Hạnh Các Thánh


Ngày 17 tháng 7

THÁNH PÊRATÔ VÀ CÁC BẠN TỬ ĐẠO NƯỚC TUNISIE
(+180)

Cũng như mọi Giáo hội công giáo ở nhiều nơi. Giáo hội Phi châu đã sinh ra trong đau khổ, lớn lên trong thử thách và trưởng thành trên xương máu! Quả là một lịch sử đau thương và bi đát! Nhưng chính nhờ có những trang lịch sử đẫm máu ấy, mà ngày nay chúng ta mới được diễm phúc cùng với cả Giáo hội hân hoan nhìn ngắm “đồng lúa Phúc âm đang trổ bông và phơi màu dưới trời Phi châu”. Trên cánh đồng truyền giáo ngày nay, chúng ta thấy xuất hiện một Giáo hội Phi châu đang lớn mạnh. Nhưng đồng thời chúng ta không thể không nhớ đến những hy sinh và máu đào của bao anh hùng liệt sĩ đã khai sinh nên Giáo hội Phi châu ngày nay. Trong số những người đầy huân công ấy, hôm nay Giáo hội muốn nhắc đến thánh Pêratô và các bạn Tử đạo người miền Seilli thuộc nước Tunisia.

Tất cả các ngài đã bị phát lưu ngày 17 tháng 7 năm 180, dưới triều hoàng đế Commôđô vì một tội duy nhất: họ là những kitô hữu trung kiên.

Điều đáng tiếc là không có một tài liệu nào kể lại hoàn cảnh gia đình và đời sống của các ngài, ngoại trừ một bản văn duy nhất, được giáo đoàn Phi châu kính trọng như một “báu vật” ghi lại cuộc đối chất giữa các ngài với quan Tổng trấn Saturniô đóng vai quan án. Dưới đây là nội dung của bản văn đó.

Sau một hồi trống, mọi người yên lặng và phiên toà bắt đầu. Quan Tổng trấn ngồi bệ vệ trên ghế cao, hất hàm hỏi: “Mấy anh kia, các anh đã biết lỗi các anh chưa?”. Mọi người thưa: “Chúng tôi không có lỗi, chúng tôi chỉ có đức tin thôi”. Như không để ý đến câu trả lời của các tù nhân, quan Tổng trấn hạ giọng nói một cách hiền từ: “Nếu các anh nhận lỗi, và thực tâm giác ngộ, ta sẽ tâu Hoàng đế đại xá cho các anh”. Rồi quay nhìn Pêratô, ông nói tiếp: “Và riêng Pêratô, anh xem ra có nhiều khả năng văn hóa, nếu anh muốn, ta sẽ thu xếp công việc cho”. Pêratô tiến lên một bước và dõng dạc nói: “Thưa quan trấn, chúng tôi không bao giờ làm điều ác hay bất công; không nguyền rủa cũng không vu khống cho ai. Hơn thế, chúng tôi luôn luôn cầu phúc cho những ai bạc đãi và hành hạ chúng tôi, kể cả quan trấn và hoàng đế. Vậy, nguyện vọng của chúng tôi không phải là xin hoàng đế đại xá, nhưng muốn quan trấn và hoàng đế cùng với chúng tôi thờ phượng Thiên Chúa, phụng sự tổ quốc trong đức tin”. Vẫn giữ nét mắt hiền từ, Tổng trấn Saturniô ôn tồn bảo: “Ta không muốn anh liệt ta và Hoàng đế vào sổ những người bạc đãi các anh. Có thần minh làm chứng, ta luôn noi gương Hoàng đế đối xử tử tế với các anh. Vì ta cũng là người có đạo. Đạo chúng ta đơn giản lắm, chỉ tôn thờ Hoàng đế và cầu nguyện cho ngài. Ta thấy các anh là những công dân lương thiện, nên ta mới muốn cho các anh cùng làm như ta”. Thay mặt anh em, Pêratô khoan thai đáp lại: “Vâng, chúng tôi cám ơn tấm lòng ưu ái của quan trấn là Hoàng đế. Còn đạo của quan trấn, nếu quan trấn bằng lòng, tôi xin minh giải một vài điểm để quan trấn và những cộng sự viên của ngài có mặt tại đây thấy những sai lầm của đạo đó. Xin quan trấn nhớ cho rằng đạo đơn giản không có nghĩa là đạo chân chính!”. Quan trấn vội ngắt lời: “Thì cứ tế thần đi, thề hứa tôn thờ Hoàng đế và từ bỏ ông Giêsu đi rồi chúng ta sẽ thảo luận với nhau sau”. Quay lại nhìn các bạn như để khích lệ, rồi Pêratô thưa: “Tôi, và cả các bạn tôi đây, chúng tôi không muốn thờ một ai ngoài Thiên Chúa. Chính Người đã dựng nên muôn vật, đã dạy chúng tôi theo con đường chân chính. Xin quan trấn hãy hiên ngang theo con đường ánh sáng với chúng tôi, và đừng bao giờ xin chúng tôi bỏ đạo nữa”. Biết rằng đấu dịu cũng vô ích, quan Tổng trấn bắt đầu nổi nóng, đập mạnh lên bàn và quát: “Ta truyền cho các anh bỏ cái tà đạo ấy đi”. Vẫn giữ được vẻ bình tĩnh, yên hàn của những con cái Chúa, Pêratô điềm nhiên trả lời: “Chỉ có thứ tôn giáo lấy tiền bạc, danh vọng và người trần làm chúa mới là tà đạo”. Như một con sư tử đó, Saturniô vùng đứng lên nhìn thẳng vào những người đứng sau dọa nạt: “Còn các anh nữa, các anh có khỏi điên rồ như tên Pêratô khốn nạn này không?”. Không ai bảo ai, tất cả các bạn Pêratô cùng trao đổi với nhau những cái nhìn đầy tin tưởng và khích lệ, rồi lần lượt kẻ truớc người sau tiến lên trả lời đanh thép. Trước tiên là thánh Cittimô với những lời dõng dạc cương quyết: “Chúng tôi không sợ ai cả, trừ một Thiên Chúa tình yêu, Đấng hằng ở với chúng tôi. Xin quan đừng dọa nạt chúng tôi vô ích”. Cittimô lùi xuống nhường chỗ cho Đônata tiến lên phát biểu ý kiến: “Chúng tôi xin trả lại cho Hoàng đế Cêsarê, những cái gì thuộc về Hoàng đế. Chúng tôi nhất tâm tôn thờ và yêu mến một Thiên Chúa chân thật”. Tiếp đó Vestia hai tay nắm chặt, thong thả dằn từng tiếng: “Quan lớn biết chưa, tôi là người công giáo nhất định sống chết với đức tin”. Sau cùng đến lượt Sêcunđa, một người ít tuổi nhất trong bọn; tuy thế ngài cũng không thiếu vẻ bình tĩnh và hiên ngang của một vị anh hùng: “Thưa quan trấn, tôi cũng là người tôn thờ Chúa Giêsu, tôi cũng muốn chết vì đức tin như các anh em của tôi đây”. Rồi không ai bảo ai tất cả năm người đồng thanh hát lời ca vịnh: “Những người công chính đã kêu cầu Chúa, và Chúa đã nghe lời các ngài, Người đã cứu họ khỏi mọi hiểm nguy” (Tv 38,18).

Trước niềm hoan lạc và đắc thắng của các thánh, quan Tổng trấn Saturniô với một dáng điệu thất vọng, một giọng ưu sầu, đã đứng lên tuyên bố: “Ta không thể kiên nhẫn hơn để đợi các anh giác ngộ. Ta biết rằng lên án các anh cũng là tỏ ra ta thất bại, không khuất phục nổi đức tin của các anh, nhưng việc đó cũng chứng minh rằng, ta có quyền trên các anh. Nếu đã vì các vị thần linh và vì hoàng đế ta đã hòa hoãn, đã hậu đãi các anh, thì lúc này, cũng vì thần minh, và vì hoàng đế ta hạ lệnh tuyên án xử trảm các anh: năm anh có mặt tại đây và cả những người công giáo ngoan cố còn giam trong ngục”. Quay nhìn bọn đao phủ, quan trấn truyền lệnh: “Lính đâu, các người dẫn những tên này, và cả những tên còn giam trong ngục, ra pháp trường chém đầu tất cả và ném xác chúng xuống sông”.

Nghe tuyên án, các thánh hớn hở như nghe một tin mừng. Các ngài xếp hàng một, vừa đi ra pháp trường vừa ca hát vui vẻ: “Lạy Chúa, những người quyền thế bách hại chúng con vô cớ, nhưng lời Chúa làm cho chúng con kính sợ. Chúng con vui mừng nghe lời Chúa như đã tìm thấy một kho tàng to lớn” (Tv 118,101). Đi theo các thánh là đám đông dân chúng. Đa số họ đi để thoả tính tò mò, nhưng không hiếm những người yêu mến và thán phục các ngài. Không ai bảo ai, tất cả họ đều yên lặng đến như nín thở, để chiêm ngưỡng cái chết anh hùng của từng vị thánh. Hôm ấy là 17.7.180. Theo bản án, xác các vị Tử đạo phải buông sông. Nhưng nhiều người dân lương thiện đã đút tiền cho lính canh, lấy xác các thánh đem táng vào một nơi. Đến sau, người ta lại rước di hài các vị lề Lyon và cùng tôn kính với hai thánh Cyprianô và thánh Pantalêô.

Quả, các Ngài đã gieo trong đau khổ để được gặt trong hoan lạc; đã vất vả ra đi vừa gieo vừa khóc, để rồi trở về giữa tiếng hoan ca, tay ôm bó lúa! (Tv 125,5).