉ muốn sống mai danh ẩn tiếng ở trong chốn kín cổng cao tường. Nhưng đã đến lúc Chúa muốn dùng ngài làm đèn sáng soi cho Giáo hội và làm tai họa khủng bố bè rối Ariô. Thế nên ngài đã được Toà Thánh đặt làm Giám mục quản trị địa phận Vercellê là một địa phận có tiếng lúc ấy. Tuy là Giám mục, nhưng ngài vẫn giữ tinh thần và nếp sống của dòng tu xưa. Cảm phục tài đức và đời sống hòa hợp của ngài quả là một danh nhân nước Ý; vì biết dung hòa đời sống tu dòng với địa vị Giám mục, biết nối kết những việc hãm mình đền tội của các tu sĩ trong dòng với những phận sự chăn giắt đoàn chiên một cách khéo léo như hai thánh Martinô bên nước Pháp và thánh Âutinh bên Phi châu đã làm.

Lúc ấy lạc thuyết Ariô như ngọn lửa quái ác đã lan tràn khắp các tỉnh miền Đông và đe dọa các tỉnh bên Tây phương. Những người theo bè phái này luôn ỷ vào thế lực của vua Constanciô mà gây lũng đoạn đối với Giáo hội ở nhiều nơi. Khi hay tin Êuxêbiô làm Giám mục, bọn họ liền kéo đến làm khó dễ ngài. Họ đóng chặt cửa nhà thờ chính toà, không cho ngài tiến hành lễ. Nhưng Đức Êuxêbiô đã dừng lại, quỳ gối cầu nguyện trước tiền đường nhà thờ, tức thì các cánh cửa liền mở ra, và ngài ung dung tiến vào trước sự bẽ bàng của bọn người theo lạc giáo.

Đức Giáo Hoàng Libêriô đang cai trị Giáo hội lúc bấy giờ rất lo ngại trước sự bành trướng và hoành hành của lạc thuyết Ariô: Ngài muốn cử một phái đoàn đến với vua Constanciô, bấy giờ đang nghỉ ở Pháp để thương thuyết với vua, cho triệu tập một công đồng tại Milanô để bàn về vấn đề hòa bình và tự do của Giáo hội. Nhận thấy Giám mục Êuxêbiô là người có thế giá và thánh thiện, Đức Giáo Hoàng đã biên thư ủy ngài sứ mệnh cầm đầu phái đoàn đến yết kiến Hoàng đế Constanciô. Không nệ tuổi già sức yếu, Giám Mục Êuxêbiô đã mau mắn vâng lời ra đi, và cuộc thương thuyết đã mang lại kết quả như Đức Giáo Hoàng mong muốn.

Công đồng khai họp tại Milanô. Hoàng đế Constanciô cũng đích thân tới dự và ủng hộ phái Ariô. Dựa vào thế lực của nhà vua, bọn họ lên án thánh Athanasiô, người mà chúng coi là kẻ thù số một và đối phương lợi hại nhất. Đồng thời chúng cố gắng mua chuộc một số Giám mục khác để theo họ. Nhưng họ đã thất bại nặng nề đối với Giám mục Êuxêbiô, vì chẳng những không chinh phục được ngài, mà còn bị mất mặt vì những lời lẽ cứng rắn ngài dùng để bênh vực Giáo hội và đả kích họ. Bị thua lẽ, chúng nổi giận đuổi ngài ra khỏi nhà thờ và kết án phát vãng ngài cùng với ba Giám mục khác nữa đã không chịu ký vào bản kết tội thánh Athanasiô.

Giám mục Êuxêbiô bị phát lưu đến Sythopolis, dưới quyền quản thúc của Patrophilê là một Giám mục lạc giáo khét tiếng là ngoan cố và dữ tợn. Ông cho lệnh tống giam Đức Êuxêbiô và xử đãi với ngài một cách tàn tệ: hoặc là không cho ngài ăn uống chi để ngài phải chết đói, hoặc là dọn thịt cho ngài ăn rồi phao tin rằng Giám mục Êuxêbiô đã thuận theo họ về điểm này điểm nọ, như thế mới dễ dàng lừa được các giáo hữu. Nhưng Giám mục Êuxêbiô không khi nào ăn thịt của bọn họ, kẻo làm thiệt hại cho các giáo hữu. Ngài còn gởi cho Patrophilê một bức thư đầy những lời lẽ bộc lộ đức kiên trung và thánh thiện của vị Giám mục lão thành, để báo cho ông biết rằng: giả như Giám mục Êuxêbiô có chết đói trong tù, thì các giáo hữu cũng thừa biết ngài chết vì lý do nào rồi, chứ không phải vì ngài tự sát.

Tuy ở nơi lưu đầy xa xôi, nhưng tinh thần ngài vẫn gần gũi các giáo hữu địa phận ngài. Ngài đã biên một thư gởi cho giáo đoàn Vercellê để yên ủi và khích lệ đoàn con can đảm đón nhận cái chết vì đức tin công giáo. Rồi ngài kể cho các giáo hữu nghe những nỗi thống khổ phải chịu do cách đối xử tàn tệ và hành hạ dã man của những người thuộc phái Ariô. Vì sau khi nhận thấy ngài cứ một mực trung thành với đức tin công giáo và không hy vọng chinh phục được ngài, bọn họ liền cầm chân kéo lôi ngài nhiều lần, từ bậc thang trên cùng xuống đến đất, rồi lại kéo ngược lên.

Về sau, theo lời thánh Giêrônimô, như để hành khổ ngài hơn nữa, chúng lại gởi ngài sang miền Cáppađốc (nay là Thổ Nhĩ Kỳ) rồi sang Thêbaiđa bên Ai cập. Tại những nơi đây, Giám mục Êuxêbiô còn phải chịu muôn ngàn nhục hình, cho đến khi vua Constanciô băng hà ngài mới được trở về địa phận.

Trên đường về, ngài vâng lệnh Đức Giáo Hoàng ghé qua thăm nhiều giáo đoàn đã bị quân rối Ariô tàn phá, để an ủi khích lệ các giáo hữu, hoặc để dàn xếp những cuộc tranh chấp trong nội bộ giáo đoàn.

Hoàn tất nhiệm vụ Đức Giáo Hoàng trao, ngài trở về đất Ý và được giáo hữu đón tiếp tưng bừng như đón mừng một võ tướng thắng trận khải hoàn vậy. Lúc này tuy ngài đã cao niên và chỉ còn đợi ngày về chầu Chúa, nhưng ngài vẫn cố gắng giúp ích cho giáo dân trong chức vụ linh mục và trong nghề y sĩ như ngài đã thực hành ở Đông phương xưa.

Sau một thời gian đầy gian khổ nhưng cũng đầy công nghiệp, Giám mục Êuxêbiô giã từ thế tạm về cùng Chúa ngày 01-8 năm 371. Ngài hưởng thọ 80 tuổi.

Để thưởng công tôi tớ trung thành của Người, Chúa đã ban cho thánh nhân làm nhiều phép lạ, chữa lành những người bị quỷ ám và dập tắt nhiều đám cháy. Thánh Grêgôriô thành Toursi có kể lại với một lòng tin tưởng rằng: chính ngài đã thoát được ngọn lửa một cách lạ thường là nhờ có để hài cốt của Thánh Giám mục Êuxêbiô.

Giáo hội đã kể ngài vào hàng thánh tử đạo nhân những lần phải lưu đầy và gian khổ để bênh vực thiên tính của Chúa Kitô chống với tà thuyết Ariô.

Lạy thánh Êuxêbiô, cuộc đời hy sinh, xả kỷ bênh vực đức tin của ngài thật đáng là bài học quý giá dạy chúng con phải chiến đấu để bảo vệ và truyền bá đức tin xung quanh chúng con. Vậy xin thánh nhân bầu cử cho chúng con được lòng tin mạnh mẽ, bền vững giữ đạo Chúa và hằng hăng hái hoạt động tông đồ để truyền giáo cho anh em chúng tôi, dầu trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào cũng vậy.

 -o0o-

THÁNH PHÊRÔ GIULIANÔ EYMARĐÔ

(+1868)

“Hãy đến, hãy đến cùng Cha, tất cả những ai vất vả bạo lực, Cha sẽ nâng đỡ và bổ sức cho” (Matt 11,23). Đó là lời luyến ái, lời yêu thương mà hằng ngày Chúa Giêsu Thánh Thể không ngớt kêu nài chúng ta. Hôm nay, đọc truyện thánh thánh Eymarđô, chúng ta hãy xin thánh nhân cho chúng ta được tinh thần yêu Thánh Thể như ngài, là luôn mau mắn đáp lại lời mời gọi tha thiết của Chúa.

Thánh Eymarđô sinh tại La Muria ngày 4.2.1811, cha mẹ ngài là những tín hữu đạo đức, hết lòng kính mến Chúa và bác ái với đồng loại. Đời sống gương mẫu ông bà đã sớm hun đúc cho Eymarđô nhiều đức tính tốt đẹp làm nền tảng cho đời sống thánh thiện của ngài sau này. Những người đồng hương với Eymarđô thường so sánh cậu với vua thánh Luy: “cả hai giống nhau về tinh thần cầu nguyện, chí hy sinh và lòng yêu Thánh Thể”. Ngày 16-3-1823, cậu được hạnh phúc rước lễ lần đầu, cậu sung sướng thâm tín rằng: từ nay linh hồn cậu đã được trở thành một nhà tạm sống động cho Chúa ngự trị.

Cũng chính trong ngày hạnh phúc ấy, Eymarđô đã thề hứa một đời tin yêu Thánh Thể và dâng mình làm linh mục của Chúa. Eymarđô hớn hở về trình bày với cha mẹ ý định của mình. Mẹ cậu tỏ vẻ sung sướng, niềm vui hiện rõ trên nét mặt, trái lại, cha cậu tỏ ý không đủ can đảm sống xa Eymarđô, người con trai độc nhất còn sống sót trong gia đình. Hiểu lòng cha, Eymarđô không xin thêm nữa, một im lặng chuyên chú học thêm tiếng Latinh, đợi ngày Chúa Quan phòng định liệu.

Chúa không hề để Eymarđô phải uổng công chờ đợi. Năm 1825, cậu được đến giúp việc cho một linh mục và được ngài dạy tiếng Latinh ở Grenoble. Việc học đang tiến triển thì tháng giêng 1828, mẹ cậu chết và cậu phải về ở với cha. Nhưng rồi dịp may lại đến, ba tháng sau, một linh mục đạo đức sau được làm Hồng Y tên là Guibertô, nhân dịp đi qua Munia đã xin với ông thân sinh Eymarđô cho phép cậu được nhập dòng Tôi Tớ Đức Mẹ tại Marseille. Ngày vui nhập dòng chưa được lâu thì thầy Eymarđô ngã bệnh nặng và nằm liệt giường suốt ba năm liền. Năm 1831, thầy được khỏi bệnh, nhưng một tin buồn khác lại đến làm cho thầy hầu tan nát: ông thân sinh của thầy vừa từ trần sau mấy hôm cảm hàn.

Năm sau, cha bề trên dòng giới thiệu cho thầy Eymarđô vào học trong một Đại chủng viện. Dầu biết lực học của thầy còn kém, bề trên cũng ân cần đón nhận vì cảm mến nhân đức của thầy, Eymarđô được kể vào số các thầy xin tu trong chủng viện. Ngày 20.7.1831, Bề trên gọi thầy chịu chức linh mục rồi về làm cha phó xứ Chatte. Bốn năm sau, cha Eymarđô được cử làm cha xứ một giáo xứ gần Lamuy, xứ này vắng bóng linh mục đã mười mấy năm. Bởi thế tinh thần công giáo bị sa sút, và nhà thờ, nhà xứ đã trở nên hoang vắng, tồi tệ. Cha Eymarđô đem hết sức lực gầy dựng lại tinh thần cho con chiên và kiết thiết lại khu thánh đường. Công việc tuy khó khăn, nhưng với ơn Chúa, sau hai năm nhận xứ, cha đã thu lượm được nhiều kết quả tốt đẹp. Thế rồi trong lúc công việc đang tiến triển và tình con chiên với cha sở đang khăng khít, thì ngày 20-8-1839, cha phải bỏ xứ ra đi hầu đáp lại tiếng Chúa muốn gọi cha sống đời tu viện. Cha xin nhập hội dòng Thánh Mẫu (Société de Marie) và vào nhà tập tại Lyon.

Lòng sùng kính Thánh Thể và yêu mến Trinh Nữ Maria lại có dịp dâng lên trong lòng cha Eymarđô. Hết năm tập viện, cha khấn dòng và được cử làm tuyên úy cho trường Trung Học Belley. Dầu nhiệm vụ không hợp với tâm tình yêu chiêm niệm, cha Eymarđô cũng cố gắng hoạt động đem lòng yêu Thánh Thể và Trinh Nữ Maria gieo rắc vào mọi tâm hồn. Bí quyết truyền giáo thành công của cha là: “Phải sống theo đúng lời mình dạy”.

Tín nhiệm vào tài đức của thánh nhân, năm 1844, cha bề trên cử ngài làm Bề trên tỉnh dòng. Ngài ở lại Lyon và kiêm chức cố vấn thiêng liêng cho hội “Truyền bá đức tin” (Propagation de la Foi). Trong thời kỳ này, những hoạt động truyền giáo của cha đã gây được nhiều ảnh hưởng trong nhiều lãnh vực, đặc biệt trong ba ngành thuộc dòng Đức Mẹ, ngài mang lại tinh thần và sức sống cho Hội dòng Đức Me, mà cha Paulinô đã lập từ 20 năm trước. Ngài còn làm tuyên úy cho hai hội dòng khác mới lập, một dòng nam, một dòng nữ. Cha vạch rõ cho từng người một biết con đường phải đi. Lời cha nói rất mạch lạc và cương quyết, như mấy dòng thư sau đây, cha viết cho một phụ nữ chứng tỏ: “Cô không thích là một thanh nữ sống đồng trinh ngay giữa thế trần? Còn tôi, tôi thích họ là người thanh nữ đồng trinh và tử đạo. Chính họ đã can đảm sống đời “Hoa huệ giữa bụi gai” để mang cờ trinh khiết của Chúa Cứu Thế đến cho dân ngoại. Họ là Nữ Tỳ đáng yêu của Chúa. Vậy, ước gì cô hãy cùng nghĩ tưởng như tôi: Người ta phải nghiêng mình kính cẩn trước một phụ nữ nhiều tuổi mang nhiều vết thương và nhiều huy chương, cũng như phải ghi ơn một cựu chiến binh đầy chiến công oanh liệt”.

Nhưng tất cả các chí hướng, mọi hoạt động của cha Eymarđô đều phải cố gắng tới: “Lòng tin yêu Chúa trong Bí tích Thánh Thể”. Đó mới là lý tưởng Cha ôm ấp hơn hết. Ý nguyện ấy năm 1849, trong một cuộc du hành sang Paris, cha đã được Chúa chấp nhận và thể hiện: Chúa muốn cho cha lập hội linh mục của Thánh Thể. Ngày 2.2.1851 tại, Pouviêrê, cha kể lại cho mọi người nghe thánh ý Chúa muốn cho ngài lập hội trên, qua tiếng phán bảo của Đức Mẹ. Ngài nói: “Đức Mẹ mặc áo trắng tinh tuyền đã hiện ra và bảo tôi rằng: Mẹ muốn con trọn đời yêu mến, và làm cho người ta yêu mến Con cực thánh Mẹ trong màu nhiệm Thánh Thể”.

Như để thử nhân đức cha Eymarđô, Bề trên lại sai ngài về làm giám đốc một trường trung học tại Toulonia. Công việc Chúa truyền cho cha phải làm lại bị đẩy vào yên lặng. Nhưng một điều chính thánh nhân cũng không ngờ là tại một cộng sự viên đắc lực. Người đó là ông Cuersiô, một sĩ quan hải quân, đã mang dấu trên con tim tình yêu Thánh Thể Chúa. Ý hiệp tâm đồng, cả hai người gắn bó thực hiện công việc Chúa dạy. Ngày 18.4.1853, trên toà giảng, cha Eymarđô trình bày ước vọng của ngài như sau: “Cái tư tưởng êm đềm, dịu ngọt, nhưng mạnh mẽ và sâu sắc làm cho tôi hạnh phúc hơn cả, là hiến thân tôn sùng và truyền rao Bí tích Thánh Thể…”.

Nhưng để có phép lập hội, cha Eymarđô đã phải vượt qua nhiều khó khăn và trở ngại. Một đàng bề trên nhà dòng đã ít tin tưởng vào công việc của cha vì không muốn nhà dòng phải hy sinh một người tài đức như cha. Các bề trên nối tiếp nhau trì hoãn đơn xin xuất dòng và quyền lập hội linh mục Thánh Thể của cha. Đàng khác, mãi năm 1856, Toà Thánh mới chấp thuận đơn xin lập dòng của cha, với điều kiện phải qua một thời gian thử thách. Cha Eymarđô khiêm tốn vâng lời, phó mặc Chúa Thánh Thể và Mẹ Maria định liệu. Ngài thừa hiểu, nếu là việc Chúa muốn, thì chày kíp sẽ được thể hiện. Điều đó đã nên thật qua sắc dụ của Toà Thánh chính thức công nhận hội dòng của cha năm 1861. Nhờ ở tiềm lực đã tích trữ, hội dòng của cha mỗi ngày một phát triển mạnh mẽ, không những cha lập được nhiều cơ sở cho hội dòng nam, mà còn lập thêm hẳn một ngành nữ, với danh hiệu là: “Hội các Nữ Tỳ Thánh Thể”. Ngoài hiệu lực của ơn Chúa, những thành tích trên còn là kết quả một đời lao lung và đau khổ của vị sáng lập. Chúa như muốn tăng thêm hy sinh và đau khổ vào đời sống của cha, khiến có lần cha đã phải than thở với Chúa: “Lạy Chúa, lần này con bị phản bội, vật ngã và vùi giập dưới Thánh giá”. Lập tức ngài nghe tiếng Chúa phán bảo: “Phải đau khổ, kẻ làm cha phải hy sinh như một lễ vật tận hiến cho các con cái”. Mà thực, những khủng hoảng, những mâu thuẫn giữa các phần tử trong hội dòng, đã vò xé tim cha cho đến giây phút cuối cùng. Nằm trên giường bệnh, nhớ đến các đau khổ đang phải chịu, cha Eymarđô đã thốt ra: “Lạy Chúa, này con đây, con đang ở với Chúa trong vườn Dầu. Chớ thì Chúa muốn mọi người từ bỏ con hay sao? Này con đây, xin Chúa hãy thiêu hủy, phân tán, lột trần và hủy diệt con đi. Hôm nay xin Chúa ban cho con tình yêu và ân điển của Chúa, để ngày mai lại cho con thánh giá và ưu phiền…”. Và thánh nhân đã êm ái lịm đi trong những tư tưởng đó. Ngài về trời ngày 01-8-1838 tại Luruy. Tám năm sau, xác ngài được cải táng về Paris.

Đức Giáo Hoàng Piô XI đã cho ghi tên ngài vào sổ các bậc chân phước ngày 12-7-1924. Ngày 09 tháng 12 năm 1962, Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã phong ngài lên bậc hiển thánh. Ước gì hết mọi người tín hữu biết noi gương thánh Eymarđô tìm lương thần ở Thánh Thể, hầu đủ sức vượt qua những gian lao của cuộc đời, để trở về xum họp trong nước vinh quang đời đời của Chúa.