Hạnh Các Thánh


Ngày 19 tháng 5

THÁNH  PHÊRÔ CÊLESTINÔ GIÁO HOÀNG

(1212-1296)

Đức Giáo Hoàng Cêlestinô tên thật là Phêrô, chào đời khoảng năm 1212 tại miền Puila ở về phía bắc kinh thành Napôli. Cha mẹ ngài, ông Angêlê và bà Maria là những giáo hữu đạo đức. Ông bà rất thận trọng trong việc giáo dục và làm gương sáng cho con cái, vì thừa hiểu rằng ảnh hưởng của gia đình, nhất là của người mẹ đối với con trẻ, sẽ là một yếu tố quan hệ trong việc duy trì lòng đạo hạnh và phát huy những khả năng luân lý của con trẻ sau này.

Hai ông bà sinh hạ cả thảy được mười hai người con; Phêrô là con thứ mười một được nhiều người chú ý hơn cả, một phần vì những câu truyện mộng mị của bà Maria, một phần vì những lời đồn thổi của bà con lối xóm; người thì quả quyết rằng đã được xem thấy thiên thần bản mệnh của Phêrô hiện đến quở trách cậu lần kia khi phạm lỗi; còn bà Maria thì kể lại rằng có lần bà mơ thấy con mặc áo trắng toát chăn một bầy chiên đông đảo, con nào con ấy lông trắng bong như tuyết.

Cho đó là những dấu lạ có liên hệ đến tương lai của con, bà Maria càng để ý chăm lo giáo dục con một cách chu đáo hơn. Mỗi khi Phêrô phạm lỗi, bà nói cho con biết lỗi nặng nhẹ rồi tùy đó mà ra hình phạt; bà dậy con học đọc Thánh vịnh trước khi cho con đi nhà trường.

Nhờ nền giáo dục đạo đức của mẹ, nên vừa lớn lên Phêrô đã bắt đầu sống như một tu sĩ dòng. Theo gương những vị thánh thời đó, Phêrô chỉ muốn băng mình sống cuộc đời nhiệm nhặt và khắc khổ. Thế nên ngài nhất quyết bỏ nhà vào tu trong rừng vắng, để có thể dễ dàng thực hiện đường lối nên thánh đó.

Trước khi bước vào rừng, Phêrô còn có dự định hành hương Rôma để được xem tận mắt những lâu đài cổ kính và những di tích thánh tại giáo đô. Nhưng ý Chúa Quan phòng lại muốn cho Phêrô phải vào rừng tu luyện trước khi được đặt chân tới kinh thành muôn thủa; cũng như dân Do thái xưa phải qua bao thử thách cực nhọc, dòng dã bao năm trời mới được tiến vào Đất hứa. Vì thế trên đường tới Rôma, Phêrô bị cản đường vì một con sông. Gặp lúc nước dâng lên to lại không có thuyền bè đi lại, ngài đành phải lui gót tới một khu rừng gần đó. Nơi đây ngài bắt đầu thực hiện cuộc sống ẩn tu đã bao năm mơ ước. Ngài sống trong một hang đá giống như một ngôi mộ cổ và bắt đầu hành hạ thân xác bằng đủ mọi cực hình. Ngài mặc áo nhặm, nằm trên đá, ăn ít, ngủ ít, còn bao nhiêu giờ ngài dành để suy niệm và cầu nguyện.

Cuộc sống khổ hạnh của vị tu hành đã làm cho quỷ dữ phải ghen tương. Vì thế chúng cố gắng khuyên giục ngài từ bỏ cuộc đời khắc khổ thái quá nơi rừng vắng, vì sống như vậy tức là tự sát. Đồng thời chúng bày vẽ trong trí ngài những hình ảnh xấu xa để cám dỗ ngài lỗi đức trinh khiết. Những giờ phút đen tối đó xẩy đến nhiều lần trong suốt ba năm. Tuy nhiên trong thời gian thử thách đó, thỉnh thoảng Chúa cũng gửi tới những món quà nhỏ. Người sai thiên thần xuống yên ủi vỗ về thánh nhân kiên nhẫn trong ơn nghĩa Chúa.

Dần dần ảnh hưởng và lòng đạo đức của thánh nhân vượt ra khỏi cánh rừng nhỏ bé ấy và lan tràn tới khắp các miền lân cận. Không bao lâu từng đoàn người kéo tới thăm viếng ngài, để đuợc đàm đạo với vị thánh, hoặc để xin ngài cầu nguyện cho. Thấy ngài sống rất nhân đức như thế, nhiều người đã tỏ ý kiến khuyên ngài nên trở về chịu chức linh mục, để có thể mưu ích cho nhiều người hơn. Sau một thời gian suy nhĩ, ngài thuận theo và lên đường về Rôma xin chịu chức linh mục.

Thụ phong linh mục rồi, thánh nhân xin nhập dòng Biển đức. Lúc đó ngài đã gần sáu mươi tuổi. Bề trên dòng chấp thuận cho ngài tiếp cuộc sống ẩn tu như trước. Lúc này càng trở về già, thánh nhân càng ao ước tìm nơi thanh vắng để dễ sống kết hiệp với Chúa và dọn mình chết. Ngài chọn một địa điểm gần Solmona trên đồi Murrone làm nơi tĩnh tu, và sống ở đó suốt năm năm trời với bao khổ cực. Qua năm năm ngài lại bỏ Murone lên đường tới miền núi Majella để được chịu cực khổ hơn nữa vì lòng mến Chúa. Nơi đây thánh nhân cất hai túp lều nhỏ. Nhưng rồi người ta vẫn tìm đến với ngài. Nhiều người đã khuyên ngài nên bỏ đó mà đi nơi khác vì đất đai ở đây lắm sành sỏi không thể cầy cấy gì được. Nhưng ngài nhất quyết ở lại vì linh cảm thấy rằng Chúa muốn cho ngài thiết lập ở đây một dòng mới thuộc chi nhánh của dòng Biển đức.

Thánh nhân bắt đầu xây dựng tu viện, và danh tiếng ngài càng được nhiều người biết đến không những vì ngài đạo đức thánh thiện, nhưng còn vì những câu chuyện lạ có liên can đến ngài.

Người ta kể rằng lần kia trong thánh lễ sau khi ngài đọc lời truyền phép đoạn, bỗng mọi người ai nấy đều nghe thấy tiếng chuông êm ái, reo vang như mời gọi mọi người thờ lạy Chúa trong Thánh Thể, dẫu rằng trong nhà thờ lúc đó không một ai đã rung chuông.

Lần khác chính thánh nhân cho hay nhằm ngày lễ dâng hiến nhà thờ tu viện, ngài nhìn và nghe thấy một đoàn thanh niên trẻ đẹp đang xì xào với nhau: “Chúng ta hãy dâng hiến thánh đường này”; đồng thời tự thánh đường vang lên những tiếng hát du dương. Còn đang kinh hoàng trước sự lạ đó, thì ngài được Thiên Chúa cho biết đó là ca đoàn thiên thần được lệnh tới ca mừng cho thêm phần long trọng.

Thấy công việc của ông già ấy cứ mỗi ngày một xúc tiến mạnh mẽ có thể gây hại cho đạo quân hỏa ngục, quỷ Satan liền biệt phái cả một đoàn binh đến quấy phá tu viện của thánh nhân. Chúng hiện hình thành những người đen đủi dữ tợn, kêu la những tiếng ghê hồn. Chúng hành hạ nhiều tu sĩ tới ốm đau. Nhưng rồi nhờ lời cầu nguyện của thánh nhân, các tu sĩ dưới quyền ngài đều lĩnh được ơn Chúa để can đảm chiến đấu với mưu mô của quỷ dữ.

Mọi thử thách dần dần cũng qua đi và cơ sở của tu viện một phần nào đã khá vững chắc. Thánh nhân bắt đầu nghĩ đến việc soạn thảo hiến pháp để củng cố tinh thần tu viện. Hiến pháp của dòng ngài phỏng theo một phần lớn trong bộ quy luật của dòng Biển đức. Vì thế người ta đã gọi dòng ngài thuộc chi nhánh của dòng Biển đức. Thánh nhân cũng bổ túc thêm một số luật mới để giúp các tu sĩ sống đúng luật bác ái hơn.

Để nêu gương cho các tu sĩ, tu viện trưởng Phêrô sống một đời sống rất hoàn hảo và khắc khổ. Thường thường giữa đêm khuya khi vạn vật còn đang yên giấc, thì ngài đã thức dậy, nằm phục dưới đất cầu nguyện với nước mắt. Ngài dùng roi da đánh tội, rồi quỳ cầu nguyện cho tới sáng. Vì quỳ nhiều đến nỗi da đầu gối của ngài hóa thành chai và dầy như da trâu vậy. Ngài chỉ ăn mỗi ngày một bữa, thường là bữa chiều. Mùa chay, ngài thường nhịn ăn ba ngày liền, tới ngày thứ tư mới chịu dùng chút bánh với rau sống. Ngài thực hành những cuộc tam nhật tuyệt thực như thế nhiều lần trong mùa chay. Ban ngày người ta thấy ngài ra đồng cầy ruộng hoặc cuốc đất trồng cây; không lúc nào người ta bắt gặp được ngài ở không.

Vì số người tuôn đến với ngài cứ mỗi ngày một đông, nên buộc lòng thánh nhân phải xây cất thêm nhiều nhà chi nhánh khác ở nhiều nơi. Không bao lâu tu viện của ngài đã đạt tới con số kỷ lục là 36 nhà với 600 tu sĩ.

Trong khi đó ngôi Giáo Hoàng từ bao lâu vẫn trống. Vì từ sau khi Đức Giáo Hoàng Nicôla IV băng hà ngày 04-4-1292, việc bầu tân Giáo Hoàng mãi vẫn không có kết quả. Rồi không may những cơn nhiễu loạn và dịch tễ lại xẩy đến khiến các Đức Hồng Y phải tản cư đi Pêrusa. Tình trạng đó kéo dài tới năm thứ hai. Toàn thể Giáo hội nóng lòng sốt ruột mong có Giáo Hoàng mới mà các Hồng Y thì vẫn bất đồng ý kiến với nhau hoài. Thế rồi một ngày kia, Đức Hồng Y ở Ostia kể cho các Hồng Y nghe rằng ngài đã gặp một vị thánh ở vùng gần đấy mà người ta nói là hay làm phép lạ. Vị thánh nói cho Đức Hồng Y biết rằng Thiên Chúa đã báo cho ngài hay Người sắp ra tay công thẳng phạt Giáo hội nếu tình trạng đó còn cứ kéo dài. Các Hồng Y hoảng sợ vì lời tiên báo đó và nghĩ rằng chỉ có vị thánh ấy mới giải quyết nổi việc này. Thế là ngày 05-7-1294, tất cả mười một Hồng Y đã hội nhau để đồng ý kêu cầu đến vị thánh đó: người đó chính là Phêrô, nhà tu hành ở núi Murone.

Các ngài phái người đến hỏi ý kiến thánh nhân xem có ưng nhận không. Thoạt trông ai nấy đều ngạc nhiên vì thấy đó là một ông lão đã hơn 80 tuổi, diện mạo khô khẳng, gầy còm và ăn vận rất là khó khăn. Vừa nghe tin đó, thánh nhân hết sức lo sợ; ngài chỉ muốn cao chạy xa bay mong thoát khỏi trách vụ nặng nề của một vị chúa chiên tối cao... Nhưng rồi vì mọi người quá khẩn khoản, nên ngài đành lòng ưng nhận vậy.

Ngày lễ đăng quang được tổ chức rất linh đình trọng thể. Người ta càng cố gắng đề cao Đức tân Giáo Hoàng bao nhiêu thì ngài càng hạ mình khiêm tốn bấy nhiêu. Trên con đường vào thành Rôma dân chúng đứng chật ních để hoan hô vị đại diện Chúa Giêsu. Trong khi đó ngài khiêm tốn cưỡi trên một con lừa để bắt chước Chúa Giêsu xưa khải hoàn vào thành Jerusalem. Trong lễ đăng quang người ta thấy có sự hiện diện của vua nước Hungari và nhiều nhân vật quan trọng của nhiều nước. Ngài lên ngôi lấy hiệu là Cêlestinô V. Nhân dịp này, Đức tân Giáo Hoàng rộng tay ban phát các bổng lộc thiêng liêng và trần thế cho nhiều người.

Tuy được cất nhắc lên địa vị cao, Đức Cêlestinô V vẫn sống một đời khó khăn, khổ hạnh như trước. Ngài vẫn đánh tội, ăn chay, cầu nguyện lâu giờ như khi còn làm bề trên tu viện. Những cung điện nguy nga và lâu đài lộng lẫy cũng không làm cho ngài quên được những cánh rừng thanh vắng, trầm lặng nơi ngài đã sống xưa kia. Và để ôn lại những ngày tịch liêu xưa, ngài đã chọn một căn phòng riêng biệt trong dinh thự Castel Nuovo ở Napôli để làm nơi tĩnh tu. Sau khi đã tạm trao việc quản trị giáo hội cho hội đồng Hồng Y, Đức Cêlestinô V rút vào phòng tĩnh tâm một thời gian bốn mươi ngày để dọn mình mừng lễ Giáng sinh.

Vì thiếu sự lãnh đạo khôn ngoan và sáng suốt của Đức Giáo Hoàng, nội bộ các Hồng Y lại rơi vào tình trạng “lủng củng” làm dịp cho bao lạm dụng và những thói hư nết xấu khác mọc lên trong Giáo hội. Trước tình trạng đó, Đức Cêlestinô V rất đau phiền đến nỗi ngài đã phải than thở: “Ôi lạy Chúa, trong khi con coi sóc, dẫn giắt linh hồn mọi người thì chính con lại bỏ mất linh hồn mình...” Và ý nghĩ muốn thoái vị đã bắt đầu ám ảnh tâm trí ngài...

Sau nhiều lần triệu tập các Hồng Y và mật đàm với Đức Hồng Y Cajetanô, Đức Cêlestinô V quyết định bỏ ngai Giáo Hoàng. Đến ngày đã định, ngài triệu tập đầy đủ các Hồng Y rồi trịnh trọng đọc lời tuyên bố từ chức Giáo Hoàng. Tuyên bố đoạn, ngài liền xuống khỏi ngai, cởi bỏ nhẫn và phẩm phục Giáo Hoàng, ngài khiêm tốn quỳ trước mặt cử toạ. Trước cử chỉ hạ mình đó, các Đức Hồng Y không sao cầm được nước mắt, nhưng cũng có vị lại mừng thầm trong bụng... Trên đường Đức êlestinô V về tư thất, Thiên Chúa đã chuẩn nhận lòng khiêm tốn của người tôi tớ Chúa bằng một phép lạ mà mọi người đều mục kích: một người què quỳ xuống chân Đức Cêlestinô V để xin ngài ban phép lành; Đức Thánh Cha đỡ anh dậy và nói: “Đứng lên con, đứng lên con”. Tức thì anh hết tàn tật.

Từ chức Giáo Hoàng rồi, ngài xin phép Đức tân Giáo Hoàng, bấy giờ là Đức Hồng Y Cajetanô, hiệu là Bôniphaxiô VIII vừa trúng cử để được trở về rừng tu như trước. Đức Giáo Hoàng không chấp thuận, ngài đành phải vâng lời ở lại giáo đô. Nhưng đến sau vì không chịu được cảnh nhộn nhịp của đô thành, ngài buộc lòng phải làm trái ý Đức tân Giáo Hoàng. Đêm đến, thánh nhân lẩn trốn vào rừng để tiếp tục cuộc sống tu hành. Sáng ngày thấy ngài đã đi biệt, Đức Bôniphaxiô VIII liền cho người đuổi theo mời ngài về sống ở một nơi thanh vắng như ý ngài muốn. Ngài rất sung sướng vì được sống ở nơi cô tịch đó với hai tu sĩ làm bầu bạn. Vì không quen với lối sống của ngài, hai tu sĩ đã ngã bệnh, còn thánh nhân trái lại không tỏ một lời than vãn bao giờ trong suốt thời gian 11 tháng sống ở đấy. Chủ nhật Lễ Hiện Xuống, sau khi làm lễ đoạn, ngài cảm thấy đau nhức ở cạnh sườn. Y sĩ xem mạch và nói bệnh ngài trầm trọng vô phương cứu chữa. Thứ bẩy ngày 19-5-1296, thánh nhân từ trần trong khi miệng còn đang hát Thánh vịnh; ngài hưởng thọ 87 tuổi. Thi hài ngài được mai táng cách trọng thể trong thánh đường thánh Antôn Ferentino là giáo đường do chính tay ngài xây cất.

Nhiều phép lạ đã xảy ra nơi mộ Đức Cêlestinô V biến nơi đó thành một trung tâm hành hương danh tiếng. Năm 1327, xác thánh nhân được đem về nhà thờ thánh Maria Colemaggio ở Aquilêa là nơi ngài đã được tấn phong Giáo Hoàng. Đức Giáo Hoàng Clêmentê V phong thánh cho ngài và truyền mừng lễ kính thánh Cêlestinô V vào ngày 19-5 hằng năm.

Lạy thánh Cêlestinô Giáo Hoàng, xin cho chúng con biết noi gương ngài: lấy đức khiêm nhường làm hơn danh vọng và biết chê bỏ mọi sự giả trá thế gian hầu được phúc chiếm đoạt phần thưởng Chúa đã hiến cho những kẻ khiêm nhường.