Hạnh Các Thánh


Ngày 11 tháng 7

THÁNH BIỂN ĐỨC VIỆN PHỤ

Vào năm 480 tại Norcia, một thành phố thuộc miền trung nước Ý, có hai trẻ sinh đôi, một trai một gái. Đó là hai em Biển Đức (Benedictus) và Scholastica. Trên khuôn mặt khôi ngô sáng sủa của hai em người ta còn nhận thấy một nét gì đặc biệt trong khóe mắt ngây thơ và tâm tình của hai em, như điềm báo trước một tương lai thánh thiện, một hồng phúc Chúa khứng ban.

Giáo dục đạo đức của gia đình đã sớm làm cho Biển Đức trưởng thành về phương diện luân lý. Chỉ mới là một thiếu niên 16, 17 tuổi mà Biển Đức đã có những tư cách của một vị lão thành khôn ngoan: cậu không ham chi những thú vui, khoái lạc, coi khinh những của cải và danh vọng trần gian.

Sau những ngày hạnh phúc sống dưới mái nhà êm ấm và bên cạnh người vú thân yêu, Biển Đức được gửi đi du học tại Rôma. Nhưng việc học vẫn đang đầy triển vọng, thì Biển Đức bỗng xin phép cha mẹ xếp bút nghiên để lên đường theo tiếng gọi của lý tưởng. Người sinh viên đó tìm đến miền hoang địa cách Rôma 40 dặm để được sống cuộc đời tịch liêu thân mật với Chúa. Trong khi còn đi lang thang tìm một hang trú ẩn, Biển Đức gặp được thầy Rômanô, một tu sĩ cùng chí hướng như mình. Tình yêu và lý tưởng đã kết hợp hai người thành đôi bạn chí thiết. Rômanô chỉ cho Biển Đức một hang rất kín chưa hề có một vết chân người đặt tới. Biển Đức sống ở đó ba năm với bánh hằng ngày của thầy Rômanô mang tới. Sau thời gian vắn vỏi sống đời ẩn dật hoàn toàn, Chúa muốn đặt ngọn đèn thánh thiện của Biển Đức lên nơi cao để soi dẫn cho nhiều người.

Vào thời ấy thường có những mục tử hay lùa chiên đến chăn ở miền đó, họ đã khám phá ra hang của Biển Đức. Khi trông thấy Ngài mặc da thú vật thấp thoáng sau bụi cây, họ tưởng là một con thú rừng. Nhưng khi lại gần nhìn rõ mặt ngài, họ mới thấy ngài đáng kính biết bao. Từ đó rất đông người đã tìm đến thăm ngài; đem những thức ăn phần xác đến cho thánh nhân, để lĩnh nhận từ miệng ngài món ăn thiêng liêng bổ ích cho linh hồn.

Ma quỷ vì ghen ghét người thánh hằng tìm cách khuấy khuất và hãm hại ngài. Ngày kia khi thánh nhân đang miệt mài suy ngắm, tên cám dỗ hiện hình một con sáo đen bay liệng trước mặt ngài để làm cho ngài chia trí; thánh nhân dơ tay làm dấu, sáo đen liền biến đi. Ngay sau đó, ngài bị một cám dỗ rất mạnh về xác thịt chưa bao giờ từng cảm thấy. Quỷ gợi trong tâm trí ngài hình ảnh một phụ nữ mà ngài đã quen biết ở Rôma, và xui giục Biển Đức trở về tìm gặp thiếu nữ đó. Thấy có bụi gai trước cửa hang, thánh nhân liền cởi áo rồi nằm lăn đi lăn lại trên đám gai cho đến khi toàn thân sây sứt, máu chảy lai láng. Bấy giờ tâm hồn ngài mới thấy dịu lại. Và cũng từ đó, như lời ngài thú nhận với các môn đệ, những tư tưởng xấu đã bị đè nén, không bao giờ còn nổi dậy tấn công ngài nữa. Ngài đã lướt thắng dục tình như thế, quả xứng đáng nên thầy dạy nhân đức cho mọi người.

Rồi từ đấy danh tiếng và lòng đạo đức thánh thiện của ngài được truyền tụng khắp gần xa. Không một ai mà không biết đến tên Biển Đức. Gần đấy có một tu viện mà vị bề trên vừa khuất bóng. Toàn thể cộng đồng đến xin thầy Biển Đức thế vị và coi sóc nhà dòng. Các thầy nài nẵng lắm, ngài mới chịu nghe. Chẳng được bao lâu, nhiều thầy thấy bề trên mới nhân đức thánh thiện quá thì bực mình và đồng mưu hãm hại ngài: họ nhất định bỏ thuốc độc vào chén rượu của ngài. Nhưng khi thánh nhân giơ tay làm phép như đã quen, chén bỗng vỡ tan. Biết anh em đã bỏ thuốc độc cho mình, ngài đứng dậy bình thản nói với mọi người: “Xin Chúa thứ lỗi cho anh em, sao anh em lại đối xử với tôi như vậy. Trước đây, tôi đã chẳng nói với anh em rằng chúng ta không thể ở với nhau được ư? Vậy anh em hãy tìm một bề trên khác hợp với anh em hơn, vì chúng ta chẳng còn tin tưởng và hòa thuận với nhau, thì cũng chẳng nên ở với nhau làm chi”. Rồi ngài lại trở về hang cũ và càng sống mật thiết với Chúa hơn.

Ở nơi cô tịch đó, thánh nhân vẫn chẳng được yên thân: Nhiều người đã đến xin làm môn đệ. Con số đó mỗi ngày một tăng đến nỗi ngài phải xây 12 nhà, mỗi nhà cho 12 người đặt dưới quyền trông coi của một phụ trách. Nhiều gia đình đạo đức và quý phái ở Rôma cũng mang con đến nhờ ngài trông nom và giáo dục. Ngài chỉ dùng sự khôn ngoan dạy bảo, lấy tình thương để ấp ủ mọi người. Nếu có làm phép lạ thì cũng không ngoài mục đích đó. Chẳng hạn có một nhà dòng kia ở trên núi cao, không có nước. Muốn kín nước các thầy phải xuống xa tận chân núi. Vì thương các tu sĩ phải cực nhọc, thánh nhân cầu nguyện và một suối nước đã vọt ra ngay trên đỉnh núi sát cạnh nhà dòng.

Dầu sao thánh nhân cũng không tránh khỏi số phận của các bạn hữu thật của Chúa. Những nhân đức và phép lạ ngài làm đã nên cớ cho nhiều người ghen tương, hiềm khích, đến nỗi không hãm hại được thể xác ngài, họ đã cố gắng làm cho ngài sa ngã về tinh thần. Biết đã đến lúc không thể chung sống với cộng đồng được nữa, thánh nhân đặt các bề trên và quản lý tại các nhà rồi cùng với mấy tu sĩ khác, ngài rời bỏ Subiacô, nơi đã gieo vào lòng ngài bao kỷ niệm, để tới hoạt động ở một địa trường mới. Lúc đó là năm 529, thánh nhân đã đầy 49 tuổi.

Marcô, thi sĩ và cũng là môn đệ của thánh Biển Đức, thuật lại rằng khi đoàn tu sĩ ra đi, có ba con quạ rời tổ bay theo các ngài qua các nẻo đường như để hộ tống và dẫn đường cho những người thánh. Sau bao ngày vượt núi băng rừng hiểm trở đoàn người qua thành phố Casinum và bắt đầu lần theo con đường đá lởm chởm để lên đỉnh núi, nơi có sẵn một thành lũy. Trên đó có hai điện thờ thần Jovê và Apôlô của lương dân miền sơn cước. Đi thẳng vào hậu cung, thánh nhân đập vỡ các tượng thần, xô đổ bàn thờ và bắt đầu giảng thuyết cho dân chúng miền đó.

Bầu nhiệt huyết tông đồ của thánh nhân đã làm cho quỷ hết sức phẫn nộ. Nhiều lần chúng đã hiện hình để dọa nạt hoặc phát ra những tiếng kêu gầm thét đầy uất ức căm hơn. Nhưng xét cho cùng đó chỉ là dịp cho người tôi tớ của Chúa lập thêm nhiều chiến công mới mẻ. Người ta phải khởi công kiến thiết nhà dòng giữa bao khó khăn, cản trở hằng tiếp diễn không có sức lay chuyển nổi: khi thì một ngọn lửa bùng lên trong bếp như đe dọa thiêu rụi cả nhà, có lúc một bức tường xây bỗng đổ đè chết một thầy dòng. Nhưng đối với tất cả những mưu chước thâm độc của ma quỷ kia, thánh Biển Đức nhờ ơn Chúa cho làm phép lạ đều toàn thắng vẻ vang.

Cùng với đặc ân làm phép lạ, Chúa cũng ban cho thánh nhân ánh sáng để thấu rõ những bí mật của lòng người, biết trước công việc xảy ra như nhìn thấy trước mặt vậy. Vua Totila, vì nghe nói thánh nhân có tài tiên tri, muốn thử xem lời đồn đại đó thực hư thế nào. khi đã xin được tiếp kiến thánh nhân, nhà vua liền cử Riggo vận các thứ hoàng phục, giả làm vua đến gặp thánh nhân thay mình. Khi vị sứ giả kia còn ở đàng xa nhưng đã có thể nghe rõ tiếng được rồi, thánh nhân nói lớn tiếng có ý cho ông nghe thấy: “Này ông, hãy cởi bỏ tất cả những đồ ấy đi, ông mang những thứ đó thì không hợp đâu”. Nghe những lời đó, Riggô ngã ngửa ra và run sợ vì đã cả dám đánh lừa một vị đại thánh; rồi ông trở về thuật lại cho vua Totila nghe mọi điều. Tới lượt nhà vua đích thân đến gặp thánh nhân, dù thấy người của Chúa còn ngồi ở xa nhà vua đã vội sấp mình chào kính, thánh Biển Đức phải hai ba lần lên tiếng: “Xin mời vua đứng lên”. Vua Tôtila vẫn không dám; thánh nhân phải tới nâng vua dậy. Sau đó ngài nghiêm trang khiển trách những hành động bất chính của nhà vua và nói cho vua biết trước mấy điều sẽ xảy ra. Ngài nó: “Vua đã và đang làm nhiều việc tai ác. Thôi, từ nay xin đức vua bớt đi. Đức vua sẽ vào được thành Rôma và vượt biển, nhưng đức vua sẽ chỉ trị vì được chín năm thôi, năm thứ mười, Đức Vua sẽ băng hà”. Vua Totila rất hoảng hốt, vội xin thánh nhân cầu nguyện cho mình, và lời tiên báo của Ngài cứ lần lượt thực hiện từng điểm.

Còn rất nhiều phép lạ khác mà chúng tôi không thể kể hết ra đây chứng tỏ thánh nhân thấu suốt mọi sự kín nhiệm, đọc được những tư tưởng thầm kín của mỗi người.

Mấy câu chuyện cảm động sau đây còn minh chứng thánh Biển Đức giầu lòng tin cậy nơi Chúa và có tinh thần khó khăn đến mức nào. Năm 339, nước Ý phải cơn đói kém lớn lao chưa từng thấy; nhân dân khắp nơi đều phải điêu linh khổ sở túng đói. Kho lẫm của tu viện thánh Biển Đức cũng đến ngày hết sạch cả lương thực: ngày kia chỉ còn có năm cái bánh để cho cả nhà hàng trăm người dùng bữa. Thấy các thầy ai cũng rầu rầu mặt, vị tu viện trưởng khả kính liền buông lời trách mát các thầy vì thiếu lòng tin tưởng. Ngài nói: “Sao các anh em buồn rầu vì thiếu bánh? Ngày hôm nay chúng ta còn ít, thì ngày mai chúng ta sẽ lại có dư dật”. Hôm sau quả thấy có hai trăm thùng bột mì đựng trong các bao mà không ai biết là Thiên Chúa toàn năng đã sai ai đem đến. Các tu sĩ ai nấy dâng lời cảm tạ Chúa và từ đấy không bao giờ lo phải túng thiếu cả khi trời làm đói kém, mất mùa cũng vậy. Lần khác có một người bị truy tố vì không có tiền trả một món nợ cấp bách. Ông tỏ bày tình cảnh của mình với vị Tu viện trưởng Biển Đức và xin Ngài thương giúp: Thánh nhân trả lời mình không thể có lấy được 12 đồng vàng cho ông, rồi Ngài tiếp thêm để an ủi: “Ông cứ về và hai ngày nữa trở lại đây, vì hôm nay không có để mà cho”. Trong hai ngày đó thánh nhân cầu nguyện nhiều; ngày thứ ba con nợ trở lại, người ta thấy trên mặt hòm vẫn chứa bột mì có 13 đồng vàng. Thánh nhân bảo người nhà đem trao cho con nợ tội nghiệp kia và nói: “Ông hãy lấy 12 đồng mà trả nợ, còn một đồng thì để mà chi tiêu riêng”.

Lòng bác ái của thánh Biển Đức còn khiến ngài làm được những phép lạ có hiệu lực đối với cả những gì thuộc thế gian bên kia nữa. Có một tu sĩ vì nông nổi không muốn ở nhà dòng. Thánh nhân khuyên thầy bỏ ý định kia đi vì nghĩ rằng đó là một cám dỗ. Khuyên mãi chẳng được, ngài đành phải để thầy ra đi. Vừa ra khỏi nhà cổng nhà dòng, tu sĩ gặp ngay một con rồng lăm le xé tan thầy. Như một người mất hồn, tu sĩ kia quay gót trở về nhà dòng và hứa không bao giờ còn dám xuất nữa.

Trong một dịp khác khi thánh nhân đi thăm ruộng về, bỗng gặp một người nhà quê tất tưởi ôm xác con đã chết cứng đặt trước cổng tu viện; rồi lại gần ngài nức nở: “Lạy ngài, xin trả lại con tôi! Xin trả lại con tôi!” Người của Chúa ngắt lời ông và nói: “Ô kìa, tôi có lấy con của ông đâu?”. Người nhà quê đáp lại: “Thưa cha nó chết rồi, xin hãy làm cho nó sống”. Rồi ông càng nức nở nài xin và nhất định không trở về nếu con chưa sống lại. Động lòng trắc ẩn thánh nhân nói với ông: “Con ông đâu?”. Người kia lấy tay chỉ về phía nhà dòng và đáp: “Thưa xác nó nằm trước cổng nhà dòng kia”. Thánh nhân đi lại cùng với mấy thầy và ngài bắt đầu quỳ gối cầu nguyện, nghiêng mình trên thi hài của đứa trẻ. Đoạn ngài đứng dậy giơ tay lên trời và nguyện: “Lạy Chúa, xin đừng nhìn xem tội lỗi con, nhưng hãy đoái trông đức tin của người nhà quê khổ sở này và cho con ông ấy sống lại”. Ngài vừa nguyện đoạn thì linh hồn đứa trẻ trở lại thân xác cũ và cậu bé nhỏm dậy trước mắt mọi người. Thánh nhân giắt đứa trẻ trao lại cho cha nó.

Sau phép lạ thi ân đó, thánh nhân biết mình cũng chẳng còn sống được bao lâu vì thời gian và nhất là những hãm mình chay tịnh đã làm cho thân xác ngài tiều tụy. Khoảng 40 ngày sau khi chôn cất cho Scôlastica em gái của ngài, thánh nhân nói cho mấy môn đệ biết ngày giờ mệnh chung của mình cũng đã gần tới, nghĩa là ngài chỉ còn sáu ngày sống nữa. Ngài truyền mở nắp mồ đã dọn sẵn cho ngài cốt để cho các thầy hiểu rằng phương pháp tốt nhất để dẹp tan mối kinh hãi sự chết, chính là luôn luôn suy niệm sự chết và để nó ở trước mắt. Sau đó, ngài bị một cơn sốt nặng nung nấu miên man, khiến sức lực ngài hao kiệt. Tối ngày thứ sáu kể từ khi chịu bệnh, thánh nhân bảo các môn đệ vực mình đến nhà nguyện thánh Gioan Baotixita; ở đấy ngài chịu Mình và Máu Thánh Chúa như của ăn đường một cách sốt sắng. Rồi, nhờ các môn đệ nâng đỡ, vừa gượng đứng dậy giơ hai tay lên trời cầu nguyện, ngài trút hơi thở sau cùng trong khi miệng còn lâm râm một lời kinh sau hết.

Trong ngày thánh nhân từ trần, hai tu sĩ một người ở ngay trong tu viện, một người ở nơi xa cũng thấy một thị kiến như lời ngài đã nói trước khi chết. Họ trông thấy một cái thang dựng thẳng từ chỗ thánh nhân tắt hơi lên tới trời, thang đó phủ đầy thảm nhung có muôn vì sao lấp lánh. Đứng trên đầu thang là một ông già khả kính sáng láng như thiên thần. Vị đó nói với họ rằng: “Đây là đường đã đưa Biển Đức, người con yêu của Chúa lên trời”. Chính nhờ dấu hiệu thánh nhân đã tiên báo đó mà các người ở xa cũng đều được biết ngài đã chết đồng thời với những người hiện diện trong khi ngài tắt thở vậy.

Các môn đệ của thánh nhân đặt xác thầy mình bên cạnh xác em gái ngài, trong mộ ngài đã dọn sẵn cho mình ở dưới bàn thờ thánh Gioan Baotixita.

Cuộc đời trần thế của thánh nhân tới đây kết liễu, nhưng danh thơm và sự nghiệp vĩ đại của ngài sẽ còn tồn tại như bia đá ngàn thu. Người ta quên sao được bộ Quy luật bất hủ của ngài đã làm hứng khởi bao tâm hồn đạo đức, là cương lĩnh cho những ai muốn nên thánh thiện. Đàng khác, sự tiến phát mau lẹ của dòng và hãy còn đông đảo rải rác khắp năm châu kia chính là dấu Chúa Quan Phòng hằng chúc phúc cho sự nghiệp của Đấng thánh qua muôn thế hệ.