Hạnh Các Thánh


Ngày 09 tháng 01
  THÁNH JULIANÔ VÀ THÁNH NỮ BAZILISSA
TỬ ĐẠO

THÁNH JULIANÔ

Thánh Julianô và bà Bazilissa là hai gương mẫu xán lạn cho những ai muốn sống cuộc đời hôn nhân thánh thiện. Cả hai đã cùng nhau tận hiến cuộc đời, làm chứng đức tin và tôn vinh Thiên Chúa.

Thánh Julianô sinh tại Antinôê vào cuối thế kỷ thứ ba, trong một gia đình sang trọng và đạo đức. Julianô được cha mẹ chuyên tâm dậy dỗ. Ngay khi mới hơn mười tuổi, cậu đã theo khoa hùng biện; với trí khôn sắc sảo, Julianô tiến rất nhanh về mọi môn, đặc biệt về văn chương hi lạp và La tinh. Nhưng điều quý báu hơn cả là dù sống trong một gia đình sung túc, trong một xã hội luân lý đồi bại, Julianô vẫn giữ lòng trinh sạch, tính tình đơn sơ và cần mẫn. Ngài thích đọc truyện các thánh tử đạo và thư thánh Phaolô. Vì thế, càng uyên thâm nền học vấn, thánh nhân càng hâm mộ đời sống nhân đức. Ngay thiếu thời, ngài đã tận hiến cho Chúa, hứa quyết dâng mình làm bông hoa trinh khiết trọn đời

Khi lên mười tám tuổi, cha mẹ Julianô vốn tính nhân đức, sợ con sa ngã vào đường trụy lạc, nên ép ngài kết bạn. Ông thân sinh tỏ cho con hay những nguy hiểm của tuổi thanh niên và những dự định xây dựng cơ nghiệp cho con. Julianô, một đàng không muốn làm phiền lòng cha mẹ, một đàng muốn giữ trọn lời đã hứa với Chúa, ngài rất phân vân và muốn xin phép cha mẹ cho hoãn lại bẩy ngày để suy nghĩ. Suốt bảy ngày Julianô xin Chúa và Đức Mẹ cho biết phải làm thế nào để bảo toàn đức trinh khiết mà không trái ý cha mẹ. Đêm thứ bẩy Chúa và Đức Mẹ đã hiện ra trong giấc mơ, dạy Julianô phải vâng lời cha mẹ, và hứa sẽ bảo toàn ơn trinh khiết cho ngài.

Biết ý định của con, ông thân sinh vui mừng hớn hở, và cố gắng kén cho Julianô một người bạn trăm năm vừa duyên dáng vừa giầu sang và nhất là nổi tiếng nết na nhân đức. Thiếu nữ đó tên là Bazilissa… Từ đó Julianô càng cầu nguyện, tin tưởng vào Chúa để vâng lời cha mẹ, chuẩn bị ngày cưới như đã định…

Ngày vu qui linh đình trọng thể, đôi vợ chồng trẻ lần đầu tiên bước vào khuê phòng, cả hai cùng cảm thấy một mùi hương lạ khiến hai người nhìn nhau bỡ ngỡ. Nhưng được ơn Chúa soi sáng, Julianô hiểu là việc của Chúa, liền dịu dàng bảo Bazilissa: “Bazilissa yêu dấu, đó là hương thơm Chúa Kitô, Đấng yêu mến đức đồng trinh. Nếu em muốn được sống mãi trong làn khí ướp hương này, em hãy cùng tôi tận hiến cho Chúa”. Nghe lời dịu dàng và nhân đức của chồng, Bazilissa nhẹ nhàng đáp lại: “Vâng, em rất ước ao thực hiện lời mình nói”. Rồi cả hai quỳ gối hát lời tiên tri xưa: “Lạy Chúa, xin củng cố việc Chúa vừa an bài trong chúng con”. Lập tức cả hai cùng ngây ngất trong một thị kiến, được thấy Chúa Giêsu, Đức Mẹ và nhiều thánh nữ hiện đến, Chúa phán với Julianô: “Julianô, con Cha yêu dấu, thế là con đã toàn thắng”. Rồi Chúa lại nói với Bazilissa: “Hãy đến, hỡi bạn lòng của Cha, hãy đến lãnh nhận triều thiên trinh khiết…” Và từ đó hai người sống với nhau như anh em ruột, ngày đêm chung sức cầu nguyện, và giúp nhau giữ trọn lời đã hứa với Thiên Chúa.

 Sau khi song thân khuất bóng, hai người bạn trẻ chia tay nhau, để dễ bề tiến đức, phần mỗi người tự do làm việc tông đồ cách cụ thể. Không bao lâu, nhà cửa, dinh thự của mỗi người đều trở nên như một nhà dòng sầm uất. Nhiều người nam đến nhận Julianô làm tôn sư hướng đức. Từng đoàn trinh nữ khiêm tốn tùng phục Bazilissa như người mẹ đáng kính. Đôi bạn trinh khiết lâu lâu mới lại gặp nhau, bàn tính công việc và học hỏi nhân đức, công việc của hai người khiến mọi người xin thụ giáo mỗi ngày một đông, cảnh sống mỗi dòng dần thêm phát triển.

Một hôm Bazilissa đến thăm Julianô và kể cho ngài hay thị kiến Chúa đã ban cho mình: “Chúa sắp đưa đoàn con trinh nữ của mình về trời, và sau họ, mình cũng được lĩnh triều thiên vĩnh cửu”. Trở về, thánh Bazilissa hội đoàn con lại, khuyên nhủ lần sau cùng, hầu giúp họ thanh tẩy linh hồn, xứng đáng lãnh nhận phần thưởng Chúa sắp ban. Đang khi thánh nữ khuyên răn các chị, thì một cột lửa xuất hiện, bên trên có hàng chữ: “Hãy đến lãnh nhận phần thưởng Chúa trao ban, hỡi các trinh nữ bạn tình Chúa Kitô”. Và trong vòng sáu tháng kể từ hôm ấy, đoàn trinh nữ đã lần lượt ly trần như lời Chúa đã báo trước.

Thánh nữ ân cần giúp từng chị trong giờ sau hết, để rồi đến lượt ngài cũng được an nghỉ trong bàn tay Thiên Chúa.

Cảm kích trước những sự kiện xẩy ra, Julianô càng thêm lòng tin tưởng, phó thác theo ý Chúa. Năm 311 tổng trấn Maximinô, con người khát máu, đã từng sát hại bao nhiêu tín hữu, và đã chém đầu nữ thánh Catarina thành Alexanđria, đệ đơn xin Hoàng đế Rôma cho phép bắt đạo. Sắc dụ được ban bố, giáo hữu trong miền ông lại qua một phen nguy khốn sau mấy năm thanh bình. Theo sắc dụ, ông truyền cho mỗi gia đình phải lập bàn thờ dâng hương tế thần Jupiter. Đồng thời ông sai một sĩ quan không kém phần hung ác, là Marciô, đem quân đến vây nhà dòng thánh Julianô. Bí kế, Julianô liền hội các thầy lại khích lệ lòng tin Chúa, rồi ra nộp mình cho Marciô. Trước mặt sĩ quan trừng trợ, Julianô tuyên bố: “Tất cả chúng tôi chỉ nhìn nhận có một đức tin, và phục tùng một Chúa duy nhất là Thiên Chúa, Vua toàn thắng dựng nên trời đất”. Tức giận, Marciô không để ngài nói hết, ông truyền trói ngài điệu đi, còn các người khác thì nhốt vào nhà dòng mà thiêu sinh cho thoả hờn. Thế là dinh thự của thánh nhân trở thành đền thờ tận hiến của các bạn anh hùng. Tại đó, Chúa làm nhiều sự lạ để thưởng công các tôi tớ trung kiên của Người.

Cảnh sát điệu Julianô đến với tổng trấn Maximinô. Vừa thấy thánh nhân, ông đã hất hàm nói gằn mấy câu: “Tên phản tặc này, ngươi là ai, tên chi?”. Viên lục sự nhanh miệng thưa; “Thưa tổng trấn, hắn là một Kitô hữu ngoan cố, không chịu vâng lệnh Hoàng đế”. Ngắt lời viên lục sự, thánh Julianô đáp: “Thưa ông, tôi là Julianô, người thờ phượng Thiên Chúa từ 27 năm nay…” Hất hàm, quan tổng trấn nói: “Thôi, trông anh còn trẻ, lại có vẻ ăn học, ta thương, muốn sống thì vâng lời Hoàng đế dâng hương tế thần đi”. Thánh nhân khoan thai đáp: “Quan lớn thương thì tôi cám ơn, nhưng dâng hương tế thần thì tôi không thể làm, vì thần tượng của quan lớn chỉ là những cục chì, những khối đồng không có ích cho nhân loại bằng những cái xanh cái chảo, chỉ ai dại mới dâng hương”.

Tức giận, tổng trấn dạy đánh đòn thánh nhân, rồi giải về trả cho Mariciô. Ba hôm sau, Mariciô dẫn ngài vào chùa để ép ngài dâng hương. Nhưng tới nơi, thánh nhân vừa giơ tay làm dấu thánh giá, tất cả thần tượng đổ vỡ tan tành. Trong số những quân áp giải ngài, có một tên đao phủ chột mắt đã lâu. Chứng kiến việc lạ, y cảm động và nhất quyết xin theo thánh nhân. Được ơn Thánh Linh, Julianô nhân danh Chúa Kitô làm dấu trên mắt y. Lập tức y được sáng mắt và lớn tiếng kêu lên: “Chỉ có Chúa Kitô mà Julianô thờ mới là Thiên Chúa thực”. Không cầm nổi cơn giận, Marciô truyền chém đầu y. Thế là trên trời lại có thêm một quân binh tử đạo.

Chưa thoả giận, Marciô còn ra lệnh đóng gông Julianô rồi giải đi khắp thành nội với hàng chữ đeo trên vai: “Đây kẻ thù của thần linh và Hoàng đế”. Từ các ngả đường, dân thành đứng xem chật ních, trong số đó có cả chàng trai Celsô con riêng của Marciô. Nhờ tâm hồn trong sạch, chàng được Chúa cho thấy nhiều sứ thần yểm hộ Julianô, đặc biệt có hai vị mang một triều thiên lộng lẫy đặt trên đầu thánh nhân, như bị thôi miên bởi sức mạnh thiêng liêng, chàng len lủi trong đám đông chạy đến quỳ trước mặt thánh tử đạo xin nhận đức tin. Thấy việc xẩy ra, dân thành có người bỡ ngỡ, kính phục Thiên Chúa, có người uất giận và nguyền rủa thánh nhân.

Việc đồn đến tai Marciô, ông này không kể tình phụ tử, ký trát tống giam Censô. Nhưng Chúa muốn tán thưởng đức tin của chàng, nên vừa khi Censô bước vào, ngục tù tối tăm và hôi thối bỗng trở nên sáng sủa và nực mùi hương. Việc đó đã lôi kéo 20 người lính gác trở về với Chúa. Nhận đức tin của họ, Chúa liền soi sáng cho một linh mục thành Papô, tên là Antôn, đến ban phép rửa tội cho các ngài.

Marciô không biết xử thế ra sao, bèn làm biên bản báo cáo với tổng trấn. Trong khi chờ đợi, ông còn lập phiên toà xử và dỗ dành Julianô một lần nữa. Nhân có đám tang đi qua, khi phiên toà đang xử, muốn nhục mạ Julianô trước số đông dân thành, Marciô bèn truyền mang xác chết vào, rồi ngạo nghễ bảo thánh nhân: “Nếu ông Giêsu anh thờ là Đấng quyền phép chứ không phải một phạm nhân bị treo trên thập ác, thì anh hãy xin ông ấy làm cho người này sống lại ta xem nào?” Thánh nhân điềm nhiên đáp: “Ánh sáng mặt trời chói lọi nào có làm ích gì cho người mù?” Rồi như không kể chi đến thái độ ngạo mạn và lời nói lộng ngôn của Marciô, thánh nhân quì gối cầu nguyện bên tử thi. Vài phút sau, cả đám đông kinh hoàng nhìn thấy người chết chống tay đứng dậy và dõng dạc tuyên bố: “Chính lúc ma quỉ sắp lôi tôi xuống hoả ngục, thì nhờ lời cầu nguyện của ngài, tôi được sống lại về thế gian để đền tội”. Đoạn ông quì xuống xin thánh nhân ban phép rửa tội.

Khi nghe biết việc đó tổng trấn Maximinô bèn chiếu theo sắc lệnh của Hoàng đế Augustô truyền bỏ các đấng vào vạc dầu sôi. Nhưng phép lạ của Chúa đã khiến các ngài được yên hàn. Lúc đó, bà Maximila mẹ chàng Celsô, vì thương con, lăn xả vào nài con bỏ đạo. Nhưng ai có thể đoán được việc Chúa làm? Lời van thảm thiết của bà đã không lay chuyển được lòng con, trái lại bà phải xiêu lòng trước đức tin và lời lẽ nhân đức của con bà. Kết quả bà chạy đến xin Julianô rửa tội để cùng được tử đạo với con.

Marciô vẫn chưa mềm lòng, ông còn tiếp tục tìm nhiều cách dọa nạt, hành hạ và dụ dỗ các ngài, nhất là thánh Julianô, nhưng vô công hiệu.

Thế rồi một đêm kia, trong lúc đang cùng các bạn hát kinh ca ngợi Thiên Chúa, thì nữ thánh Bazilissa và đoàn trinh nữ hiện đến hát vang khúc nhạc Allêluia, đồng thời báo cho ngài biết giờ toàn thắng đã điểm. Quả nhiên hôm sau vừa tảng sáng, vì sợ dân chúng náo động, Marciô đã truyền lịnh điệu các ngài ra đấu trường làm mồi cho thú dữ. Nhưng khác với bản tính tự nhiên, thay vì gầm thét dữ tợn, đoàn thú dữ kính cẩn đến nằm dưới chân các đấng. Chúng hiền từ như những chiên con, lè lưỡi liếm khô vết thương trên mình các thánh .

Điên cuồng vì sợ hãi và uất hận, Marciô truyền chém đầu các thánh, ông cũng cấm không ai được lấy xác các ngài. Nhưng một trận động đất khủng khiếp xẩy đến, dân thành đều chạy toán loạn… Còn lại mấy người giáo hữu, họ lấy được xác các thánh đem về mai táng trong nhà thờ. Nơi đây Chúa làm nhiều phép lạ, nhất là trên mồ thánh Julianô. Những phép lạ ấy là những bảo đảm việc Giáo hội tôn phong các ngài lên bậc hiển thánh.