Hạnh Các Thánh


Ngày 24 tháng 5

THÁNH GIOAN PRAĐÔ

DÒNG THÁNH PHANXICÔ TỬ ĐẠO

(1565-1631)

Cho tới nay không một văn kiện nào, kể cả cuốn biên niên sử dòng thánh Phanxicô, cho chúng ta biết rõ về đời niên thiếu của thánh Gioan Prađô. Người ta chỉ thấy khắc trên phiến đá dựng bên mồ ngài mấy dòng chữ tóm tắt: “Cha Gioan Prađô sinh năm 1565, tại Morgobresco thuộc nước Tây Ban Nha”. Ngoài ra người ta còn được biết, lớn lên, Gioan theo học tại đại học đường Salamanca và xin nhập dòng Phanxicô đi chân không năm 1584. Sau khi khấn dòng và chịu chức linh mục, cha Gioan được bề trên sai đi giảng đạo. Năm 1620 cha lại được chọn làm bề trên tỉnh dòng, và đặt trụ sở tu viện tại Cadix. Bấy giờ tại Marốc phong trào tòng giáo đang lên mạnh, cha Gioan Prađô dự định một chương trình truyền giáo tại Marốc. Thực ra ngay từ thế kỷ XIII, con cái thánh Phanxicô đã tích cực góp công vào việc làm cho nẩy nở hạt giống Phúc âm tại đó rồi. Năm 1621, cha Gioan Prađô sai hai cha dòng sang giảng đạo, nhưng vì không hợp thủy thổ, các ngài phải trở về sau hai tháng chịu bệnh. Sự thất bại đó không làm thánh nhân nản lòng. Năm 1623, hết nhiệm kỳ làm bề trên tỉnh dòng, cha được giữ chức giám thị tu viện Cadix. Từ đó cha Gioan khẩn khoản xin bề trên cho sang giảng đạo tại Marốc.

Nhưng cha còn phải cầu nguyện và chờ đợi Chúa Quan phòng thu xếp thời cơ thuận tiện. Quả nhiên, Chúa đã gửi dịp may đến cho cha. Số là một bác sĩ công giáo Tây Ban Nha tên là Anrê Camêlô vì có công chữa vua Marốc (vua Abdeldrakek) khỏi bệnh nan trị, nên đã được vua để cho tự do theo đạo và còn ban thưởng chức thượng thư triều đình. Bác sĩ còn được đăïc ân mang vợ con, đầy tớ sang cư ngụ tại hoàng triều. Hơn thế vua lại bằng lòng cho ông mời các cha dòng đến giúp việc truyền giáo cho dân. Cha Gioan đã khôn khéo lợi dụng dịp may đó. Tháng 6 năm 1630, cha được hội truyền giáo đề cử làm trưởng phái đoàn truyền giáo tại Marốc với nhiệm kỳ mười năm. Cha Gioan bấy giờ đã 60 tuổi. Ngài cùng trẩy đi với cha Mátthêu và thầy Ginès. Sau bao ngày vật lộn với trận cuồng phong, ngày 07-12-1630, đoàn truyền giáo cập bến Magagran. Tại đây các ngài được chính quyền địa phương tiếp đãi nồng hậu. Tuy nhiên họ không cho một ai tiến về kinh đô, dù đã có giấy của quan cận thần Anrê Camêlô và chữ ký thị thực của nhà vua. Họ viện lẽ đường giao thông nguy hiểm và tình thế bất an. Buộc lòng phải ở lại, các cha bắt đầu giảng đạo cho dân chúng. Công việc giảng dạy mang lại nhiều kết quả... Nhưng tất cả các ngài đều không bằng lòng về địa điểm truyền giáo; các ngài quyết tâm đi tới nơi đã định. Mọi công việc đã sắp sẵn, chiều ngày 12-3-1631, lúc ngày tàn đêm xuống, hai cha Gioan và Mátthêu kín đáo từ giã thành phố; thầy Ginês giữ nhiệm vụ dẫn đường. Nhưng công việc bị bại lộ. Sau một đêm cực nhọc, sáng hôm sau các ngài bị một đoàn kỵ mã đuổi theo và bắt quay về thành. Đồng thời, một biến cố chính trị xẩy ra: Hoàng đế đương kim xứ Marốc bị người em hạ sát để chiếm ngôi. Thế là chính quyền địa phương càng có đủ lý do bắt giữ các ngài ở lại. Đoàn truyền giáo đành ở lại chờ đợi ý Chúa.

Dầu vậy, cha Gioan không bỏ ý định. Đầu năm 1631, cha đến kinh đô Azemmour sau bốn ngày đường thấm mệt vì đói khát và nóng nực. Niềm vui hiện lên khoé mắt, từng đoàn tín hữu hân hoan ra đón tiếp các ngài... Cha Gioan và cha Mátthêu xin vào yết kiến Vua. Vua Mouleyel Oualid, người sát hại anh để tiếm ngôi, có một đường lối chính trị hoàn toàn đối lập với tiên triều. Khi được vào triều yết nhà vua, các vị thừa sai Phanxicô trình bầy hết lý lẽ xin vua đổi lối cai trị, trả quyền tự do cho ngoại kiều, nhất là quyền tự do tín ngưỡng. Vua nổi giận, nhất định không nhượng bộ, lại còn ra lệnh cấm ngặt các ngoại kiều lưu trú tại bản quốc và trục xuất ngay hai cha Gioan và Mátthêu.

Trong khi chờ đợi giấy hồi hương, các cha dòng lẻn vào giảng và làm lễ tại trại giam Sagène, ngay sát hoàng cung. Được mật báo, cảnh sát vội đến giải tán. Nhưng khi họ vừa giải các cha để tạm giam vào một nơi gần đó, thì một số tù binh công giáo phá rào xông vào mời hai cha trở lại tiếp tục hành lễ. Vì nghĩ đến ích lợi cho đoàn chiên cô độc, các cha can đảm trở lại giữa những lời kinh rất sốt sắng! Thế là chủ nhật lễ Lá năm ấy được cử hành trọng thể ngoài sự dự đoán của mọi người!

Nhưng hôm sau, thứ hai tuần thánh, các cha lại bị bắt và bị tống giam. Sau đó, các ngài bị giải đến vua. Vua nhục mạ các cha bằng cách tổ chức nhiều buổi dạ hội, cho các sư vãi hoặc bọn nô lệ ăn mặc lèo loẹt bẩn thỉu diễn lại cách khôi hài các lễ nghi công giáo. Nhất định không tham dự, các cha nhắm mắt quỳ cầu nguyện, đợi cho tới khi buổi hội giải tán mới hăng hái đứng lên phản đối hành động phạm thượng của nhà vua. Trong nhà giam, các cha phải đeo gông ngồi làm thuốc súng. Tối đến, nhiều giáo dân đút tiền cho lính canh, lẻn vào xin các cha làm lễ. Do đó, ngục thất dần dần trở thành nhà nguyện.

Ba tháng sau, nhắm ngày đẹp trời, vua lại lập phiên toà xử cha Gioan. Vì được báo trước, nên mới tảng sáng dân thành đã chen nhau đứng chật hí trường. Một nhịp trống vang lên lôi kéo gần vạn con mắt nhìn về khán đài, cha Gioan từ từ bước ra sau Hoàng đế và các quan án. Để khai mạc phiên toà, vua tuyên bố với giọng mị dân: “Hỡi thần dân, con các thần minh bất tử, trẫm cảm kích nhìn thấy thần dân quây quần đông đúc tại đây. Phải chăng thần dân đến đây để làm vinh danh các thần minh và tỏ bày lòng trung hiếu với các vị tiền bối. Thần dân hãy cùng trẫm tiêu diệt những kẻ thù của thần minh. Và hôm nay, trẫm tố cáo với thần dân một kẻ thù khác dòng máu: Tên đạo trưởng Gioan Prađô. Đáp lại lời vua là những tràng pháo tay, những tiếng hoan hô cuồng nhiệt của đám đông dân chúng. Vua truyền cha Gioan Prađô phải cắt nghĩa kinh Tin kính. Đầy ơn Thánh Linh, cha cắt nghĩa cách khúc chiết, và hấp dẫn lạ thường. Sau cùng cha kết luận bằng một câu vắn tắt: “Vậy thưa Đức vua và toàn dân, trên vũ trụ này, từ thuở tạo thiên lập địa đến nay, không có đạo nào chân thật bằng đạo công giáo, đạo mặc khải từ trời ban xuống. Vì thế, vô phúc cho những ai ngoan cố, giơ chân đạp mũi nhọn, cúi mình làm nô lệ những thần tượng giả trá mà không biết hân hoan đón nhận Tin mừng Phúc âm của Chúa Kitô”. Không kể gì tiếng quát hách dịch của nhà vua, tiếng hò la đả đảo của dân chúng, cha Gioan hô to: “Vạn tuế Vua Kitô, đạo Công giáo chân thật muôn năm”. Vừa lúc đó một cơn giông kéo tới, dân chúng chen lấn làm mất trật tự. Vua dù tức giận đến thâm gan tím ruột, cũng chỉ kịp truyền đánh đòn cha Gioan rồi cho điệu cha về ngục!

Ngày 21-5-1631, vua lại cho đòi cha đến, ép phải ký nhận tôn thờ thần tượng trước mặt vua và số đông các trưởng lão. Biết lòng vua độc ác, cha chỉ trả lời vắn tắt rồi quay xuống thuyết giáo cho các trưởng lão hy vọng đưa họ về với Chúa. Ai nấy chăm chú đứng nghe. Để thoả lòng tức giận, vua truyền đánh đòn cha, đồng thời một cung thủ bắn một mũi tên vào giữa ngực cha. Một tia máu hồng tươi tung toé khắp căn phòng. Chưa hả giận, vua truyền điệu cha ra thiêu sinh tại đấu trường. Và để báo thù các trưởng lão, vua bắt chính các ông phải thi hành nghị quyết đó. Càng bất mãn với thái độ độc tài và tiểu nhân của nhà vua, các trưởng lão càng có nhiều thiện cảm với thánh tử đạo. Trên đường đưa thánh nhân ra đấu trường, họ đã xin ngài ban phép rửa tội cho họ. Đó là những bông hoa đầu mùa nhờ máu thánh tử đạo. Đến nơi, các đao phủ trói cha đứng trên đống củi khô. Ngọn lửa mỗi lúc một bốc cao nhưng cha Gioan vẫn sống nguyên vẹn, mọi người bỡ ngỡ, coi đó là một phép lạ chứng tỏ uy quyền của Chúa người công giáo. Tin đến tai vua, vua hoảng hốt sợ dân chúng náo động, liền ra lệnh cho một tên lý hình hung bạo cầm búa xông vào đập vỡ sọ thánh tử đạo.

Xác thánh Gioan Prađô được các tù nhân công giáo lấy trộm đem táng trong một hang đá gần đấu trường. Đến sau người ta rước di hài thánh nhân về Tây Ban Nha và an táng tại nhà thờ thành Sévilla. Sau lại mang về thánh đường Compostella. Cha Gioan Prađô được Đức Giáo Hoàng Biển Đức XIII tuyên phong bậc Á thánh. Ngày 24-5-1728 Đức Giáo Hoàng Biển Đức XIV lại truyền ghi tên cha Gioan Prađô vào sổ các vị hiển thánh tử đạo và mừng lễ vào ngày 24-5 hằng năm.

Thánh Gioan Prađô thực là người tài đức và can đảm. Suốt đời ngài đã hăng hái lo việc truyền giáo. Chúng ta hãy xin Chúa, nhờ lời bầu cử của thánh nhân cho chúng ta được một tinh thần truyền giáo như ngài, để có thể đem Chúa Giêsu đến trong mọi cảnh vực và sinh hoạt của xã hội, nhờ những hoạt động tông đồ nhưng nhất là bằng chính gương mẫu đời sống công giáo của chúng ta.