Hạnh Các Thánh


Ngày 10 tháng 7

BẢY ANH EM THÁNH TỬ ĐẠO

THUỘC GIÁO ĐOÀN RÔMA

“Con hư tại mẹ”, “Phúc đức tại mẫu!” Hai câu tục ngữ vắn tắt nhưng rất thâm thúy đã nói lên đầy đủ sứ mệnh cao cả và ảnh hưởng sâu xa của người mẹ trong việc giáo dục con cái, nhất là về phương diện tinh thần và đời sống đạo đức. Ảnh hưởng tốt đẹp đó của người mẹ cũng đã được chính các tác giả Phúc âm kín đáo ghi lại trong những câu tương tự: “Phúc cho dạ đã cưu mang Ngài”, “Phúc cho vú đã cho Ngài bú” (Lc 11, 27-28) phải chăng là hiệu quả tốt đẹp của bí tích hôn nhân mà Chúa đã ban cho nhân loại!

Tiểu sử bảy anh em thánh Tử Đạo, và thân mẫu các ngài dưới đây là tiếng nói hùng hồn minh chứng mối liên lạc mẫu tử vô cùng chặt chẽ và huyền diệu ấy!

Sử liệu không cho chúng ta biết đích xác về đời sống, nhất là tổ quán và ngày sinh các vị. Tuy nhiên theo tương truyền và dựa vào mấy tác phẩm ít giá trị lịch sử, chúng ta cũng tạm có một vài nét về đời sống các thánh như sau.

Bảy anh em đó quí danh là Phêlici, Philiphê, Vitalô, Alesxanđê, Sinvano, Gioan Viêrô và Macxianô đều thuộc gia đình trung lưu. Sớm mồ côi cha, bảy anh em chỉ sống nhờ bàn tay tần tảo của người mẹ hiền, bà Phêlicita. Quả thế, dù tấm khăn tang sớm chít lên đầu tám mẹ con, họ vẫn không giảm lòng kính sợ Chúa! Nếu một đàng nhờ ơn Chúa và đức tin anh dũng, bà Phêlicita can đảm chịu đựng, một bàn tay nuôi dưỡng bảy mặt con côi và dạy cho chúng biết yêu mến Chúa, yêu người, thì mặt khác, bảy con bà cũng ngoan ngoãn lớn lên với nhiều đức tính tốt đẹp, như yêu việc đạo đức, mau mắn vâng lời, và biết nhường nhịn nhau. Ngắm nhìn bầy trẻ ngoan ngoãn ấy, bà quả phụ kia hẳn phải sung sướng và yên ủi biết bao! Lời thú nhận sau đây của bà vú già sẽ minh chứng một phần nào cho lời quả quyết trên: “Trong những đêm khuya thanh vắng, lúc các con đã triền miên trong giấc điệp, bà Phêlicita cầm đèn soi từng nét mặt con và thầm nguyện với Chúa: “Lạy Chúa, đây là những bông hoa Chúa trao cho con vun tưới, xin Chúa gìn giữ đừng để một bông hoa nào bị gió đời làm tan nát, xin Chúa dùng sương trời là ân điển Chúa ấp ủ chúng luôn thắm sắc đậm hương để chúng luôn vừa mắt Chúa. Ước gì chúng được Chúa hái về lúc vừa độ nở! Sau đó, bà đặt lên má mỗi con một cái hôn đượm tình mẫu tử”.

Bà Phêlicita sung sướng tưởng rằng cảnh gia đình hạnh phúc ấy sẽ êm trôi theo thời gian! Nhưng tới năm 160 thời Hoàng đế Antôniô, cơn gió bách hại lại bắt đầu thổi mạnh khiến người Công giáo phải trải qua những ngày cùng quẫn, cha lìa con, vợ mất chồng, của cải và gia đình tan tác! Trong cuộc bách hại này, tám mẹ con bà Phêlicita lại được diễm phúc Chúa chọn làm chứng nhân lịch sử cho dòng máu đức tin. Mặc dầu không hoàn toàn đồng ý với nhau, nhưng theo nhiều tác giả (thánh Grêgôriô Cả, Phêrô Kim ngôn, ông Rossi…), người ta được biết cuộc tử đạo của gia đình hạnh phúc ấy như sau: Vốn thù ghét đạo, lại ghen tương không chịu nổi cảnh êm ấm của gia đình bà Phêlicita, nhiều sư vãi đã mưu mô với chính quyền địa phương bắt tám mẹ con bà Phêlicita đem nộp cho Hoàng đế Antôniô. Hoàng đế ban thưởng cho bọn họ và truyền trả tám mẹ con bà về cho ông Đô trưởng Rôma tên là Publiô. Bắt được tám mẹ con bà Phêlicita, ông Đô trưởng vui như người thấy của, vì từ lâu ông đã muốn hãm hại mà chưa có dịp. Thì nay dịp đã đến, ông quyết thẳng tay triệt hạ.

Hôm ấy trời nắng như thiêu. Công trường chật ních khán giả đủ mọi thứ tuổi và giai cấp. Họ đứng lặng thinh, đôi mắt mở rộng nhìn thẳng về khán đài, theo dõi từng chi tiết sự việc xảy ra! Chủ tọa phiên toà đặc biệt hôm nay, dĩ nhiên là ông Đô trưởng Pôbliô. Với dáng điệu ngạo nghễ của một tham quan, ông trừng trộ đe dọa bầy trẻ! Không nao núng, nhưng bình tĩnh như một tiểu đội anh dũng, tám mẹ con bà Phêlixita xếp hàng theo thứ tự lớn bé nghiêm chỉnh và hân hoan đứng đối diện với quan toà. Tám mẹ con sỉ lượt nhau trả lời những câu hỏi của quan toà một cách đanh thép. Các ngài cương quyết chịu khổ hình hơn chối từ Thiên Chúa. Thấy không dọa nổi các chàng trai trẻ ấy, ông Đô trưởng quay lại hất hàm nói với bà Phêlicita: “Bà hãy nghĩ thương đến bảy con trai của bà, chúng còn trẻ, khôi ngô và có nhiều dấu đáng được Hoàng đế ban lộc sau này, tương lai tươi đẹp đang chờ chúng. Bà đừng nhẫn tâm để chúng phải chết oan giữa tuổi hoa niên! Mỉa mai thay lòng thương con của bà! Và vô đạo thay những lời bà khuyên can chúng”. Không đếm xỉa gì đến lời quan toà, bà ngước mắt nhìn các con và dịu hiền nói: “Hỡi các con, những bông hoa của Thiên Chúa, các con hãy ngước mắt nhìn lên trời. Kìa Chúa Kitô với toàn thể thần thánh đang chờ đợi các con. Các con hãy can đảm chiến đấu, cứu rỗi các linh hồn các con và tỏ ra mọi người biết các con trung thành yêu mến Thiên Chúa”.

Tức giận vì thái độ cứng rắn của tám mẹ con, ông Đô trưởng bèn truyền đánh mẹ con bà một trận tơi bời rồi tống vào ngục. Sau đó ông lập biên bản để lên xin Hoàng đế cứu xét. Bản án được tuyên bố ngay hai hôm sau. Theo chiếu chỉ của Hoàng đế, tám mẹ con đều phải xử tử. Nhưng mỗi người phải chết với những cực hình trảm khác nhau: Gioan Viêrô chết lịm dưới cơn mưa roi bằng giây bịt sắt; Phêlici và Philiphê tắt thở vì những ngọn đòn có đanh nhọn; Silvanô bị đẩy từ tháp cao xuống, thân mình nát tươm; còn Alêxanđê, Vitalô và Macxianô bay đầu dưới lưỡi đao sáng quắc của mấy tên lý hình khát máu. Riêng bà Phêlicita, bà vui mừng chứng kiến cuộc tử nạn của các con, bà khóc vì hoan lạc hơn vì đau khổ. Bà cũng được diễm phúc như Thánh Mẫu ngày xưa đứng dưới chân Thánh giá Chúa. Sau cái chết thê thảm của người con cuối cùng, bà cũng được hạnh phúc nhận cành lá tử đạo, và theo các con về hưởng hoa vĩnh cửu. Bà được Giáo hội kính vào ngày 21.11 hằng năm.

Xác bảy anh em thánh Tử đạo được giáo hữu rước về mai táng tại nhiều nghĩa trang địa phương. Theo một văn liệu viết từ năm 336 (của dòng thánh Giêrônimô) thì tại Rôma trong nghĩa địa Priscilla trên con đường đi Salaria có đặt hai mồ thánh Phêlici và Philiphê; trong nghĩa trang Giodani tìm thấy mồ thánh Vitalô, Macxianô và Alêxanđê. Tại nghĩa trang Maximô có mộ thánh Sinvalô, trên đường đi Appia người ta đặt mộ thánh Giovanô.

Ngay từ thế kỷ thứ IV, người ta đã sùng kính các thánh Tử đạo tại những nơi đặt di hài các thánh. Lòng tôn sùng ấy dần phổ biến khắp năm châu và được Giáo hội chuẩn nhận mừng kính vào ngày 10.7 mỗi năm, hầu nêu cao tấm gương anh dũng có một không hai cho mọi anh em thuộc các gia đình công giáo.